Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ngành bảo hiểm xã hội (nghiên cứu trường hợp BHXH thành phố hà nội - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN CHIẾN LƢỢC VÀ CHÍNH SÁCH

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

TRỊNH TUẤN ANH

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NGÀNH BẢO HIỂM XÃ HỘI
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

HÀ NỘI, 2018


VIỆN HÀN LÂM

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN CHIẾN LƢỢC VÀ CHÍNH SÁCH


Khoa học và Công nghệ, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu lời chúc sức khỏe, lời chào
trân trọng và lời cảm ơn sâu sắc. Với sự quan tâm, hướng dẫn nhiệt tình của
thầy cô, sự giúp đỡ của đồng nghiệp, tạo điều kiện của gia đình đến nay tôi đã
hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài: “GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NGÀNH BẢO
HIỂM XÃ HỘI (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH
PHỐ HÀ NỘI)”.

Với điều kiện thời gian có hạn, kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế
nên luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong đón nhận
được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp để bổ
sung hoàn thiện luận văn, nâng cao kiến thức cho mình và phục vụ tốt hơn
trong công tác thực tế sau này, có đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của
ngành, cho xã hội và cho đất nước.
Tôi cũng trân trọng cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo, các cán bộ công chức,
viên chức văn phòng BHXH Thành phố Hà Nội và 30 cơ quan BHXH quận
huyện trực thuộc đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tác giả

Trịnh Tuấn Anh


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn là trung thực. Những kết luận
khoa học của Luận văn là vấn đề mới chưa được công bố trong công trình
nghiên cứu nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình.
Tác giả


3.1. Quan điểm, định hướng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học
và công nghệ ngành bảo hiểm xã hội đến năm 2025 .................................. 68
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN .................... 72
Tiểu kết chương 3 ..................................................................................................... 87
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 91


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT

VIẾT TẮT

VIẾT ĐẦY ĐỦ

1

BHXH

Bảo hiểm xã hội

2

BHYT

Bảo hiểm y tế

3


CBQL

Cán bộ quản lý

9

GĐBHYT

Giám định bảo hiểm y tế

10

KHTC

Kế hoạch tài chính

11

KH&CN

Khoa học và công nghệ

12

NNL

Nguồn nhân lực

13



1

Bảng 2.1

Số lượng nhân lực KH&CN tại BHXH Hà nội giai
đoạn 2013-2017

35

2

Bảng 2.2

Cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN theo độ tuổi năm
2015 và năm 2017 của BHXH Thành phố Hà Nội

36

3

Bảng 2.3

Cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN của BHXH Thành
phố Hà Nội theo giới tính năm 2013 - 2017

37

Bảng 2.4


KH&CN của VP BHXH Thành phố Hà Nội và quận
huyện theo trình độ chính trị, tin học, ngoại ngữ (tính
đến 12/2017)

45

8

Bảng 2.8

Số sáng kiến, đề tài cấp cơ sở, cấp bộ/ngành của
BHXH Thành phố Hà Nội giai đoạn năm 2014 - 2017

47

9

Bảng 2.9

Nhu cầu đào tạo NLL KH&CN của BHXH Thành phố
Hà Nội giai đoạn 2013-2017

55

4


DANH MỤC HÌNH VẼ
STT



54

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT

SỐ HIỆU

NỘI DUNG

TRANG

1

Biểu đồ 2.1

Cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN của BHXH
Thành phố Hà Nội theo giới tính năm 2012 – 2017

39

2

Biểu đồ 2.2

Cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN của BHXH
Thành phố Hà Nội theo trình độ học vấn năm
2012 – 2017

44

lực khoa học và công nghệ. Trong thương mại thì sản phẩm, hàng hoá của các
doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao trên thị trường phụ thuộc chủ yếu vào tỷ
lệ hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng được kết tinh trong sản phẩm đó.
Trong các cơ quan nhà nước thì chất lượng cung cấp dịch vụ hành chính công
được đo bằng sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ
quan hành chính nhà nước đó. Do vậy, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, đặc biệt nguồn nhân lực khoa học và công nghệ đang trở thành vấn đề
cấp bách đối với các quốc gia trên thế giới. Nó đang trở thành vấn đề mang
tính chiến lược, sống còn trong điều kiện kinh tế toàn cầu hóa với trình độ
khoa học và công nghệ đang phát triển nhanh chóng hơn bao giờ hết.
Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, chúng ta còn thiếu nhiều điều kiện cho phát triển như: vốn, công
nghệ, kinh nghiệm quản lý… nhưng để tiếp cận và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực ấy thì cần phải có chiến lược và giải pháp nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực của mình. Tại hội nghị Trung ương 6 khóa XI đã ra Nghị
quyết số 20-NQ/TW ngày 31/10/2012 về phát triển KH&CN phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định

1


hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã chỉ rõ: “Phát triển và ứng
dụng KH&CN là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan
trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung
cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các
ngành, các cấp”. Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước và
tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ KH&CN đóng vai trò quyết định
thành công của sự nghiệp phát triển KH&CN. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và
đồng bộ về tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động, công tác xây dựng
chiến lược, kế hoạch phát triển KH&CN; phương thức đầu tư, cơ chế tài

Trong các năm qua về công tác BHXH đã có nhiều công trình khoa học
nghiên cứu của các nhà khoa học, các cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý; từ đề
tài cấp bộ, đề tài cấp ngành, luận văn tiến sỹ, luận văn thạc sỹ đi sâu nghiên
cứu những vấn đề chung, cũng như từng lĩnh vực về BHXH. Những đề tài
nghiên cứu về từng lĩnh vực chuyên môn cụ thể như công tác quản lý thu,
công tác quản lý Quỹ Bảo hiểm xã hội… hay về nguồn nhân lực của Ngành
BHXH thì có nhiều. Nhưng đề tài nghiên cứu chuyên sâu về Nguồn nhân lực
khoa học và công nghệ tại BHXH Thành phố Hà Nội thì còn rất hạn chế. Có
thể nói tới các công trình, đề tài nghiên cứu như:
- Đề tài “Thực trạng quản lý thu Bảo hiểm xã hội hiện nay và các bịên
pháp nâng cao hiệu quả công tác thu”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ do
Tiến sỹ Nguyễn Văn Châu làm chủ nhiệm đề tài bảo vệ năm 1996.
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quản lý thu BHXH của một số nước
trên thế giới và tổng kết hoạt động thực tiễn của quản lý thu BHXH ở Việt
Nam trước năm 1995 và đến năm 1996, tác giả làm rõ thực trạng hoạt động
BHXH, đặc biệt là công tác thu BHXH trong thời gian qua, nhằm phân tích
khả năng thu BHXH để bù đắp các chế độ BHXH được hưởng nhằm thay thế
dần các nguồn chi lấy từ Ngân sách Nhà nước, đồng thời đề xuất kiến nghị
một số vấn đề cụ thể nhằm cải tiến công tác thu BHXH ở Việt Nam.

3


- Đề tài “Thực hiện pháp luật về BHXH ở tỉnh Cà Mau hiện nay”, Luận
văn thạc sỹ Luật, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh,
2012, của tác giả Trịnh Trung Kiên.
Trên cơ sở lý luận, nội dung thực hiện pháp luật về BHXH, đánh giá thực
tiễn thực hiện pháp luật về BHXH ở tỉnh Cà Mau, tác giả đã chỉ ra mặt được và
hạn chế để đưa ra những quan điểm, 7 nhóm giải pháp và kiến nghị đảm bảo
hiệu lực các văn bản pháp luật về BHXH, góp phần đảm bảo tốt hơn quyền lợi

nhanh chóng của toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Cho
đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu về
nhân lực Khoa học và công nghệ của BHXH TP Hà nội. Như vậy, việc nghiên
cứu đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và
công nghệ ngành Bảo hiểm xã hội (nghiên cứu trường hợp BHXH Thành
phố Hà Nội)” là đề tài nghiên cứu không trùng lặp với những đề tài đã nghiên
cứu trước đây.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a) Mục đích nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực
KH&CN trong ngành BHXH thành phố Hà Nội trong bối cảnh cuộc cách mạng
công nghiệp 4.0.
b) Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể là:
- Hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn nhân lực, nguồn nhân
lực khoa học và công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và
công nghệ.
- Đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
tại BHXH Thành phố Hà Nội, tìm ra những yếu kém của nguồn nhân lực
KH&CN của BHXH TP Hà Nội và nguyên nhân của những yếu kém.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa

5


học và công nghệ tại BHXH Thành Phố Hà Nội trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng nguồn nhân lực KH&CN tại
BHXH Thành phố Hà Nội về mặt trí lực.

Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa
học và công nghệ
Chương 2: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công
nghệ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và
công nghệ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội

7


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN
NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Nghiên cứu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công
nghệ (KH&CN) trước hết cần tìm hiểu lý luận về nguồn nhân lực khoa học và
công nghệ gồm khái niệm, phân loại, đặc điểm, chức năng, vai trò của đối
tượng này trong kinh tế - xã hội nói chung và trong ngành Bảo hiểm hiểm xã
hội nói riêng. Tiếp theo, đối tượng nguồn nhân lực KH&CN sẽ cần phải được
đặt trong bối cảnh có sự quản lý, vì vậy cần phải làm rõ khái niệm quản lý
nguồn nhân lực KH&CN và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN
qua bốn bước sau: Đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và quản lý.
1.1. Khái niệm về nhân lực và nguồn nhân lực khoa học công nghệ
1.1.1. Khái niệm nhân lực và nguồn nhân lực
Nhân lực: Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà
nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. Nói cách khác, nhân lực là sức lực con
người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó
ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một
mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con
người có sức lao động. Nhân lực có ảnh hưởng rất lớn đến trình độ quản lý và
trình độ sử dụng các yếu tố kinh doanh, nhân lực là yếu tố năng động, tích cực

tranh để có được nguồn nhân lực xã hội phù hợp với yêu cầu của tổ chức là xu
thế chung của thế giới trong nhiều năm qua và tiếp tục thúc đẩy cạnh tranh
trong thời gian tới, dưới nhiều dạng khác nhau, như: cạnh tranh nhân tài, cạnh
tranh lao động có tay nghề cao, cạnh tranh lao động có chi phí rẻ,...
Các nhà kinh tế thường xem xét nguồn nhân lực dưới hai góc độ: năng
lực xã hội và tính năng động xã hội. ở góc độ năng lực xã hội, nguồn nhân lực

9


là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của
dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần. Nguồn này được hình
thành và phát triển thông qua giáo dục, đào tạo và chăm sóc sức khoẻ và tồn
tại dưới dạng tiềm năng nếu không được huy động. Dưới góc độ tính năng
động xã hội, nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng muốn phát huy phải chuyển
sang trạng thái động, thành vốn nhân lực phục vụ cho phát triển xã hội, thông
qua các chính sách, thể chế và giải pháp giải phóng tiềm năng con người.
Vốn nhân lực (vốn con người) là các kỹ năng và năng lực con người
khi được sử dụng vào lao động bằng cách nào đó đóng góp cho nền kinh tế.
1.1.2 Khái niệm nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
Hiện nay, trên thế giới có nhiều cách hiểu và khái niệm về nguồn nhân
lực khoa học và công nghệ. Do đó, việc tổng hợp và thống nhất các khái niệm
sử dụng là rất cần thiết, vì nó giúp xác định đối tượng và nội dung nghiên cứu
của đề tài luận văn. Hiện nay có khái niệm về nguồn nhân lực KH&CN được
đưa ra bởi Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Tổ chức giáo dục,
khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO).
1.1.2.1 Theo cách tiếp cận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
Tổ chức OECD là tên viết tắt của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh
tế (Organization for Economic Cooperation and Development), thành lập năm
1961 trên cơ sở Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu (OEEC) với 20 thành viên

khoa học và công nghệ.
1.1.2.2 Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
(UNESCO) định nghĩa nhân lực KH&CN chủ yếu theo công việc hiện đang
đảm nhận. Theo đó, nhân lực KH&CN (S&T personnel) là "những người trực
tiếp tham gia vào hoạt động khoa học và công nghệ trong một cơ quan, tổ
chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà
khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ".

11


Hoạt động KH&CN, theo UNESCO, là những hoạt động có tính chất
hệ thống và liên quan chặt chẽ đến tạo ra, phát triển, phổ biến, áp dụng kiến
thức KH&CN trong mọi lĩnh vực KH&CN. Hoạt động KH&CN bao gồm
hoạt động nghiên cứu triển khai, giáo dục và đào tạo KH&CN và các dịch vụ
KH&CN. Dịch vụ KH&CN bao gồm các hoạt động KH&CN của thư viện và
bảo tàng, dịch và hiệu đính tài liệu KH&CN, điều tra, thăm dò, thu thập số
liệu về các hiện tượng kinh tế xã hội, tiêu chuẩn, chất lượng, dịch vụ tư vấn
và lấy ý kiến khách hàng, các hoạt động patent và bản quyền của các cơ quan
công cộng.
Các nhà khoa học là kĩ sư: là những người làm trong các lĩnh vực sử dụng
hay tạo ra kiến thức khoa học hoặc các nguyên lý kỹ nghệ và công nghệ, nghĩa là
những người được đào tạo về khoa học và công nghệ và làm nghề về hoạt động
khoa học và công nghệ, những nhà quản lý cấp cao và những người trực tiếp
điều hành các hoạt động khoa học và công nghệ (đối với lĩnh vực nghiên cứu và
phát triển, các nhà khoa học là những nhà nghiên cứu, các trợ lý nghiên cứu
trong cả lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn).
- Các kỹ thuật viên: bao gồm những người thực hiện các công việc đòi
hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực KH&CN;

đang làm việc tại Văn phòng BHXH Thành phố Hà nội và BHXH các quận,
huyện, thị xã trực thuộc trên địa bàn thành phố Hà Nội.
1.1.3. Khái niệm nhân lực nghiên cứu và phát triển
Theo Hướng dẫn thống kê nghiên cứu và phát triển (NC&PT) của
OECD (Cẩm nang FRASCATI)[20, tr69], nhân lực NC&PT bao gồm những
người trực tiếp tham gia vào hoạt động NC&PT hoặc trực tiếp hỗ trợ hoạt
động NC&PT. Nhân lực NC&PT được chia thành 3 nhóm:

13


- Nhóm 1: Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư
nghiên cứu).
Đây là những cán bộ chuyên nghiệp có trình độ cao đẳng/đại học, thạc
sĩ và tiến sĩ hoặc không có văn bằng chính thức, song làm các công việc
tương đương như nhà nghiên cứu/nhà khoa học, tham gia vào quá trình tạo ra
tri thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới.
- Nhóm 2: Nhân viên kỹ thuật và tương đương. Nhóm này bao gồm
những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết
kỹ thuật trong những lĩnh vực của KH&CN. Họ tham gia vào hoạt động
NC&PT bằng việc thực hiện những nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật có áp
dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới sự giám sát của các
nhà nghiên cứu.
- Nhóm 3: Nhân viên phụ trợ trực tiếp cho NC&PT. Bao gồm những
người có hoặc không có kỹ năng, nhân viên hành chính văn phòng tham gia
vào các dự án NC&PT. Trong nhóm này bao gồm cả những người làm việc
liên quan đến nhân sự, tài chính và hành chính trực tiếp phục vụ công việc
NC&PT của các tổ chức NC&PT.
Hình 1.1 Quan hệ giữa nguồn nhân lực KH&CN và nhân lực NC&PT:
Nhân lực NC&PT

chủ của các tổ chức KH&CN phù hợp với kinh tế thị trường, định hướng xã
hội chủ nghĩa. Đầu tư cho nhân lực KH&CN là đầu tư cho phát triển bền
vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc. Đảng và Nhà nước
có chính sách phát triển, phát huy và trọng dụng đội ngũ cán bộ KH&CN. Ưu
tiên và tập trung mọi nguồn lực quốc gia cho phát triển KH&CN. Nhà nước
có trách nhiệm đầu tư, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát

15


triển hạ tầng, nâng cao đồng bộ tiềm lực khoa học xã hội và nhân văn, khoa
học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ. Chú trọng nghiên cứu ứng dụng và triển
khai; coi doanh nghiệp và các đơn vị dịch vụ công là trung tâm của đổi mới,
trong ứng dụng và chuyển giao công nghệ, là nguồn cầu quan trọng nhất của
thị trường KH&CN. Quan tâm đúng mức đến nghiên cứu cơ bản, tiếp thu và
làm chủ công nghệ tiên tiến của thế giới phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để cập nhật tri thức KH&CN tiên tiến
của thế giới, thu hút nguồn lực và chuyên gia, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài và người nước ngoài tham gia các dự án KH&CN của Việt Nam.
Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên, nghiên cứu sinh, thực
tập sinh sau khi được đào tạo ở nước ngoài về nước làm việc. [2,tr3]
Nguồn nhân lực KH&CN ngành BHXH có đặc điểm là sự thống nhất
trong toàn hệ thống, các bộ phận có tính chuyên môn hóa rõ ràng. Tuy nhiên,
sự phân hóa về độ tuổi dẫn đến sự khác biệt về khả năng cập nhật kiến thức,
thay đổi phong cách làm việc là một yếu tố tác động đến hiệu quả công việc
không đồng đều.
1.2. Chất lƣợng nguồn nhân lực
Trong mỗi cơ quan, tổ chức, thì vai trò chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức là yếu tố quyết định đến hoàn thành nhiệm vụ và hiệu quả
công tác. Vì vậy, việc nghiên cứu để nâng cao chất lượng công tác tuyển

năng suất lao động tăng, điều đó sẽ mang lại lợi ích lớn cho tổ chức đó. Đối
với người lao động, chất lượng NNL tốt sẽ tạo ra thế hệ người lao động toàn
diện về trình độ, sự hiểu biết, sức khỏe, phẩm chất đạo đức, điều đó có lợi cho
chính người lao động và toàn xã hội.
*Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ (KH&CN)
chính là sự tăng cường sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực
thể chất và năng lực tinh thần của lực lượng lao động lên đến một trình độ

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status