SKKN kinh nghiệm sử dụng atlat địa lí việt nam để dạy và học tốt địa lí lớp 12 - Pdf 51

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Trong thời đại ngày nay, sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kĩ thuật và
công nghệ là đặc điểm nổi bật và là sự thiết yếu của phát triển bền vững. Xu hướng
đó đã đặt ra những yêu cầu cho giáo dục đào tạo là xây dựng con người mới năng
động, sáng tạo, có năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn. Trước tình hình đó
nhiệm vụ của giáo viên nói chung, giáo viên Địa lí nói riêng ở trường THPT là phải
cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học địa lý bằng cách sử dụng nhiều
phương pháp dạy học mới, khai thác triệt để các phương tiện trực quan để nhằm
phát triển năng lực tư duy sáng tạo của học sinh.
Trong việc dạy và học môn Địa lí ở trường phổ thông, Atlat Địa lí Việt Nam
có ý nghĩa hết sức quan trọng. Atlat được xem như cuốn sách giáo khoa thứ hai
giúp cho người học đào sâu những tri thức Địa lí và đồng thời giúp cho giáo viên
thuận lợi trong việc giảng dạy môn địa lý.
Một trong những vai trò quan trọng của giáo viên Địa lí phổ thông hiện nay
là hướng dẫn học sinh sử dụng Atlat để khai thác thông tin, tìm tòi khám phá kiến
thức mới, rèn luyện cho học sinh kĩ năng về bản đồ, biểu đồ, các kĩ năng tư duy,
phân tích, tổng hợp để lĩnh hội một cách chuẩn xác và phát huy được tính tích cực
trong học Địa lí.
Trong thực tế hiện nay ở trường THPT, việc sử dụng Atlat trong dạy học Địa
lí còn nhiều hạn chế. Phần lớn giáo viên chưa nhận thức một cách đầy đủ, chưa
khai thác, sử dụng nguồn tri thức trong Atlat. Về phía học sinh chưa quan tâm đến
Atlat, rất ít khi sử dụng Atlat nên trang bị Atlat chưa đầy đủ. Mặt khác HS vẫn còn
yếu về kĩ năng sử dụng bản đồ, biểu đồ, do vậy tồn tại cách học thuộc lòng, thụ
động, ghi nhớ máy móc, chưa có năng lực độc lập tư duy sáng tạo. Từ đó, việc học
tập Địa lí đạt hiệu quả chưa cao. Điều này được thể hiện rõ qua quá trình kiểm tra,
đánh giá, thi cử và phát triển năng lực tư duy sáng tạo của học sinh.
Từ thực tế trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Kinh nghiệm sử dụng Atlat
Địa lí Việt Nam để dạy và học tốt Địa lí lớp 12”
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Việc khai thác Atlat Địa lí Việt Nam để dạy và học tốt Địa lí lớp 12 nhằm

phỏng vấn một số giáo viên của trường về tình hình sử dụng Atlat.
- Phương pháp thực nghiệm: Tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm ở 4 lớp 12 của
trường THPT Hà Trung, 2 lớp có sử dụng Atlat và 2 lớp không sử dụng Atlat, sau
đó tiến hành kiểm tra, đánh giá bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách.
- Phương pháp toán học thống kê: Sử dụng công thức toán học thông kê để tính
điểm kiểm tra đã chấm trong thực nghiệm sư phạm.
- Đúc rút kinh nghiệm trong việc dạy học của bản thân thông qua phương pháp
thực nghiệm sư phạm tiến hành dạy ở 4 lớp nói trên.

2


2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của đề tài
Atlat Địa lí Việt Nam là một tài liệu học tập hữu ích không chỉ đối với học
sinh mà còn cả với giáo viên, nhất là ở bậc THPT.
a. Đối với giáo viên
- Atlat Địa lí Việt Nam phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu và giảng
dạy địa lí. Cụ thể là Atlat giúp giáo viên trong các khâu của quá trình dạy học như
khâu chuẩn bị bài, giảng bài, kiểm tra, củng cố, hướng dẫn học sinh làm bài tập,
học bài và chuẩn bị bài mới được thuận lợi hơn.
- Atlat Địa lí Việt Nam có chức năng minh họa và chức năng nguồn tri thức
sẽ giúp giáo viên trong việc sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học.
+ Đối với chức năng minh họa, Atlat có đầy đủ các kênh hình như bản đồ,
biểu đồ, lát cắt, tháp tuổi… sẽ minh họa cho bài giảng của giáo viên hoặc giảng giải
cho nội dung bài học.
+ Đối với chức năng nguồn tri thức, Atlat chứa đựng tri thức địa lí nên để có thể
sử dụng hiệu quả thì bắt buộc giáo viên phải sử dụng linh hoạt các phương pháp
dạy học. Cụ thể, giáo viên phải sử dụng các phương pháp dạy học lấy học sinh làm
trung tâm để có thể kích thích được hứng thú học tập cũng như giúp các em tự lĩnh

a. Thực trạng.
Qua kết quả thăm dò ý kiến của các giáo viên và học sinh trên địa bàn huyện
Hà Trung cho thấy:
- Đa số giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng Atlat
Địa lí Việt Nam trong dạy học Địa lí lớp 12 THPT. Tuy nhiên nhiều giáo viên chưa
sử dụng một cách thường xuyên và hiệu quả Atlat Địa lí Việt Nam trong các tiết
dạy cũng như trong việc kiểm tra đánh giá đối với học sinh.
- Về phía học sinh cảm thấy hứng thú hơn, dễ hiểu bài hơn khi học tập và
kiểm tra với Atlat. Tuy nhiên, đa số các em chỉ mới sử dụng Atlat ở mức độ đơn giản
như: đọc hiểu bản đồ, biểu đồ và xác định được các đối tượng địa lí. Như vậy có thể
thấy kĩ năng sử dụng Atlat của các em vẫn còn yếu.
Điều này gây khó khăn cho cả giáo viên và học sinh trong việc dạy và học tốt
chương trình Địa lí lớp 12 THPT.
b. Nguyên nhân của thực trạng
- Kĩ năng sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam của HS còn yếu do một số GV chưa
sử dụng Atlat thường xuyên trong dạy học, chưa hướng dẫn kĩ phương pháp sử
dụng Atlat cho HS. Bên cạnh đó, ý thức học tập môn Địa lí của học HS chưa cao,
nhiều em có tính ỉ lại, không chịu tìm tòi, không chủ động nắm bắt kiến thức, khả
năng tổng hợp kiến thức kém, tiếp thu bài chậm.
- Về phía giáo viên mới chỉ quan tâm đến kiến thức nội dung chính của bài
và những kiến thức nào cần học thuộc. Do đó, bài giảng còn chưa thật hấp dẫn,
chưa thu hút học sinh. Các phương pháp giảng dạy còn hạn chế, chưa thật sự phát
huy được vai trò của đồ dùng dạy học (mà ở đây là bản đồ; tranh ảnh). Bài giảng
cứng nhắc, nặng về nội dung văn bản, thiếu tính sáng tạo.
c. Kết quả của thực trạng
Để tìm hiểu thực trạng của vấn đề đang nghiên cứu, tôi đã tiến hành khảo sát
chất lượng đối với học sinh các lớp 12A, 12C, 12D, 12E của trường THPT Hà
Trung năm học 2015 - 2016, trước khi tiến hành việc tăng cường sử dụng Atlat
trong dạy học Địa lí. Kết quả như sau:
Giỏi

28
58.5 4
8.5
0
0
4


12D
12E

45
45

1
0

2.2
0

15
13

33.4
28.8

24
23

53.4

dụng Atlat để:
- Xác định các điểm cực trên phần đất liền của nước ta:
Học sinh căn cứ vào Atlat trang 4 -5 có thể xác định được các điểm cực trên
đất liền của nước ta như sau:
+ Điểm cực Bắc: tại xã Lũng Cú (tỉnh Hà Giang).
+ Điểm cực Nam: tại Xóm Mũi (tỉnh Cà Mau).
+ Điểm cực Đông: tại bán đảo Hòn Gốm (tỉnh Khánh Hòa).
+ Điểm cực Tây: tại xã Apachải (tỉnh Điện Biên).
- Xác định trên bản đồ các nước có chung đường biên giới trên đất liền và
trên biển với nước ta:
Căn cứ vào trang 4 – 5 của Atlat, học sinh dễ dàng kể được các nước có
chung đường biên giới trên đất liền với nước ta là Trung Quốc, Lào và Campuchia.
Các nước có chung biển Đông với nước ta là: Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan,
Malaixia, Inđônêxia, Singgapo, Bruney và Philippin.
Ví dụ 2: Ở Bài 9. Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa, khi dạy mục 1.c . Gió
mùa, GV có thể hướng dẫn HS quan sát bản đồ Khí hậu ở trang 9 Atlat Địa lí Việt
Nam, hoàn thành nội dung phiếu học tập sau:
Loại gió Nguồn gốc
Thời gian Phạm
vi Hướng gió Kiểu thời tiết
hoạt động hoạt động
đặc trưng
5


Gió mùa
đông

- Tháng XI, XII,
I:

Dương

Áp
Xibia

Thời gian Phạm vi Hướng gió
hoạt động hoạt động
cao Tháng XI Miền Bắc Đông Bắc
– IV

Áp cao cận Tháng VI Cả nước
chí tuyến – tháng X
nửa
cầu
Nam

Kiểu thời tiết đặc
trưng
- Tháng XI, XII, I:
Lạnh khô
- Tháng II, III:
Lạnh ẩm
Tây Nam
- Nóng ẩm ở Nam
Bộ và Tây Nguyên
- Nóng khô ở Bắc
Trung Bộ
Tây Nam, Nóng và mưa nhiều
riêng Bắc ở cả miền Bắc và
Bộ

năm 2007 có khoảng 85,17 triệu người).
+ Phân tích tháp tuổi trong biểu đồ để rút ra kết luận: Nước ta có cơ cấu dân
số trẻ, nhưng đang có xu hướng thay đổi nhanh chóng về cơ cấu dân số theo độ
tuổi. So sánh được giới tính giữa nam và nữ tương đối cân bằng.
+ Qua biểu đồ sử dụng lao động theo ngành, học sinh có thể nhận thức được:
Nước ta có nguồn lao động dồi dào, lao động trong nông - lâm - thuỷ sản chiếm tỉ
lệ cao, tỉ lệ lao động trong công nghiệp và dịch vụ còn thấp.

8


9


c. Phân tích bản đồ trong Atlat để rút ra nhận định về tình hình phát triển
của các ngành kinh tế nước ta.
Ví dụ 1: Ở Bài 22. Vấn đề phát triển nông nghiệp, khi dạy về nội dung phân
bố lúa (mục a. Sản xuất lương thực), GV yêu cầu HS dựa vào trang 19 Atlat Địa lí
Việt Nam:
+ Xác định những vùng có tỉ lệ diện tích trồng lúa so với diện tích cây lương thực
vào loại cao nhất – trên 90% (Đồng bằng sông Cửu Long, nhiều tỉnh ở Đồng bằng
sông Hồng)
+ Xác định vùng có diện tích trồng lúa và sản lượng cao nhất cả nước (Đồng bằng
sông Cửu Long)

Dạy về nội dung phân bố các cây công nghiệp, trước tiên, GV yêu cầu HS
dựa vào trang 19 Atlat Địa lí Việt Nam, kết hợp SGK tìm hiểu sự phân bố các cây
công nghiệp ở nước ta, rồi hoàn thành bảng sau:
10


trên lược đồ, biểu đồ thấy rõ đặc điểm phân hoá công nghiệp nước ta như thế nào?
Qua phần hướng dẫn kỹ năng sử dụng Atlat, học sinh nhanh chóng nhận thức
được:
+ Giá trị sản xuất công nghiệp của nước ta tăng liên tục từ 336,1 nghìn tỉ đồng
(2000) lên 1469,3 nghìn tỉ đồng (2007)
+ Công nghiệp nước ta phân bố không đều trên khắp lãnh thổ mà tập trung theo
từng khu vực, từng vùng như Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng.
+ Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước phân theo thành phần kinh
tế.
+ Các ngành công nghiệp trọng điểm của nước ta, giá trị sản xuất của các ngành
công nghiệp, những trung tâm công nghiệp lớn là TP Hồ Chí Minh và Hà Nội.
11


- Phân tích bản đồ trang 22 học sinh có thể nhận biết được một số ngành
công nghiệp trọng điểm như : Công nghiệp năng lượng, công nghiệp cơ khí luyện
kim, điện tử - tin học, hoá chất, công nghiệp hàng tiêu dùng, công nghiệp thực
phẩm…
Ví dụ 3: Sử dụng Atlat để tìm hiểu tình hình hoạt động các ngành dịch vụ
nước ta
- Phân tích bản đồ, biểu đồ trang 23, 24, 25 học sinh nhận thức được sự phân
bố và phát triển của các loại hình dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân:
+ Mạng lưới giao thông và đầu mối giao thông vận tải chính ở nước ta, mối
quan hệ giữa ngành giao thông vận tải với các ngành kinh tế khác: Giao thông
đường bộ ngày càng phát triển, giao thông đường thuỷ, đường sắt vận chuyển khối
lượng hàng hoá cao, tuyến đường bay trong nước, quốc tế ngày càng phát triển.
+ Các hoạt động thương mại như : Nội thương (Biết được số người kinh
doanh, hàng hoá bán lẻ qua các năm …), ngoại thương (Cơ cấu giá trị các mặt hàng
xuất khẩu giữa công nghiệp – nông nghiệp – thuỷ sản và tỷ trọng các mặt hàng
nhập khẩu so với xuất khẩu).

- Xác định đặc điểm tự nhiên : Địa hình, khí hậu, sông ngòi…
- Từ những đặc điểm trên, tìm thuận lợi khó khăn cho việc phát triển kinh tế của
vùng.
- Sau đó dựa vào bản đồ để phát hiện được các tiềm năng, các thế mạnh kinh tế của
vùng đó.
Ví dụ1 : Dựa vào Atlát trang 26 xác định vị trí địa lí của vùng Đồng bằng
sông Hồng. Từ đó rút ra ý nghĩa của vị trí địa lí trong việc phát triển kinh tế của
vùng.
- Phía Bắc và phía Tây giáp vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, phía Nam giáp
vùng Bắc Trung Bộ, phía Đông giáp biển Đông.
- Đây là vùng kinh tế trọng điểm, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp lúa nước,
công nghiệp, giao thông vận tải đi các nơi trong nước. Đồng thời ngành thuỷ - hải
sản có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Bên cạnh đó ngành giao thông đường
bộ, đường thuỷ, đường biển, đường hàng không đều phát triển thuận lợi. Ngành du
lịch cũng có rất nhiều tiềm năng.
- Về khí hậu trong vùng là nhiệt đới gió mùa, có đủ bốn mùa: xuân, hạ, thu , đông.
Mùa nóng có gió mùa Đông Nam từ biển thổi vào đem theo nhiều hơi nước gây
mưa nhiều thuận lợi sản xuất nông nghiệp. Nhưng kèm theo bão lũ ảnh hưởng đến
sản xuất. Mùa lạnh có gió mùa Đông Bắc lạnh và khô giúp ta trồng được các cây ôn
đới, nhưng cũng gây những khó khăn lớn như sương muối.. .
- Tình hình phân bố dân cư của vùng (Sử dụng bản đồ dân số trang 15 Atlat) để
nhận thức được : Đồng bằng sông Hồng có dân số đông nhưng phân bố không đều,
nơi đông dân nhất là Thủ đô Hà Nội .
Tóm lại đây là vùng kinh tế phát triển toàn diện có nền nông nghiệp, công
nghiệp, dịch vụ đều phát triển mạnh.
Ví dụ 2: Khi dạy Bài 37. Vấn đề khai thác thế mạnh ở Tây Nguyên, ở mục
1. Khái quát chung, GV có thể hướng dẫn HS sử dụng Atlat để tìm hiểu kiến thức
theo trình tự sau:
- Dựa vào trang 23 Atlat Địa lí Việt Nam để xác định vị trí địa lí của Tây Nguyên,
nêu tên các tỉnh thuộc Tây Nguyên.

Công suất
Hiện trạng (đang
hoạt động hay
đang xây dựng)
Xê xan
Xrê Pôk
Đồng Nai
- Học sinh trình bày kết quả và chỉ trên bản đồ các nhà máy thuỷ điện ở Tây
Nguyên
- GV có thể yêu cầu HS lên vẽ hoặc gắn các ngôi sao vào vị trí các nhà máy thuỷ
điện của Tây Nguyên.

14


Tương tự ta có thể hướng dẫn học sinh tìm hiểu các vùng kinh tế khác dựa
vào các trang bản đồ trong Atlat.
Qua các phân tích trên ta thấy rằng : Khi tìm hiểu các kiến thức về địa lí,
việc sử dụng Atlat đã giúp cho học sinh có phương pháp tiếp thu kiến thức chủ
động so với cách học thụ động trước đây. Học sinh tự tìm hiểu các kiến thức cần
15


thiết, bổ ích, ít phải thuộc lòng các kiến thức một cách máy móc, tầm nhìn khoa học
của học sinh được mở rộng hơn.
Như vậy việc khai thác kiến thức qua bản đồ, biểu đồ trong Atlat giúp học
sinh nhận thức kiến thức địa lí một cách nhẹ nhàng, đơn giản, tăng thêm hứng thú,
trên cơ sở đã mã hoá các thông tin bằng ký hiệu, mầu sắc, kích thước... làm cho học
sinh say mê học môn Địa lí hơn.
e. Sử dụng hình ảnh trong Atlat để khắc sâu kiến thức của bài học.

trường THPT Hà Trung sau thời gian áp dụng việc sử dụng Atlat trong dạy và học,
kết quả thu được như sau:
16


Lớp Sĩ số
12A
12C
12D
12E

47
45
42
45

Giỏi
SL
9
4
5
4

%
18
8,9
12
8,8

Khá


%
0
0
0
2,2

Kém
SL
0
0
0
0

%
0
0
0
0

Kết quả trên cùng với sự chuyển biến trong nhận thức, học và làm bài đối với
môn Địa lí của học sinh đã giúp tôi nhận thấy rõ tác dụng và sự cần thiết của việc
sử dụng Atlat trong dạy và học môn Địa lí lớp 12. Những năm học trước học sinh
phải ghi nhớ nhiều, học thuộc lòng nhiều nhưng khi làm bài kết quả thấp. Phương
pháp sử dụng Atlat trong dạy học Địa lí chắc chắn là phương pháp tiếp cận kiến
thức hợp lý nhất, rèn luyện tư duy nhận thức cho học sinh tốt hơn. Qua thực
nghiệm các tiết học có sử dụng Atlat diễn ra hào hứng và hấp dẫn hơn, lôi cuốn học
sinh nhiều hơn, phù hợp với tâm lý tuổi trẻ ưa tìm tòi khám phá những điều mới lạ .

17

- Sở Giáo dục nên tổ chức các chuyên đề về sử dụng Atlat cho giáo viên dạy môn
Địa lý ở các trường, trao đổi, đúc rút kinh nghiệm để việc sử dụng Atlat có hiệu quả
Trên đây là một số kinh nghiệm của riêng cá nhân tôi về cách sử dụng Atlat
hiệu quả để dạy và học tốt hơn môn Địa lí lớp 12 . Trong quá trình nghiên cứu và
vận dụng chắc chắn còn nhiều hạn chế. Rất mong nhận được sự chia sẻ và đóng
góp ý kiến của các đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA
Thanh Hóa, ngày 02 tháng 05 năm 2017
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
18


của người khác.
Đoàn Thị Mai Lan

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status