1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vô sinh là một vấn đề lớn không chỉ ảnh hưởng đến hạnh phúc của các
cặp vợ chồng mà còn ảnh hưởng đến xã hội và cần một nguồn lực lớn để giải
quyết tình trạng này. Theo các nghiên cứu trên thế giới, tỷ lệ vô sinh có xu
hướng ngày càng gia tăng, tỷ lệ vô sinh tùy theo từng quốc gia và từng nghiên
cứu, dao động trong khoảng từ 3% đến 15%. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu
của Nguyễn Viết Tiến và cộng sự năm 2009 tại 8 vùng sinh thái trên cả nước
cho thấy tỷ lệ vô sinh chung trên phạm vi toàn quốc ở mức trung bình so với
các quốc gia khác chiếm 7,7% các cặp vợ chồng 15-49 tuổi, trong đó vô sinh
nguyên phát chiếm 3,9%, và vô sinh thứ phát chiếm 3,8% [1], [2].
Điều trị vô sinh bằng kích thích buồng trứng (KTBT) kết hợp với bơm tinh
trùng vào buồng tử cung (Intrauterine Insemination - IUI) được đa số tác giả
khuyến cáo vì làm tăng khả năng thụ thai. Phương pháp IUI có thể thực hiện ở
nhiều trung tâm tuyến Trung ương và tuyến Tỉnh. Nhiều phác đồ kích thích
buồng trứng khác nhau đã được sử dụng, từ Clomiphene Citrate (CC) đến
gonadotropin tiêm (hMG, FSH) và sử dụng phối hợp các loại này, tuy nhiên hiệu
quả của các phác đồ này khác nhau theo các nghiên cứu. Mặc dù CC có khả
năng kích thích gây phóng noãn cao nhưng lại làm cho niêm mạc tử cung mỏng
và làm cho tỷ lệ có thai thấp [3], [4].
Các nhà khoa học không ngừng nghiên cứu và tìm ra các phác đồ KTBT có
hiệu quả và an toàn, các cải tiến về kỹ thuật lọc rửa tinh trùng và kỹ thuật bơm
IUI nhằm làm tăng tỷ lệ có thai bằng phương pháp IUI. Với những bệnh nhân
thất bại với CC thì thuốc tiêm gonadotrophin được chọn lựa tiếp theo sẽ thu
được nhiều hơn noãn do đó góp phần tăng tỷ lệ thành công trong điều trị vô
sinh. Theo Đỗ Thị Hằng Nga năm 2012 tỷ lệ có thai của IUI với CC là 12,8%,
với FSH là 31,2% [5].
2
bởi hệ thống thần kinh - nội tiết. Trung tâm của hệ thống sinh sản nữ giới là hai
buồng trứng với hai chức năng sản xuất nội tiết và sản xuất noãn. Sự hoạt động
của các chức năng buồng trứng được gắn với một hệ thống kiểm soát phức tạp,
bao gồm chức năng của hệ thần kinh trung ương, vùng dưới đồi, tuyến yên và
bản thân nội tại buồng trứng. Tất cả các cơ quan tham gia vào quá trình điều hoà
này nằm trong mối tương tác qua lại dưới dạng kích thích hoặc ức chế thông qua
các nội tiết tố hướng sinh dục hoặc nội tiết tố sinh dục [9].
Hình 1.1.Vai trò trục vùng dưới đồi - tuyến yên - buồng trứng [10].
4
1.1.1. Vùng dƣới đồi
Vùng dưới đồi thuộc trung não, nằm quanh não thất 3 và nằm chính giữa
hệ thống viền, tiết ra hormone giải phóng FSH và LH gọi là GnRH
(Gonadotropin Releasing Hormone). GnRH được phóng thích vào hệ thống
mạch máu tới thuỳ trước tuyến yên qua sợi trục thần kinh và được bài tiết
theo nhịp, cứ 1 đến 3 giờ GnRH được bài tiết một lần, mỗi lần kéo dài trong
vài phút [9].
Tác dụng của GnRH là kích thích tế bào thuỳ trước tuyến yên bài tiết
FSH và LH theo cơ chế gắn vào các thụ thể làm tăng tính thấm calci, khiến
calci nội bào tăng và hoạt hóa các tiểu đơn vị của gonadotropin. Khi sử dụng
GnRH liều cao hoặc liên tục sẽ làm nghẽn kênh calci và dẫn đến làm giảm thụ
thể, do đó làm gián đoạn hoạt động của cả hệ thống. Vì vậy, thiếu GnRH hoặc
nếu đưa GnRH liên tục vào tuyến máu đến tuyến yên thì cả FSH và LH đều
không được bài tiết [11], [12].
1.1.2. Tuyến yên
Tuyến yên là một tuyến nhỏ nằm trong hố yên của xương bướm. Tuyến
yên gồm 2 phần có nguồn gốc cấu tạo từ thời kỳ bào thai hoàn toàn khác nhau
Chức năng ngoại tiết (sinh noãn): Nang noãn nguyên thủy có đường kính
0,05 mm. Dưới tác dụng của FSH nang noãn lớn lên, chín. Nang noãn chín có
đường kính xấp xỉ 20 mm. Noãn chứa trong nang này cũng chín và chịu tác
dụng phân bào. Noãn chín có đường kính khoảng 100 µm. Dưới tác dụng của
6
LH nang noãn chín phóng ra 1 noãn chín có thể thụ tinh được vào giữa chu kỳ
kinh nguyệt.
Chức năng nội tiết (chế tiết hormone): Buồng trứng chế tiết ra 3
hormone chính: estrogen, progesterone và androgen là các hormone sinh dục
có nhân steran nên còn được gọi là các steroid sinh dục. Estrogen do các tế
bào hạt các lớp áo trong của nang noãn bài tiết trong nửa đầu chu kỳ kinh
nguyệt và nửa sau do hoàng thể bài tiết ra. Progesterone do các tế bào hạt của
hoàng thể chế tiết ra. Androgen do các tế bào ở rốn của buồng trứng chế tiết
ra. Các hormone của nang noãn và cả hoàng thể đủ để làm thay đổi niêm mạc
tử cung giúp cho phôi làm tổ và nếu như người phụ nữ không thụ thai thì
cũng đủ gây ra kinh nguyệt [15].
1.1.3.2. Sự phát triển của nang noãn
Sự trưởng thành của nang noãn trải qua các giai đoạn nang noãn nguyên
thuỷ, nang noãn sơ cấp, nang noãn thứ cấp, tam cấp và nang de Graaf. Sự
phát triển của nang noãn diễn ra trong khoảng 90 ngày, trong đó thời kỳ
đầu (khoảng 60 ngày) sự phát triển của nang không phụ thuộc vào FSH.
Một chu kỳ phát triển nang noãn thông thường chỉ có 1 nang de Graaf trưởng
thành và phóng noãn [15].
Hình: 1.2. Sự phát triển nang noãn (Folliculogenesis) [10].
nhờ các enzym đông đặc của dịch tuyến tiền liệt tác dụng vào fibrinogen có
trong tinh dịch để bảo vệ tinh trùng khỏi môi trường acid của âm đạo. Môi
trường âm đạo sau đó bị kiềm hoá do pH kiềm của tinh dịch. Sự ly giải bắt
đầu xảy ra, nhờ tác động của fibrinolysin có trong dịch tuyến tiền liệt và giải
phóng tinh trùng. Các cơ chế này làm tăng tối đa số lượng tinh trùng vào được
đến cổ tử cung [17].
Trong giai đoạn phóng noãn, do ảnh hưởng của estrogen, chất nhầy cổ tử
cung nhiều và loãng hơn, thuận lợi cho sự di chuyển của tinh trùng vào ống
cổ tử cung. Niêm mạc ống cổ tử cung có nhiều kẽ, rất nhiều tinh trùng sau khi
đi vào ống cổ tử cung bị giữ ở các kẽ này. Sau đó tinh trùng tiếp tục từ các kẽ
này đi lên vào buồng tử cung. Tiếp đó, tinh trùng di chuyển vào buồng tử cung
rồi vòi tử cung nhờ sự vận động của đuôi và sự co bóp của cơ trơn tử cung, dịch
trong lòng tử cung, các nếp gấp của nội mạc tử cung và niêm mạc vòi tử cung.
Trong thời gian di chuyển này, đầu tinh trùng được hoạt hóa, quá trình
này tạo ra sự thay đổi của màng ở đầu tinh trùng, làm tiền đề cho phản ứng
cực đầu và sự thụ tinh với noãn sau này [17].
1.1.4.2. Sự di chuyển của noãn
Đoạn đường đi của noãn ngắn hơn so với tinh trùng, nhưng noãn không
tự di chuyển được, nó phải dựa vào các yếu tố xung quanh.
Khi vỡ nang Graff, noãn thoát ra và nằm ở bề mặt của buồng trứng (ở
giai đoạn noãn bào cấp II). Trước khi phóng noãn, những tua của loa vòi tử
cung chuyển động mạnh, quét trên khắp vòi tử cung. Khi được phóng thích ra
khỏi buồng trứng, noãn được bọc ngoài bởi một màng trong suốt và lớp tế bào
hạt [18]. Sau đó noãn được các tua của loa vòi tử cung hút về vòi tử cung. Khi
tới lỗ của loa vòi tử cung noãn sẽ vượt qua và di chuyển vào trong vòi tử cung
9
muốn có con mà không có thai cũng đã được coi là vô sinh ngay, cần khám và
điều trị sớm.
Vô sinh nguyên phát là chưa có thai lần nào, còn vô sinh thứ phát là
trong tiền sử đã từng có thai ít nhất một lần cho dù là đẻ hay sẩy thai. Vô sinh
nam là nguyên nhân vô sinh là hoàn toàn do người chồng, vô sinh nữ là khi
nguyên nhân vô sinh hoàn toàn do người vợ; vô sinh không rõ nguyên nhân là
trường hợp sau khi khám và làm các xét nghiệm thăm dò thường quy hiện có
mà không tìm được nguyên nhân nào [1].
1.1.2. Tình hình và nguyên nhân vô sinh
Một số nghiên cứu dịch tễ học gần đây trên thế giới cho thấy tần suất vô
sinh tính trên các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ thay đổi từ 3% đến 15%
[1]. Theo ước tính của WHO, trên thế giới có khoảng 80 triệu cặp vợ chồng
vô sinh. Theo Irvine, tần suất vô sinh nam được báo cáo bởi nhiều nghiên cứu
lớn thay đổi từ khoảng 20% - 60%. Tại Pháp vô sinh chiếm khoảng 1/6 các
cặp vợ chồng. Tại Việt Nam, theo Nguyễn Viết Tiến và các cộng sự điều tra
các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ năm 2009 tại 8 tỉnh đại diện cho 8
vùng sinh thái trong cả nước Việt Nam thì tỷ lệ vô sinh chung trên toàn quốc là
7,7%, trong đó vô sinh nguyên phát là 3,9% và vô sinh thứ phát là 3,8% [2].
Về nguyên nhân vô sinh, theo WHO năm 1985, khoảng 20% là không rõ
nguyên nhân, 80% còn lại có nguyên nhân, trong đó vô sinh nữ 40%, vô sinh
nam 40% và do cả hai 20% [20], [22]. Theo Nguyễn Khắc Liêu và cộng sự tại
Viện bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh trong các năm 1993-1997 tỷ lệ vô sinh nữ
chiếm 54,5%, vô sinh nam 35,6% và vô sinh không rõ nguyên nhân chiếm
9,9% [23]. Theo Nguyễn Thành Như và cộng sự năm 2001 tại bệnh viện Bình
Dân vô sinh do nam đơn thuần là 30%, do cả hai vợ chồng là 20% [24]. Theo
11
Văn Thị Kim Huệ năm 2002 tại khoa sản Bệnh viện Trung ương Huế thì
+ Nội soi Drilling buồng trứng trong hội chứng buồng trứng đa nang.
+ Nội soi bóc nhân xơ tử cung trên bệnh nhân vô sinh.
- Soi buồng tử cung:
+ Soi buồng tử cung chẩn đoán.
+ Nội soi cắt polype buồng tửng cung.
+ Nội soi điều trị dính buồng tử cung (sau nạo hút, do lao sinh dục)
1.3.4. Thụ tinh trong ống nghiệm (In vitro fertilization – IVF)
Thụ tinh trong ống nghiệm là một quá trình bao gồm kích thích buồng
trứng, hút noãn, thụ tinh trong phòng thí nghiệm và chuyển phôi vào buồng tử
cung qua cổ tử cung, tỷ lệ có thai lâm sàng dao động từ 30-35 % [30], [31], [32].
1.4. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA KÍCH THÍCH BUỒNG TRỨNG
Mục đích của kích thích buồng trứng là để phát triển các nang noãn từ
các nang nhỏ thành các nang noãn trưởng thành và sau đó kích thích rụng
trứng để làm IUI hoặc chọc hút được nhiều noãn có chất lượng tốt để làm IVF
[33], [34], [35].
Cơ chế phát triển nang noãn và tăng hàm lượng estradiol trong quá trình
phát triển nang noãn được hiểu biết qua khái niệm "ngưỡng FSH", "trần LH"
và hệ thống hai tế bào, hai gonadotropins.
1.4.1. “Ngƣỡng” FSH (FSH threshold)
FSH đóng vai trò quan trọng trong quá trình tuyển mộ, chọn lọc và vượt
trội của nang noãn. Một lượng nhất định FSH được bài tiết cần thiết để tạo
nên sự phát triển của nang noãn gọi là ngưỡng “FSH”. “Ngưỡng” FSH không
giống nhau đối với các nang noãn, cho nên để phát triển nhiều nang noãn thì
13
lượng FSH phải vượt quá ngưỡng của các nang nhạy cảm ít nhất với FSH. Khái
niệm về “ngưỡng” FSH cho thấy, sự tăng FSH trong giai đoạn đầu của chu kỳ là
yếu tố then chốt trong quá trình tuyển mộ nang noãn. Duy trì hàm lượng FSH ở
Hình 1.4. Hệ thống hai tế bào, hai gonadotropins [38]
1.5. BƠM TINH TRÙNG VÀO BUỒNG TỬ CUNG
Thụ tinh nhân tạo bằng IUI với tinh trùng của người chồng đã giảm một
số yếu tố có hại lên tinh trùng như pH acid của âm đạo có thể làm chết tinh
trùng, chất nhầy cổ tử cung có thể giữ tinh trùng tại chỗ [39].
Nguyên tắc của kỹ thuật IUI là chọn lọc và cô đặc một thể tích tinh trùng
với mật độ cao gồm những tinh trùng có độ di động tốt, khả năng thụ tinh cao
và bơm vào buồng tử cung xung quanh thời điểm phóng noãn. Khi bơm tinh
dịch trực tiếp vào buồng tử cung có thể gây dị ứng hay sốc phản vệ và
prostaglandin có trong tinh dịch có thể gây co thắt tử cung.
Vì vậy các phương pháp lọc rửa tinh trùng ra đời và kỹ thuật bơm tinh
trùng đã qua xử lý được phổ biến nhanh chóng và được chấp nhận rộng rãi
trên thế giới [40], [41].
15
1.5.1. Chỉ định của IUI
Kỹ thuật IUI thực hiện với những chỉ định sau [42], [43], [44], [45], [46].
1/ Vô sinh không rõ nguyên nhân.
2/ Do vòi tử cung, bất thường yếu tố cổ tử cung.
3/ Lạc nội mạc tử cung.
4/ Rối loạn phóng noãn.
5/ Tinh trùng ít, tinh trùng yếu.
6/ Bất thường phóng tinh.
7/ Bất thường về miễn dịch.
8/ Phối hợp nhiều bất thường trên.
9/ Bơm tinh trùng người cho.
1.5.2. Kết quả và điều kiện cần thiết của mẫu tinh trùng để làm IUI
Tiêu chuẩn về tinh dịch đồ được WHO đưa ra 2010 tập trung đến tổng số
1.6. CÁC THUỐC KÍCH THÍCH BUỒNG TRỨNG TRONG IUI.
Kích thích buồng trứng trong điều trị vô sinh đóng một vai trò rất quan
trọng trong hỗ trợ sinh sản nhằm thu được đủ số nang với chất lượng tốt nhất
từ đó tăng khả năng có thai. Tránh được hiện tượng hoàng thể hóa sớm, tránh
phóng noãn tự nhiên, cải thiện tình trạng niêm mạc tử cung, giảm bớt những
phiền hà cho bệnh nhân, giảm tỷ lệ bệnh nhân bị quá kích buồng trứng, lượng
thuốc sử dụng tối thiểu với chi phí ít nhất và không bị quá kích buồng trứng
và đa thai [33], [34].
17
1.6.1. Nhóm làm tăng FSH nội sinh
1.6.1.1. Clomiphene citrate (CC)
Clomiphene citrate (CC) đã được sử dụng điều trị vô sinh do rối loạn
phóng noãn từ năm 1961. Sau hơn 40 năm thực tế trên thế giới người bệnh,
CC vẫn được thường xuyên sử dụng bởi vì nó là thuốc uống khá hiệu quả và
rất kinh tế đối với bệnh nhân vô sinh. Tuy nhiên trên bệnh nhân hội chứng
BTĐN, người ta thấy có một tỷ lệ khá cao tình trạng kháng CC (40%) [51].
Thuốc thường được dùng là clomiphene citrate dạng viên chứa 50mg
dưới các tên biệt được: Clomid, Serophen, Ovophen, Duinum..
Cơ chế tác động:
CC có tính chất kháng estrogen, gắn kết cạnh tranh với thụ thể của
estrogen tại tuyến yên, nội mạc tử cung, có thể ở vùng hạ đồi và buồng trứng.
Sự gắn kết của CC với thụ thể estrogen tại vùng hạ đồi và tuyến yên khiến
cho estrogen do các nang noãn tiết ra không thể có tác dụng feedback âm tính
lên vùng hạ đồi và tuyến yên được. Không có feedback âm tính, vùng hạ đồi
và tuyến yên sẽ tiếp tục tăng tiết FSH để kích thích các nang noãn của buồng
trứng phát triển.
Tác dụng phụ:
xuất estrogen. Hoạt động thơm hoá hiện diện ở nhiều loại mô hình như:
buồng trứng, não, mô mỡ, cơ, gan, mô vú, và khối u ác tính ở vú. Nguồn
estrogen lưu hành chủ yếu ở phụ nữ mãn kinh là từ buồng trứng và ở phụ nữ
sau mãn kinh là từ mô mỡ [52].
Những loại thuốc ức chế men thơm hóa hiện nay gồm có: Letrozole
(Femara 2,5 mg, Novartis, Switzerland) hoặc Anastrozole (Arimidex 1mg,
AstraZeneca, USA)
Cơ chế tác động:
Men thơm hóa là men giúp chuyển đổi androgen thành estrogen. Nhóm
AI sẽ ức chế hoạt động của men này, khiến cho androgen không được tế bào
hạt chuyển đổi thành estrogen. Nồng độ estrogen trong cơ thể thấp sẽ kích
thích vùng dưới đồi tăng tiết GnRH, GnRH kích thích tuyến yên tăng tiết FSH.
19
Tác dụng phụ:
Thuốc được dung nạp khá tốt, ít có tác dụng phụ. Các tác dụng phụ hiếm
gặp gồm: nhức đầu, căng ngực, cơn bốc hỏa, buồn nôn và nôn .
Nguy cơ quá kích buồng trứng thấp hơn so với khi dùng CC hay
gonadotropins. Số nang noãn tối đa phát triển khi dùng AI thường là 3 nang.
Chống chỉ định:
Dị ứng với thành phần của thuốc, có thai, cho con bú.
1.6.2. Nhóm làm tăng FSH ngoại sinh (gonadotropins)
1.6.2.1. Nguồn gốc và sự phát triển của các chế phẩm gonadotropins
Năm 1927, Aschheim và Zondek đã phát hiện trong nước tiểu của phụ
nữ có thai một chất có hoạt tính giống với yếu tố hướng sinh dục của thùy
trước tuyến yên và gọi tên là gonadotropins hoặc Prolan. Năm 1930, Zondek
đã tìm thấy gonadotropins trong nước tiểu của phụ nữ mãn kinh. Năm 1947,
Piero Donini, một nhà hóa học của Serono (Rome, Italy) đã tinh chế được
da, dạng trình bày: bút tiêm hoặc bơm tiêm pha sẵn [54], [55], [56].
Bảng 1.1. Các loại FSH ngoại sinh (Gonadotropin) [6], [57].
Chế phẩm
Biệt
dƣợc
Hoạt tính FSH Hoạt tính LH
(IU)
(IU)
Đƣờng
tiêm
hMG
Menogon
IVF-M
75
75/150
75
75
Tiêm bắp
hMG nước tiểu
tinh chế cao
Gonal-F
75/300/450
Follitrope 75/150/225/300
Puregon 50/100/300/600
21
1.6.2.2. Cấu trúc của gonadotropins
FSH và LH là các glycoprotein bao gồm 2 chuỗi polypeptid liên kết
không phải đường nối cộng hóa trị với tiểu đơn vị α và β và vài chuỗi
carbohydrate phụ. Tiểu đơn vị α của FSH bao gồm 89 amino acids, của LH là
92 amino acids. Tiều đơn vị β của FSH chứa 111 amino acids và có 6 cầu nối
disulfide. Tiểu đơn vị β của LH được tạo bởi 112-115 amino acids và chứa 6
cầu nối disulfide. Chính các cầu nối disulfide tạo nên cấu trúc của
gonadotropins [55].
1.6.2.3. Tác dụng và cơ chế tác dụng của gonadotropins
Tác dụng và cơ chế: FSH kích thích trực tiếp lên buồng trứng làm các
nang noãn phát triển thành nang noãn trưởng thành, chín và phóng noãn [37].
Tác dụng không mong muốn: Quá kích buồng trứng, phản ứng tại chỗ
(hiếm) như: sưng, đau, đỏ, ngứa. Đa thai và nguy cơ tắc mạch (hiếm) thường
ở người có tiền sử gia đình, béo phì [37].
1.6.2.4. Chỉ định và chống chỉ định của gonadotropins
Chỉ định: Các bệnh nhân vô sinh do rối loạn phóng noãn (kể cả bệnh
nhân buồng trứng đa nang) ở những phụ nữ không đáp ứng với điều trị bằng
Clomiphene Citrat. Tất cả các trường hợp này, buồng trứng còn hoạt động tốt,
do vậy khi dùng FSH sẽ kích thích nang noãn phát triển. Các trường hợp vô
sinh do lạc nội mạc tử cung ở mức độ nhẹ và vừa [58].
Chống chỉ định: trong các trường hợp có khối u ở buồng trứng, khối u ở vú,
ở tử cung, ở tuyến yên hoặc ở vùng dưới đồi. Có thai và cho con bú, xuất huyết
23
mạc tử cung và chất nhầy cổ tử cung [43]. Tỷ lệ có thai của phác đồ dùng CC
theo Đỗ Thị Hằng Nga năm 2012 là 12,8% [5].
1.7.2. Phác đồ sử dụng gonadotropin tiếp sau clomiphen citrate
Dùng clomiphen citrate 50-100 mg/ngày x 5 ngày từ ngày thứ 2-5 của
chu kỳ kinh. Dùng FSH 50-75 đơn vị/ngày tiếp tục ngay sau dùng CC đến khi
dùng hCG [43]. Tỷ lệ có thai của phác đồ dùng CC + FSH theo Đỗ Thị Hằng
Nga năm 2012 là 21,2% [5].
1.7.3. Phác đồ dùng FSH liều tăng dần (step up protocol)
Liều FSH khởi đầu 50-75 đơn vị/ngày tiêm dưới da hoặc tiêm bắp, tùy
thuốc, tiêm trong thời gian 3-8 ngày, bắt đầu từ ngày 2-5 của kỳ kinh, kết hợp
siêu âm để theo dõi sự phát triển của nang noãn. Nếu không đáp ứng cân nhắc
tăng liều lên 100-150 đơn vị trong 5-7 ngày [43]. Tỷ lệ có thai của phác đồ
dùng FSH theo Đỗ Thị Hằng Nga năm 2012 là 31,2% [5].
1.7.4. Phác đồ dùng FSH liều giảm dần (step down protocol)
Phác đồ này dùng FSH vào ngày thứ 3 của chu kỳ kinh với liều 100-150
đơn vị/ngày trong 3-4 ngày, sau đó siêu âm, nếu có nang trên 12 mm thì giảm
liều xuống 75-100 đơn vị/ngày trong 2-3 ngày, siêu âm nang phát triển hơn
(trung bình 1,5-2 mm/ngày) thì giảm liều 50-75 đơn vị/ngày cho đến khi đủ
điều kiện tiêm hCG [43].
1.7.5. Phác đồ dùng FSH liều thấp tăng dần (low dose step up protocol)
Áp dụng cho bệnh nhân buồng trứng đa nang để bơm IUI. Liều FSH
25 IU/ngày x 14 ngày, sau đó siêu âm, nếu không có nang trội thì tăng 25
IU/lần, mỗi lần 5 ngày rồi lại siêu âm để đánh giá nang cho đến khi đủ điều
kiện tiêm hCG [43].
khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Kết quả của nghiên cho thấy rằng rFSH
tái tổ hợp hiệu quả hơn HP-uFSH [62].
Nghiên cứu của Isaza V. và cộng sự (2003):
So sánh kết quả của KTBT trong các cặp vợ chồng IUI với liều hàng
ngày 100 IU rFSH so với 150 IU HP-uFSH, có 118 chu kỳ được chọn ngẫu
nhiên sử dụng rFSH và 106 chu kỳ sử dụng HP-uFSH. Kết quả trong nhóm
rFSH liều FSH thấp hơn đáng kể (799,1 so với 1.293,ên0 IU, p < 0,001) trong
nhóm HP-uFSH, không có sự khác biệt giữa các nhóm trong số các nang
trứng ≥ 17 mm. Kết luận liều hàng ngày 100 IU rFSH hiệu quả hơn HP-uFSH
ở phụ nữ điều trị IUI [63].
Nghiên cứu của Van Wely M., Bayram N. và Van der Veen F. (2003):
So sánh FSH tái tổ hợp với HP-uFSH cho KTBT trong vô sinh liên quan
đến hội chứng buồng trứng đa nang, kết quả không có sự khác biệt về tỷ lệ có
thai giữa hai phác đồ [64].
Nghiên cứu của Gerli S. và cộng sự (2004):
So sánh HP-uFSH và rFSH trong tổng số 67 bệnh nhân IUI chia làm hai
nhóm: 32 bệnh nhân dùng Fostimon và 35 bệnh nhân dùng Puregon. Kết quả
phát triển nang trứng, thời gian kích thích, mang thai và tỷ lệ thai sống không
khác biệt về mặt thống kê. Trong nhóm HP-uFSH lượng đơn vị gonadotropin
cao hơn đáng kể so với nhóm rFSH (815,5 ± 284,9 so với 596,0 ± 253,8). Tỷ
lệ chi phí cho mỗi chu kỳ trong nhóm HP-uFSH là thấp hơn đáng kể so với
nhóm rFSH [65].