PHẦN MỘT - ĐẶT VẤN ĐỀ
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đất nước ta đã và đang trên đà phát triển công nghiệp hóa hiện đại
hóa, vấn đề chất lượng nguồn lực con người là vấn đề rất cần được quan tâm.
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu
mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự
nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Một trong những định
hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính
hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình
thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Đổi
mới phương pháp giảng dạy là một trong những yêu cầu cấp thiết đối với ngành
giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, là sự sống còn của mỗi
cơ sở đào tạo.
Phương pháp giảng dạy là yếu tố quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến
chất lượng đào tạo. Một phương pháp giảng dạy khoa học, phù hợp sẽ tạo điều
kiện để giáo viên, và người học phát huy hết khả năng của mình trong việc
truyền đạt, lĩnh hội kiến thức và phát triển tư duy. Một phương pháp giảng dạy
khoa học sẽ làm thay đổi vai trò của người thầy đồng thời tạo nên sự hứng thú,
say mê và sáng tạo của người học.
Để đáp ứng những yêu cầu của đổi mới giáo dục, là một giáo viên đang
trực tiếp giảng dạy học sinh ở trường THPT tôi luôn nhận thức sâu sắc nhiệm
vụ và vai trò của một nhà giáo. Trong mỗi tiết học cần phải chủ động tìm ra các
PPDH mới phù hợp với từng nội dung bài học và từng đối tượng học sinh. Làm
sao để mỗi tiết học không nặng nề căng thẳng, không áp đặt cách truyền thụ
kiến thức một chiều mà ngược lại để cho học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức.
Vì vậy, vai trò mới của người giáo viên trở thành nhân tố kích thích trí tò mò
của học sinh, mài sắc thêm năng lực nghiên cứu độc lập, tăng cường khả năng
tổ chức, sử dụng kiến thức và khả năng sáng tạo.
1
+ Cách thức vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề vào chủ đề
“Chủ đề khí quyển địa lí lớp 10 – cơ bản " nhằm phát triển năng lực của học
sinh.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nghiên cứu áp dụng đối với học sinh khối 10 tại đơn vị công tác, trong
năm học 2016-2017.
+ Nghiên cứu chỉ tập trung vào lĩnh vực phương pháp dạy học giải quyết
vấn đề, trong phạm vi kiến thức là Chủ đề khí quyển địa lí lớp 10 – cơ bản
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
" Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề để dạy chủ đề: Khí
quyển - chương trình địa lí lớp 10 cơ bản nhằm phát triển năng lực của học
sinh" nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành
và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm
thông tin...), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo
của tư duy. “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức,
hướng dẫn của giáo viên”
.4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phương pháp GQVĐ trong
dạy học
- Xác định những THCVĐ trong phần khí quyển địa lí lớp 10 cơ bản
- Nghiên cứu xây dựng chủ đề: Khí quyển chương trình địa lí 10 cơ bản.
- Xây dựng tiến trình dạy học giải quyết vấn đề vào chủ đề ''Khí quyển''
nhằm định hướng phát triển năng lực của học sinh.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm và đánh giá kết quả nghiên cứu tại đơn
vị công tác.
- Đề xuất những định hướng đổi mới phương pháp dạy học Địa lý THPT
phù hợp với yêu cầu giai đoạn hiện nay.
3
cố vấn của thầy trong việc hướng dẫn, giúp đỡ học sinh tích cực hoạt động
GQVĐ đặt ra trong bài học cũng như trong những tình huống thực tiễn.
PHẦN HAI - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH
1.1.1. Khái niệm về năng lực
- Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng,
thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các
tình huống đa dạng của cuộc sống.
- Phân loại năng lực:
+ Năng lực chung: Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu
hoặc cốt lõi… làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống
và lao động nghề nghiệp. Một số năng lực cốt lõi của học sinh: Năng lực tự học
gồm năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực tự quản lý, năng
lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng CNTT, năng lực sử dụng ngôn
ngữ, năng lực tính toán.
+ Năng lực chuyên biệt: Là những năng lực được hình thành và phát triển
trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các
loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết
cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt
động như Toán học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao, Địa lí,…Một số năng lực
5
chuyên biệt môn Địa lí: Năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ, năng lực học
tập tại thực địa, năng lực sử dụng bản đồ, năng lực sử dụng số liệu thống kê,
năng lực sử dụng ảnh, hình vẽ, video clip, mô hình...
thức, kỹ năng và định hướng hình thành năng lực.
Bước 5: Tổ chức các hoạt động học tập cho chủ đề lựa chọn.
1.2. Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề (GQVĐ)
1.2.1. Khái niệm vấn đề
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm "vấn đề". Theo ngôn ngữ
thông thường hiểu nôm na "vấn" là "hỏi", "đề" là "đặt ra". Vấn đề là câu hỏi
đặt ra bao hàm cả nghĩa cần giải quyết.
Từ điển tiếng Việt đã giải thích: Vấn đề được hiểu như một mâu thuẫn
nào đó mà tư duy hay nhận thức cần xem xét, nghiên cứu và giải quyết.
Như vậy vấn đề được hiểu như một mâu thuẫn nhận thức và cần thiết phải
vượt qua, hay nói cách khác vấn đề xuất hiện khi con người đã ý thức được sự
cấp bách của việc khắc phục mâu thuẫn trong sự vật khách quan để thúc đẩy sự
phát triển của sự vật.
7
1.2.2. Phương pháp dạy học GQVĐ
1.2.2.1. Bản chất
Có nhiều quan niệm cũng như tên gọi khác nhau để chỉ DHGQVĐ
như dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải quyết vấn đề… Dù tên gọi
có khác nhau nhưng nhìn chung mục tiêu cơ bản của dạy học giải quyết vấn đề
là nhằm rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề ở người học, là con đường quan
trọng nhất để phát huy tính tích cực của người học. Tất nhiên trong đó cần bao
gồm khả năng nhận biết và phát hiện vấn đề.
Phương pháp dạy học GQVĐ (prolem posing and solving) hay dạy học
nêu vấn đề (problem based learning), là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra
trước học sinh một vấn đề hay một hệ thống những vấn đề nhận thức có chứa
đựng những mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển học sinh vào
THCVĐ, kích thích các em tự giác, có nhu cầu mong muốn GQVĐ tức là làm
cái chưa biết cần phải khám phá, nhận thức, giữa vốn kiến thức khoa học đã có
và vốn kiến thức thực tiễn đa dạng.
+ Vấn đề đặt ra cũng có thể là nghịch lí, một sự kiện bất ngờ, một điều
gì không bình thường so với cách hiểu của học sinh và đôi khi thoạt đầu có vẻ
như vô lí làm cho học sinh ngạc nhiên.
+ Vấn đề đặt ra có thể là một sự kiện, một hiện tượng mới mà học sinh
không thể dùng những hiểu biết của mình, vốn kiến thức cũ để giải thích được.
+ Vấn đề đặt ra cũng có thể là mối quan hệ nhân quả cần phải giải quyết.
+ Vấn đề còn được đặt ra trong trường hợp học sinh đứng trước sự lựa
chọn một phương án giải quyết trong số nhiều phương án, mà xem phương án
nào cũng hợp lý.
9
Để vấn đề trở thành tình huống đối với học sinh, câu hỏi đặt vấn đề phải
đạt 3 điều kiện sau:
+ Trong nội dung câu hỏi phải có phần học sinh đã biết, phần kiến thức
cũ và có phần học sinh chưa biết, phần kiến thức mới. Hai phần này phải có
mối quan hệ với nhau, trong đó phần học sinh chưa biết là phần chính của câu
hỏi, học sinh phải có nhiệm vụ tìm tòi, khám phá.
+ Nội dung câu hỏi phải thật sự kích thích, gây hứng thú nhận thức đối
với học sinh. Trong rất nhiều trường hợp, câu hỏi gắn với các vấn đề thực tế
gần gũi thường lôi cuốn hứng thú học sinh nhiều hơn.
+ Câu hỏi phải vừa sức học sinh. Các em có thể giải quyết được hoặc
hiểu được cách giải quyết dựa vào việc huy động vốn tri thức sẵn có của mình
bằng hoạt động tư duy. Trong các câu hỏi nên hàm chứa phương hướng
GQVĐ, tạo điều kiện làm xuất hiện giả thuyết và tìm ra con đường giải quyết
đúng.
THCVĐ có thể được tạo ra vào lúc bắt đầu bài mới, bắt đầu một mục của
kiến thức.
1.2.2.3. Các mức độ của phương pháp dạy học GQVĐ
Dạy học GQVĐ có nhiều mức độ khác nhau:
- Mức 1:
+ Giáo viên đặt vấn đề, phát biểu vấn đề, nêu cách GQVĐ.
+ Học sinh thực hiện cách GQVĐ theo hướng dẫn của giáo viên.
+ Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh.
11
Mức độ này học sinh hầu như không động não. Có chăng chỉ có vài ba
học sinh khá trong lớp. Số còn lại làm gì giáo viên không thể kiểm soát được.
Yêu cầu đối với phương pháp dạy học không thể chỉ dừng lại ở đây. Tuy rằng
giáo viên đã có ý thức sử dụng phương pháp mới để phát huy tính tích cực hoạt
động cho học sinh nhưng hiệu quả chưa cao.
12
- Mức 2 :
+ Giáo viên đặt vấn đề gợi ý học sinh tìm ra cách GQVĐ.
+ Học sinh thực hiện cách GQVĐ.
+ Giáo viên cùng học sinh đánh giá.
Mức độ này học sinh đã được hoạt động nhiều hơn, giáo viên thực sự là
người dẫn dắt để học sinh giải quyết các vấn đề. Sự giúp đỡ của giáo viên chỉ
dừng lại ở mức hướng dẫn.
Giáo viên thường sử dụng mức độ 2 khi vốn kinh nghiệm, vốn tri thức của
học sinh chưa nhiều. Trong nhiều trường hợp, mức độ 2 thể hiện được quan
niệm dạy học hiện đại: học sinh tự mình tìm kiếm tri thức mới. Chẳng hạn
tích cực. Mà ở đây là tự giác khám phá ra các tri thức mới từ cuộc sống. Giáo
viên phải thường xuyên lưu ý đến việc tổ chức cho học sinh giải quyết các tình
huống ở mức 1, 2 và 3. Từ việc giải quyết các tình huống có sự giúp đỡ của
giáo viên học sinh sẽ làm quen dần và hình thành được kĩ năng, năng lực
GQVĐ, mà cao hơn là đưa ra được các vấn đề và tự GQVĐ vấn đề đó.
1.2.2.4. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học GQVĐ.
* Ưu điểm :
- Phương pháp này góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy phê phán, tư
duy sáng tạo cho HS. Trên cơ sở sử dụng vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có
HS sẽ xem xét, đánh giá, thấy được vấn đề cần giải quyết.
- Đây là phương pháp phát triển được khả năng tìm tòi, xem xét dưới nhiều góc
độ khác nhau. Trong khi phát hiện và giải quyết vấn đề, HS sẽ huy động được
14
tri thức và khả năng cá nhân, khả năng hợp tác, trao đổi, thảo luận với bạn bè
để tìm ra cách giải quyết vấn đề tốt nhất.
- Thông qua việc giải quyết vấn đề, HS được lĩnh hội tri thức, kĩ năng và
phương pháp nhận thực .
* Hạn chế :
- Phương pháp này đòi hỏi GV phải đầu tư nhiều thời gian và công sức, phải có
năng lực sư phạm tốt mới suy nghĩ để tạo ra được nhiều tình huống gợi vấn đề
và hướng dẫn tìm tòi để phát hiện và giải quyết vấn đề.
- Việc tổ chức tiết học hoặc một phần của tiết học theo phương pháp phát hiện
và giải quyết vấn đề đòi hỏi phải có nhiều thời gian hơn so với các phương
pháp thông thường
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trong chương trình địa lí 10 nội dung phần khí quyển bao gồm những
kiến thức mới và những kiến thức học sinh đã được học ở lớp 6. Tuy nhiên ở
-
Bài 14: Thực hành : Đọc bản đồ sự phân hóa các đới và các kiểu khí
hậu trên Trái Đất. Phân tích biểu đồ một số kiểu khí hậu.
Chủ đề nhằm góp phần ôn tập lại các kiến thức của lớp 6, vừa giúp học
sinh biết xâu chuỗi kiến thức, hệ thống kiến thức, khái quát kiến thức đã học
với các kiến thức mới, đồng thời phát triển năng lực giải quyết vấn đề và áp
dụng vào thực tiễn.
Phương pháp giải quyết vấn đề (problem solving) đã phải trải qua nhiều
thử thách, thực nghiệm trong gần suốt một thế kỷ 20 để đến gần đây mới được
sử dụng thực sự ở nhiều trường học ở Hoa Kỳ và trở thành một yếu tố chủ đạo
trong cải cách giáo dục ở một số nước khác. Đó là một phương pháp dạy và học
mới phù hợp với triết lý về khoa học và giáo dục hiện đại, đáp ứng tốt những
yêu cầu về giáo dục trong thế kỷ 21. Ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là
học sinh được tự mình khám phá tri thức, giải quyết mâu thuẫn nội tại và phát
huy năng lực giải quyết vấn đề. Tuy nhiên việc vận dụng phương pháp này ở
trường THPT nói chung và đơn vị tôi công tác nói riêng còn rất hạn chế. Thiết
nghĩ, trước nhu cầu Đổi mới giáo dục, cần mạnh dạn áp dụng những phương
pháp tiến tiến, biến nó thành một trong những phương pháp dạy học thường
xuyên để nâng cao hiệu quả dạy và học là một yêu cầu cấp thiết hiện nay.
16
CHƯƠNG II - KHẢ NĂNG VẬN DUNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
GQVĐ TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ KHÍ QUYỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA
LÍ LỚP 10 CƠ BẢN
vào trình độ nhận thức của học sinh, căn cứ vào nội dung bài học... để sử dụng
cho phù hợp tránh cứng nhắc, gò bó. Vận dụng điều này giáo viên có thể sử
dụng THCVĐ ở các bước sau:
1.1. Sử dụng THCVĐ để định hướng bài học mới
THCVĐ được sử dụng phần đầu giờ học nhằm mục đích gợi hứng thú, tạo
tâm thế cho học sinh khi bước vào bài học. Điều đáng chú ý là khi sử dụng
THCVĐ làm nhiệm vụ định hướng cho bài học thì nội dung của tình huống phải
chứa đựng những dữ kiện, những dấu hiệu triển khai ở phần nội dung bài học.
Ví dụ 1: Khi giới thiệu về chủ đề khí quyển giáo viên có thể đặt vấn đề:
Thiên nhiên quanh chúng ta luôn xảy ra các hiện tượng mây, mưa, gió,
bão...Nhưng trên Trái Đất tất cả các hiện tượng đó xảy ra không giống nhau ở
mỗi nơi khác nhau. Trên Trái Đất có nơi mưa nhiều, nơi mưa rất ít thậm chí
nơi không có mưa, cùng ở cùng một vĩ độ nhưng lại có nhiệt độ, độ ẩm, lượng
mưa ...khác nhau. Vì sao lại như vậy? Để trả lời được vấn đề đó trong chủ đề
này chúng ta sẽ tìm hiểu về lớp không khí bao quanh chúng ta và các hiện
tượng xảy ra trong lớp không khí đó.
1.2. Sử dụng THCVĐ để phát hiện và chiếm lĩnh tri thức mới của bài
học
Đây là tình huống có nhiệm vụ quan trọng trong giờ dạy học. Trong một
bài học có khi THCVĐ được dùng để tìm tòi kiến thức cho một mục, cũng có
18
khi để hiểu rõ một khái niệm nào đấy. Việc sử dụng 1 hay 2 THCVĐ trở lên
trong giờ dạy sẽ tạo ra sự khác nhau về tiến trình và tốc độ của giờ học, giáo
viên cần đảm bảo sự kết hợp chặt chẽ giữa việc sử dụng THCVĐ với các
phương pháp khác để đạt được mục tiêu bài học. Giáo viên cũng nên cân đối
giữa các kiến thức trong bài với các kiến thức được chọn để xây dựng THCVĐ
sao cho giữ được nhịp độ của giờ học thật hài hoà, uyển chuyển luôn hấp dẫn
vào giải thích hiện tượng này :
Vì ở Xích đạo diện tích lục địa ít,phần lớn diện tích là biển và đại dương
nên chỉ có một kiểu duy nhất là kiểu hải dương.
-Kết luận: Xích đạo chỉ có một kiểu khối khí duy nhất là khối khí hải
dương
Ví dụ 3: Khi dạy Bức xạ và nhiệt độ không khí.
- Đặt vấn đề: Góc chiếu càng lớn thì nhận được nhiệt càng nhiều.Nhưng
tại sao nhiệt độ không khí lúc 13giờ (góc chiếu nhỏ hơn lúc 12 giờ) cao hơn 12
giờ?
- Giải quyết vấn đề: Các tia bức xạ Mặt Trời đi qua khí quyển chỉ có
19% được khí quyển hấp thu nên chưa trực tiếp làm cho khí quyển nóng lên.
47% năng lượng bức xạ Mặt Trời được mặt đất hấp thụ rồi bức xạ lại vào khí
quyển, lúc đó không khí mới nóng lên.
- Kết luận: Nhiệt độ không khí lúc 13giờ cao hơn 12 giờ.
Ví dụ 4:
- Đặt vấn đề: Ta thấy nhiệt độ trung bình thường thay đổi theo vĩ độ
nhưng tại sao khi ta quan sát hình 11.3 ta thấy cùng một vĩ độ nhưng biên độ
nhiệt của các điểm nằm trên khoảng vĩ tuyến 52 0Bắc lại có sự khác nhau?
20
- Giải quyết vấn đề: Nhiệt độ không khí còn phụ thuộc vào vị trí gần hay
xa đại dương, gần đại dương biên độ nhiệt độ năm thấp, càng vào sâu trong lục
địa tính chất lục địa tăng nên biên độ nhiệt tăng.
- Kết luận: Càng xa đại dương biên độ nhiệt độ năm càng tăng, do tính
chất lục địa tăng dần.
1.3. Sử dụng THCVĐ để củng cố, đánh giá
Sử dụng THCVĐ ở bước này qua cách GQVĐ của học sinh sẽ giúp giáo
viên nắm được mức độ hiểu bài, khả năng vận dụng kiến thức của học sinh vào
nhau của giờ học nhưng chúng đều có chung một mục đích là tích cực hoá hoạt
động học tập của học sinh tạo điều kiện cho học sinh phát huy năng lực của
bản thân cũng như gắn bó với tập thể khi tham gia vào quá trình GQVĐ. Trước
THCVĐ đòi hỏi học sinh phải giải quyết, các em có dịp tranh luận bày tỏ chính
kiến của mình, vì thế hiểu bài nhanh, khắc sâu kiến thức lý thuyết, rèn luyện
được các kĩ năng đồng thời có khả năng vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực
tiễn. Vận dụng phương pháp dạy học GQVĐ còn cho phép phát huy khả năng
sáng tạo của giáo viên. Người thầy giáo với trình độ chuyên môn và khả năng
sư phạm của mình sẽ tạo ra được những giờ học lôi cuốn, hấp dẫn học sinh
nhằm nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy
học bộ môn.
2. Một số tình huống có vấn đề được sử dụng trong dạy học chủ đề
khí quyển chương trình địa lí lớp 10 cơ bản
22
1
Khí Đặt vấn đề định
- Thiên nhiên quanh chúng ta luôn xảy ra các
quyển.
Sự hướng chủ đề
hiện tượng mây, mưa, gió, bão...Nhưng trên
phân
- Các khối khí
- Tại sao các khối khí cực (A), ôn đới (P),chí
tuyến (T) đều có 2 kiểu là kiểu lục địa (c) và
kiểu hải dương (m) nhưng riêng khối khí xích
đạo chỉ có một kiểu duy nhất là kiểu hải
- Frông
dương (Em)?
- Frông là mặt ngăn cách của 2 khối khí khác
biệt nhau về tính chất vật lí. Trên mỗi bán cầu
có 2 frông căn bản là Frông địa cực(FA) và
Frông ôn đới(FP).Nhưng tại sao ở chí tuyến
và xích đạo cũng là nơi gặp nhau của 2 khối
khí nhưng không tạo thành Frông thường
- Sự phân bố của
xuyên và rõ nét?
nhiệt độ không khí
- Vì sao trên Trái Đất nhiệt độ trung bình
23
trên Trái Đất
hàng năm không cao nhất ở xích đạo mà lại
loại gió đó?
- Sự phân bố khí áp
Quan sát hình 12.1, các đai áp cao và áp thấp
phân bố xem kẽ và đối xứng qua đai áp thấp
xích đạo. Nhưng tại sao trên thực tế chúng lại
phân bố không liên tục mà bị chia cắt thành
2: Sự phân
từng khu khí áp riêng biệt. Vậy nguyên nhân
bố khí áp.
là do đâu?
Một số loại
- Nguyên nhân thay
- Nhiệt độ giảm thì khí áp tăng.Nhưng tại sao
24
đổi của khí áp
khi lên cao nhiệt độ giảm nhưng khí áp lại
giảm?
- Một số loại gió
ảnh hưởng đến
sao miền ven Đại Tây Dương của Tây Bắc
lượng mưa
châu Phi cũng nằm ở vĩ độ như nước ta,
nhưng có khí hậu nhiệt đới khô, còn ở nước
ta lại có khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa nhiều?
- Dòng biển
Ta thường thấy rằng những vùng gần biển,
đại dương thường có khí hậu điều hòa, nóng,
ẩm, mưa nhiều nhưng tại sao ở một số vùng
ven bờ vẫn hình thàng hoang mạc ví dụ như:
Hoang mạc Namíp, hoang mạc Atacama?
25