VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƢỢC VÀ CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGUYỄN THỊ DUNG
GIẢI PHÁP GẮN ĐÀO TẠO VỚI SỬ DỤNG
NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CỦA TỈNH NINH BÌNH TỚI NĂM 2025
Ngành: Quản lý khoa học và công nghệ
Mã số: 834.04.12
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ THU
HÀ NỘI, 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập
của riêng tôi. Tất cả các số liệu và những trích dẫn trong luận văn đều có nguồn
gốc chính xác và rõ ràng. Những phân tích của luận văn cũng chưa từng được công
bố ở một công trình nào.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
3.1. Định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và vấn đề đặt ra đối với nguồn
nhân lực khoa học và công nghệ ...............................................................................55
3.2. Giải pháp gắn đào tạo với sử dụng nhân lực khoa học và công nghệ ................59
KẾT LUẬN ..............................................................................................................72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................73
Phụ lục ......................................................................................................................76
ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHXH
Bảo hiểm xã hội
CBVC
Cán bộ viên chức
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DN
Doanh nghiệp
ĐHQGHN
Đại học Quốc gia Hà Nội
Nghiên cứu khoa học
NNL
Nguồn nhân lực
SXKD
Sản xuất kinh doanh
UBND
Ủy ban nhân dân
iii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại hiện nay, nhân loại đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão
của cuộc cách mạng KH&CN với những thành tựu hết sức to lớn. Sự phát triển ấy
đã đưa thế giới chuyển sang giai đoạn mới là kinh tế tri thức. Thay đổi này đặt cho
mỗi quốc gia trên thế giới những thời cơ và thách thức mới. Quan niệm phát triển
truyền thống dựa vào tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực rẻ đang ngày càng giảm
bớt vai trò, thay vào đó là lợi thế phát triển KH&CN. Nguồn nhân lực ngày nay
được xem là yếu tố cơ bản, yếu tố năng động nhất, có vai trò quyết định cho sự
nghiệp phát triển nhanh và bền vững của mọi quốc gia. Nền kinh tế này phải có
năng lực trong việc tìm kiếm, sáng tạo và sử dụng tri thức và công nghệ. Những yếu
tố cơ bản của một nền kinh tế tri thức gồm có: Một thể chế kinh tế khuyến khích tạo
làm tỉnh, Ninh Bình đang đứng trước thực trạng thiếu nguồn lao động có trình độ
chuyên môn ở hầu hết các ngành, bởi lao động qua đào tạo hiện nay chỉ chiếm
khoảng 50 - 60%. Trong khi đó, vài năm trở lại đây, nguồn lao động có tay nghề,
trình độ từ trung cấp trở lên được tuyển dụng nhiều, chiếm trên 50% nhu cầu. Trong
đó, các ngành đòi hỏi công nghệ cao như công nghệ thông tin, điện, điện công
nghiệp, điện lạnh, cơ khí, điện tử, viễn thông... thu hút khá nhiều lao động. Dự báo
trong các năm tới, lao động có chuyên môn kỹ thuật cao, lao động lành nghề sẽ
đóng vai trò chủ đạo. Theo các nhà tuyển dụng, các năm tới, nguồn cầu lao động
tiếp tục tăng theo xu hướng cần nhiều nhân lực chất lượng cao, tuy nhiên việc tuyển
dụng lực lượng này rất khó bởi nguồn “cung” không đáp ứng được “cầu”.
Thực trạng trên cho thấy công tác đào tạo NNL KH&CN hiện nay trên địa
bàn tỉnh chưa thực sự có sự gắn kết với việc sử dụng nguồn nhân lực này, mà lý do
của nó một phần xuất phát từ chính các chính sách vĩ mô của tỉnh.
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài: “Giải pháp gắn đào tạo với sử dụng
nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của tỉnh Ninh Bình tới năm 2025”.
Đây là vấn đề nghiên cứu mới, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về
vấn đề giải pháp gắn đào tạo với sử dụng NNL KH&CN của tỉnh Ninh Bình được
công bố và trong phạm vi cả nước cũng có rất ít công trình nghiên cứu đề cập cụ thể
đến vấn đề này cho phạm vi nghiên cứu cấp tỉnh.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Phát triển NNL KH&CN là vấn đề đã được quan tâm nghiên cứu. Ở nhiều
2
nước trên thế giới, các chính sách phát triển NNL KH&CN đã được chú trọng và
đầu tư cho nguồn nhân lực luôn “đi trước” một bước trong quá trình hoạt động
KH&CN. Các nước như Mỹ, Ấn Độ, Singapore, Nhật Bản... được coi là những
nước đi tiên phong và đã có nhiều nghiên cứu về việc thu hút và sử dụng hiệu quả
NNL KH&CN.
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới phát triển nhân
văn đã nghiên cứu trên cơ sở lý luận, thực trạng về NNL KH&CN, tác giả đã đề
xuất các giải pháp phát triển NNL KH&CN về đào tạo, sử dụng, chế độ đãi
ngộ…[6]
- “Nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách quản lý nhằm sử dụng và
phát huy hiệu quả NNL KH&CN trong các đơn vị sự nghiệp của tỉnh Thanh Hóa”.
Luận văn đã nghiên cứu thực trạng NNL KH&CN trong hệ thống các đơn vị sự
nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nhằm đề xuất một số chính sách phát huy hiệu
quả lực lực lượng này phục vụ cho phát triển KH&CN nói riêng và phát triển kinh
KTXH nói chung. [1]
Những công trình nghiên cứu này tương đối sát thực và gần gũi với hoạt
động khoa học của tỉnh Ninh Bình, tuy nhiên do đặc thù điều kiện tự nhiên, KTXH
khác nhau nên chỉ có thể là tài liệu tham khảo quý trong quá trình nghiên cứu đề
xuất một số giải pháp phát triển NNL KH&CN của tỉnh Ninh Bình.
Qua những công trình nghiên cứu của các tác giả đã đề cập ở trên, có thể nói,
đến nay, chưa có tác giả nào công bố các kết quả nghiên cứu về vấn đề giải pháp
gắn đào tạo với sử dụng NNL KHCN trên địa bàn tỉnh Ninh Bình tới năm 2025.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực khoa học &
công nghệ của tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2013-2017, luận văn đề xuất một số giải
pháp chủ yếu nhằm gắn đào tạo với sử dụng để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn
nhân lực khoa học & công nghệ của tỉnh đến năm 2025.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn giải quyết 3 nhiệm vụ sau:
- Tổng quan những tài liệu lý luận liên quan để xây dựng cơ sở lý luận của
vấn đề nghiên cứu;
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng đào tạo gắn với sử dụng nguồn
nhân lực khoa học và công nghệ của tỉnh; đặc biệt là tập trung đánh giá cho giai
4
5
Giai đoạn 2014 -2017 có trên 4.650 HSSV có việc làm. Mẫu tối thiểu để suy rộng
cho tổng thể với sai số là 0,05 thì cỡ mẫu cần là 98. Trên cơ sở cỡ mẫu, tác giả tiến
hành phát phiếu điều tra cho 100 cựu HSSV, chia đều cho cựu HSSV (cao đẳng và
đại học) của 05 cơ sở đào tạo trên địa bàn (20 phiếu/trường); (Phụ lục 1).
+ Khảo sát đơn vị sử dụng lao động: Để kết quả nghiên cứu khách quan,
khoa học hơn, tác giả khảo sát 10 lãnh đạo quản lý (Các cấp từ trưởng phòng đến
thủ trưởng các đơn vị) của 10 đơn vị trên địa bàn tỉnh có sử dụng từ 100 cựu HSSV
trở lên của các cơ sở đào tạo NNL KH&CN trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. (Phụ lục 2)
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Excel 2016
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Hệ thống hóa các lý luận về nhân lực KH&CN và phát triển NNL KH&CN;
đào tạo gắn với sử dụng NNL KH&CN phục vụ cho công tác tra cứu và nghiên cứu
khoa học.
- Là tài liệu tham khảo hữu ích để xây dựng các chính sách thúc đẩy gắn đào
tạo với sử dụng NNL KH&CN phục vụ phát triển KTXH trên địa bàn tỉnh Ninh
Bình.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, kết quả nghiên cứu chủ yếu còn
được trình bày trong 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo gắn với sử dụng NNL
KH&CN
Chương 2: Thực trạng đào tạo gắn với sử dụng NNL KH&CN ở tỉnh Ninh
Bình giai đoạn 2013-2017.
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy đào tạo gắn với sử dụng NNL KH&CN của
tỉnh Ninh Bình tới 2025.
việc cho tổ chức (nguồn dự trữ).
7
Nguồn nhân lực của mỗi tổ chức có những đòi hỏi, yêu cầu riêng tuỳ theo
chức năng nhiệm vụ, tính chất công việc của tổ chức đó. Đây chính là lý do vì sao
mỗi tổ chức phải có chiến lược, kế hoạch phát triển, tạo NNL cho chính mình một
cách hợp lý. Mặt khác, khi NNL xã hội có thể đáp ứng được yêu cầu của tổ chức,
thì tổ chức có thể sử dụng chúng. Cạnh tranh để có được NNL xã hội phù hợp với
yêu cầu của tổ chức là xu thế chung của thế giới trong nhiều năm qua và tiếp tục
thúc đẩy cạnh tranh trong thời gian tới, dưới nhiều dạng khác nhau, như: cạnh tranh
nhân tài, cạnh tranh lao động có tay nghề cao, cạnh tranh lao động có chi phí rẻ,...
1.1.2. Khái niệm về nguồn nhân lực khoa học và công nghệ.
Hiện nay, trên thế giới có nhiều cách hiểu và khái niệm về NNL KH&CN.
Do đó, việc tổng hợp và thống nhất các khái niệm sử dụng là rất cần thiết, vì nó
giúp xác định đối tượng và nội dung nghiên cứu của đề tài luận văn. Hiện nay có
khái niệm về NNL KH&CN được đưa ra bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
(OECD), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO).
1.1.2.1 Theo cách tiếp cận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
Tổ chức OECD là tên viết tắt của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
(Organization for Economic Cooperation and Development), thành lập năm 1961
trên cơ sở Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu (OEEC) với 20 thành viên sáng lập
gồm các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới như Mỹ, Canada và các nước
Tây Âu. Hiện OECD có 34 thành viên, hầu hết trong số đó là các quốc gia có thu
nhập cao. Đây là một diễn đàn dành cho các thành viên, hiện là chính phủ của 34
nước kinh tế thị trường phát triển nhất thế giới cũng như 70 nước không phải là
thành viên, cùng nhau bàn bạc, trao đổi kinh nghiệm để giải quyết các vấn đề kinh
tế cũng như các vấn đề chung khác. Theo cuốn “Cẩm nang về đo lường NNL
KH&CN” của OECD thì nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được
một trong các điều kiện sau:
KH&CN, điều tra, thăm dò, thu thập số liệu về các hiện tượng KTXH, tiêu chuẩn,
chất lượng, dịch vụ tư vấn và lấy ý kiến khách hàng, các hoạt động patent và bản
quyền của các cơ quan công cộng.
Các nhà khoa học là kĩ sư: là những người làm trong các lĩnh vực sử dụng
hay tạo ra kiến thức khoa học hoặc các nguyên lý kỹ nghệ và công nghệ, nghĩa là
những người được đào tạo về KH&CN và làm nghề về hoạt động KH&CN, những
nhà quản lý cấp cao và những người trực tiếp điều hành các hoạt động KH&CN
9
(đối với lĩnh vực nghiên cứu và phát triển, các nhà khoa học là những nhà nghiên
cứu, các trợ lý nghiên cứu trong cả lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và
nhân văn).
- Các kỹ thuật viên: bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi
phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực KH&CN; tham gia
vào NC&PT bằng việc thực hiện những nhiệm vụ KH&CN có áp dụng những khái
niệm và phương pháp vận hành dưới sự giám sát của các cán bộ nghiên cứu;
- Nhân viên hỗ trợ: bao gồm những người có hoặc không có kỹ năng, nhân
viên hành chính văn phòng tham gia vào các nhiệm vụ NC&PT. Trong nhóm này
bao gồm cả những người làm việc liên quan đến nhân sự, tài chính và hành chính
trực tiếp phục vụ công việc NC&PT;
Như vậy, theo quan điểm của UNESCO, thì nhân lực KH&CN là toàn bộ
những người đang tham gia trực tiếp vào hoạt động KH&CN trong các cơ quan, tổ
chức và được trả lương, tiền công.
* Khái niệm nhân lực và nguồn nhân lực khoa học và công nghệ áp dụng
trong luận văn
Có sự khác biệt về cách tiếp cận của OECD và UNESCO trong định nghĩa
NNL KH&CN. Cách tiếp cận của UNESCO chỉ giới hạn ở những người trực tiếp
làm việc trong lĩnh vực KH&CN, trực tiếp tham gia hoạt động KH&CN với mục
đích để xác định đối tượng để xây dựng chính sách sử dụng và bồi dưỡng đào tạo
trường lao động đòi hỏi chất lượng ngày càng cao. Tuy nhiên, không phải đơn
phương cơ sở đào tạo cũng như doanh nghiệp muốn là có được nguồn lao động đó
mà phải có phối hợp, dưới sự hướng dẫn, định hướng của các cơ quan quản lý có
thẩm quyền.
Trước hết phải xác định việc xác lập và phát huy mối quan hệ giữa cơ sở đào
tạo và các cơ sở SXKD vì mục tiêu chất lượng nguồn lao động là thực hiện: "Hoạt
động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết
hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn với thực tiễn…". [9] Theo quan điểm đó, cần
phải có sự kết hợp như đã nêu trên, nhất là đối với giáo dục nghề nghiệp, cao đẳng
và đại học.
11
Mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất là mối quan hệ biện chứng
giữa người sản xuất ra sản phẩm (con người) và người sử dụng sản phẩm. Tuy cùng
một đối tượng, nhưng không đồng nhất, thuần tuý, vì vậy trong chừng mực nhất
định chỉ cần phân tích những khía cạnh nổi bật, đặc trưng sau:
+ Cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất kinh doanh phối hợp trong việc xây dựng
kế hoạch đào tạo và sử dụng qua việc hoạch định chiến lược phát triển của nhà
trường cũng như của đơn vị, xí nghiệp… để xác định nhu cầu nguồn nhân lực trước
mắt cũng như lâu dài, về số lượng, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu nguồn lao động, các
hình thức đào tạo phù hợp.
+ Sự phối hợp giữa nhà trường và đơn vị sản xuất trong việc triển khai xây
dựng mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo theo quy chế chung của các Bộ Giáo
dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hoặc các Bộ chủ quản, quản
lý chuyên ngành. Đây là một yêu cầu xuất phát một cách tự nhiên, bởi vì thực tế đào
tạo trong quá khứ là nhà trường đào tạo những gì mình có, đơn vị sử dụng lao động
khi tiếp nhận lao động phải "đào tạo lại". Những năm gần đây, từ sự phối hợp này
đã xuất hiện nhiều mô hình có hiệu quả, đem lại lợi ích cho các bên, trong đó điều
Do đó để tìm ra được một phương thức đào tạo cho hiệu quả cũng cần phải xét đến
yếu tố con người và xã hội của bản thân khu vực đó.
Đào tạo bao nhiêu? Bao nhiêu ở đây muốn nói đến số lượng con người mà
chúng ta sẽ đào tạo trong một thời kỳ sao cho đủ để đáp ứng nhu cầu sử dụng của xã
hội. Để xác định được một cách chính xác con số này không phải là điều đơn giản.
Con số này không chỉ dừng lại ở con số chung chung cho toàn xã hội mà điều quan
trọng là chúng ta phải xác định rõ xem ứng với mỗi ngành nghề cụ thể con số này sẽ
là bao nhiêu. Đây là điều khiến cho các nhà hoạch định cảm thấy rất khó khăn bởi lẽ
xã hội luôn biến đổi không ngừng, ngành nghề hôm nay thịnh hành thì ngày mai lại
có thể trở nên quá nhàm chán và một ngành nghề mới lại xuất hiện và lên ngôi. Vì
vậy việc xác định cụ thể số lượng đào tạo trong mỗi ngành nghề có ý nghĩa rất quan
trọng, tránh được tình trạng thất nghiệp do thừa nhân lực ở khu vực này và thiếu
nhân lực ở khu vực khác do không dự báo được hết nhu cầu xã hội.
Như vậy, với cả 3 câu hỏi trên muốn tìm được câu trả lời chuẩn xác phải căn
cứ vào nhu cầu sử dụng của xã hội. Hay nói chính xác nhu cầu của xã hội sẽ là cái
mốc để giáo dục - đào tạo dõi theo và điều chỉnh phương thức hoạt động của mình
cho phù hợp.
13
Ngoài trình độ chuyên môn nghiệp vụ để gắn được với nhu cầu sử dụng các
cơ sở đào tạo cần nâng cao các kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên:
Thứ nhất, đào tạo trình độ ngoại ngữ và tin học vững vàng cho sinh viên, có
như vậy họ mới đủ trình độ phục vụ công việc chuyên môn ngày càng cao.
Thứ hai, đào tạo kỹ năng giao tiếp, thuyết trình. Ngoài ra một số kỹ năng
mềm khác sinh viên cần có nghệ thuật giao tiếp, xử lý tình huống…
Thứ ba, đạo đức nghề nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp đối với người lao động
cần phải được chú ý, quan tâm. Khi được giao nhiệm vụ, đặc biệt những công việc
đòi hỏi tính trung thực, bí mật, trung thành…nếu thiếu đạo đức nghề nghiệp rất dễ
phạm sai lầm.
học và của các cơ quan sử dụng lao động. Khi tiến hành đào tạo theo nhu cầu nhà
trường sẽ kết hợp cùng doanh nghiệp để xác định rõ những kiến thức và kỹ năng
sinh viên cần có đối với mỗi chuyên ngành, qua đó tổng hợp lại và xây dựng thành
giáo trình giảng dạy trong nhà trường. Tuy nhiên bộ giáo trình này chỉ được xây
dựng hoàn chỉnh khi đã tổng hợp được những yêu cầu mà các doanh nghiệp trong
lĩnh vực đó cho là cần thiết cho đào tạo. Tránh trường hợp xây dựng giáo trình cá
thể cho từng doanh nghiệp cụ thể như vậy bộ giáo trình sẽ chỉ áp dụng đơn thuần
cho doanh nghiệp đó mà không áp dụng được trên diện rộng. Việc làm này sẽ gây
lãng phí thời gian và tiền của của doanh nghiệp và nhà trường.
1.2.2. Tác dụng
Đào tạo gắn nhu cầu sử dụng có một tác dụng rất quan trọng đối với sự phát
triển của quốc gia, dân tộc. Ý nghĩa của nó không chỉ tồn tại trong một giai đoạn
phát triển nhất định của lịch sử mà nó xuyên suốt quá trình tồn tại và phát triển của
mỗi quốc gia, dân tộc bởi lẽ xã hội luôn luôn thay đổi không ngừng và đi lên theo
hướng chuyển dần từ lao động thủ công, thô sơ sang lao động bằng chất xám, do đó
nhu cầu của thị trường về nguồn lao động không còn đơn thuần chỉ dừng lại ở đức
tính tốt, cần cù, trung thành, có trách nhiệm như thời xa xưa nữa mà họ còn phải có
tính sáng tạo, có khả năng xử lý vần đề, có khả năng phân tích, có tinh thần đồng
đội, có khả năng ăn nói diễn đạt… Do đó nếu không nhanh chóng nắm bắt được
những đòi hỏi về số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp nói riêng và của xã
hội nói chung về lao động thì hàng năm sẽ xảy ra hiện tượng một lượng lớn lao
động qua đào tạo sẽ thất nghiệp trong ngành nghề này và thiếu cục bộ trong ngành
nghề khác. Điều này gây lãng phí rất lớn cho bản thân người lao động, nhà trường
15
và xã hội. Như vậy phương thức đào tạo theo nhu cầu sẽ khắc phục được hạn chế cơ
bản của cách thức giáo dục trước đây khi còn quá nặng nề, móc máy trong giảng
dạy mà chưa chú tâm đến chất lượng đầu ra.
Những tác dụng và ý nghĩa cơ bản của phương thức đào tạo gắn sử dụng:
động khi phải đào tạo lại. Khi đào tạo theo nhu cầu, người lao động đã được đào tạo
theo đúng những yêu cầu mà doanh nghiệp mong muốn từ họ, do đó người lao động
có thể làm được ngay những công việc ở những vị trí mà họ đã dự tuyển, khi đó
doanh nghiệp không phải tiến hành đào tạo lại và sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí.
1.2.3. Các phương thức đào tạo gắn sử dụng nguồn nhân lực
- Đào tạo theo kiểu học nghề: Trong phương thức này, chương trình đào tạo
bắt đầu bằng việc học lý thuyết ở trên lớp, sau đó các học viên được đưa đến làm
việc dưới sự hướng dẫn kèm cặp của chuyên gia; được thực hiện các công việc
thuộc nghề cần học cho tới khi thành thạo tất cả các kỹ năng của nghề. . Phương
thức này dùng để đào tạo trình hoàn chỉnh cho NNL KH&CN.
Phương pháp này thực chất là sự kèm cặp, hướng dẫn thông qua công việc
thực tế của chuyên gia lành nghề đối với người học và là phương pháp thông dụng ở
Việt Nam.
Phương pháp này dùng để giúp cho HSSV có thể học được các kiến thức, kỹ
năng cần thiết cho công việc trước mắt và công việc trong tương lai thông qua sự
kèm cặp, chỉ bảo của người quản lý, chuyên gia giỏi hơn (VD: Sinh viên Trường
Cao đẳng Y tế Ninh Bình, sáng học lý thuyết tại trường, chiều đi lâm sàng tại các
bệnh viện do nhà trường ký kết đào tạo).
- Liên kết với doanh nghiệp, đào tạo theo đơn đặt hàng: Các cơ sở đào tạo
NNL phối hợp thực hiện đào tạo NNL theo hướng đặt hàng, điều này hoàn toàn
mang tính thực tiễn cao, đóng góp cho doanh nghiệp NNL chất lượng đúng với nhu
cầu của doanh nghiệp. Bản thân mỗi HSSV được đào tạo theo phương thức này thấy
an tâm với cơ hội việc làm, mức lương ổn định để duy trì cuộc sống. Đó cũng là lý
do khiến trường có sức hút nguồn tuyển tương đối ổn định. Theo thỏa thuận, nhà
trường và công ty hợp tác toàn diện về lĩnh vực cùng nhà trường đào tạo theo
chương trình của trường kết hợp tuyển dụng sau đào tạo. NNL không chỉ được đào
tạo về chuyên môn mà còn được các cơ sở đào tạo lại về kỹ năng mềm. Các doanh
nghiệp đối tác đặt máy tại xưởng trường để sản xuất vừa gắn với thực tiễn sản xuất
vừa tạo thêm thu nhập cho người học.
17
với phương thức đào tạo gắn kết này, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội và trách
18
nhiệm trong việc báo cáo thực tiễn, trực tiếp tham gia hướng dẫn thực tập, khoá
luận, luận văn tốt nghiệp của sinh viên, học viên.
Đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp còn được thể hiện rất rõ qua việc
tăng cường năng lực về cơ sở vật chất cho đại học. Các doanh nghiệp có thể hỗ trợ,
tài trợ, tặng: giảng đường, phòng thí nghiệm, thiết bị dạy - học và đào tạo tại doanh
nghiệp (sử dụng cơ sở vật chất của doanh nghiệp). Nhờ đó, sinh viên có cơ hội được
làm quen với môi trường doanh nghiệp, các thiết bị, công nghệ sản xuất của doanh
nghiệp. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng có cơ hội để lựa chọn, hướng nghiệp cho
những sinh viên, học viên có năng lực tốt phục vụ cho doanh nghiệp ngay sau khi
tốt nghiệp.
1.3. Sự cần thiết gắn đào tạo với sử dụng nguồn nhân lực khoa học và
công nghệ ở nƣớc ta hiện nay
Mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp ở nước ta hiện nay chưa có
gắn kết chặt chẽ còn gặp nhiều bất cập. Doanh nghiệp chưa được tham gia và đóng
góp ý kiến về xây dựng chương trình đào tạo một cách chi tiết, thường xuyên. Do
đó kiến thức của sinh viên nhận được sau khi ra trường chưa đáp ứng được yêu cầu
của các nhà tuyển dụng, tình trạng sinh viên các trường đại học, cao đẳng sau khi
tốt nghiệp không tìm được việc làm hoặc làm việc không phù hợp với chuyên môn
đào tạo có xu hướng tăng lên. Trong khi sinh viên tốt nghiệp không có việc làm thì
các doanh nghiệp lại thiếu lao động một cách trầm trọng cả về số lượng và chất
lượng.
Bên cạnh số sinh viên tốt nghiệp hàng năm không tìm kiếm được việc làm
ngày càng tăng lên, thì số sinh viên có việc làm cũng không đáp ứng được yêu cầu
về chất lượng của các nhà tuyển dụng. Sinh viên các trường sau khi được tuyển
dụng vào các doanh nghiệp thường phải được tiếp tục đào tạo lại mới có thể đáp
hút đầu tư cho đào tạo từ xã hội, đặc biệt là từ khu vực doanh nghiệp.
Nâng cao uy tín của nhà trường trong đào tạo (thể hiện ở sản phẩm đầu ra có
chất lượng, đáp ứng nhu cầu thực tế). Hay nói cách khác, nếu sinh viên ra trường
được coi là sản phẩm đào tạo, được xã hội sử dụng tốt, thì trường được đánh giá
cao, tạo được tiếng vang trong giáo dục và đào tạo, gây uy tín cũng như duy trì mối
liên kết bền vững giữa nhà trường và doanh nghiệp.
20
1.3.2. Sự cần thiết gắn đào tạo với sử dụng nguồn nhân lực khoa học và công
nghệ xét ở góc độ đối với doanh nghiệp
Đối với các tổ chức tuyển dụng, họ mong nhận được từ đơn vị đào tạo những
sinh viên có năng lực kiến thức vững vàng về chuyên môn và nghiệp vụ.
Với những yêu cầu đặt ra từ phía các tổ chức tuyển dụng, các trường đào tạo
cần phải quan tâm xem xét để tạo điều kiện tối đa cho người học có cơ hội học tập
và rèn luyện nhằm đáp ứng nhu cầu từ các tổ chức tuyển dụng. Doanh nghiệp luôn
yên tâm có một đội ngũ nhân lực vững chắc hỗ trợ khi mình có nhu cầu. Đồng thời
doanh nghiệp ít tốn chi phí tuyển dụng, thử việc, vì qua thời gian thực tập chính là
thời gian sinh viên thể hiện năng lực, doanh nghiệp đánh giá khả năng, năng lực,
phẩm chất của sinh viên. Nói cách khác là doanh nghiệp có thêm quyền và cơ hội
lựa chọn và sử dụng nguồn lao động chất lượng, có trình độ, từ đó giải quyết được
bài toán nan giải về nhân lực.
Gắn kết đào tạo và sử dụng NNL giúp cho doanh nghiệp được phép đánh giá
chất lượng đào tạo (phát huy mặt mạnh khắc phục những mặt yếu kém) và đóng góp
ý kiến vào việc xây dựng chương trình đào tạo của nhà trường.
Hỗ trợ tài chính, cơ sở vật chất cho nhà trường và tham gia giảng dạy vào
quá trình đào tạo như một hình thức đầu tư, phát triển bước đầu. Doanh nghiệp sẽ
được hưởng lợi khi chất lượng sản phẩm đào tạo của nhà trường được đảm bảo bởi
đầu ra quá trình đào tạo của nhà trường là đầu vào của quá trình tuyển dụng, sử