Vai trò của luật sư trong tố tụng dân sự - Pdf 51

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ HƯỜNG

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG
TỐ TỤNG DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2013


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ HƯỜNG

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG
TỐ TỤNG DÂN SỰ

Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU

1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LUẬT SƯ VÀ VỊ TRÍ,
VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

8

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VỀ LUẬT SƯ VÀ Ý NGHĨA VỀ SỰ THAM
GIA TỐ TỤNG CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1.1 Khái niệm Luật sư

8
8

1.1.2. Đặc điểm của Luật sư

14

1.1.3. Ý nghĩa về sự tham gia của Luật sư trong tố tụng dân sự

17


1.4.1. Những hệ thống luật cơ bản trên thế giới liên quan đến vai trò của
Luật sư trong tố tụng dân sự

36

1.4.2 Quy định của pháp luật một số nước đại diện cho các hệ thống Luật cơ
bản về vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự

41


CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

51

2.1. LUẬT SƯ VỚI VAI TRÒ ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN CỦA
ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
2.1.1. Về điều kiện thực hiện vai trò đại diện theo ủy quyền

51
51

2.1.2. Về quyền và nghĩa vụ tố tụng của Luật sư khi tham gia với vai trò đại
diện theo ủy quyền

54

2.2. LUẬT SƯ VỚI VAI TRÒ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ


3.1. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN VAI TRÒ HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

86

3.1.1. Những kết quả đạt được của việc thực hiện vai trò hoạt động của Luật
sư trong tố tụng dân sự

86

3.1.2. Những hạn chế, bất cập của việc thực hiện vai trò hoạt động của Luật
sư trong tố tụng dân sự

91

3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

107


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi




DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. BLDS :

Bộ luật dân sự

2. BLTTDS :

Bộ luật Tố tụng dân sự

3. XHCN:

Xã hội chủ nghĩa

4. PLTTGQCVADS :

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

5. TTDS :

Tố tụng dân sự


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien


1


về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn. Hoàn
thiện cơ chế để Luật sư thực hiện tốt tranh tụng tại phiên toà, đồng thời xác
định rõ chế độ trách nhiệm đối với Luật sư. Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý
để phát huy chế độ tự quản của Luật sư đối với các tổ chức thành viên của
mình”.[6]
Trong thời gian gần đây, số lượng Luật sư tham gia tố tụng để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự ngày một nhiều hơn. Với sự am hiểu
pháp luật, với kinh nghiệm và kỹ năng nghề nghiệp, Luật sư đã góp phần
không nhỏ vào việc làm sáng tỏ sự thật khách quan, giúp Tòa án giải quyết
đúng đắn các vụ việc dân sự, bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được cũng phải nhận thấy
rằng, vai trò hoạt động của Luật sư trong tố tụng dân sự vẫn còn gặp rất nhiều
khó khăn, bất cập. Nhận thức về vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự là
chưa thống nhất. Nhiều người vẫn chưa có cách nhìn đúng đắn về vai trò của
Luật sư trong tố tụng dân sự, kể cả những người tiến hành tố tụng. Họ thường
quan niệm Luật sư như những “người giúp việc”, cho rằng Luật sư tham gia
vào hoạt động tố tụng dân sự chỉ gây khó khăn, phiền hà cho cơ quan tiến
hành tố tụng; hiệu quả, vai trò hoạt động của Luật sư trong tố tụng dân sự trên
thực tế đạt được chưa cao; chất lượng đội ngũ Luật sư trong tố tụng dân sự
chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế, quốc tế; đạo
đức nghề nghiệp và kỷ luật hành nghề của Luật sư vẫn chưa được nhận thức
đầy đủ, chưa trở thành ý thức tự giác đối với mỗi cá nhân Luật sư trong hành
nghề và trong cuộc sống.
Với thực trạng của việc thực hiện vai trò của Luật sư trong tố tụng dân
sự trước yêu cầu cải cách tư pháp và xu hướng hội nhập quốc tế, việc nghiên

của Luật sư trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”,
PGS.TS Lê Hồng Hạnh, Nxb Đại học sư phạm, năm 2002; “Chuyên đề về
Pháp lệnh Luật sư năm 2001”, Bộ Tư pháp, Tạp chí Dân chủ & pháp luật,
tháng 12/2001; “Chuyên đề về Luật sư”, Bộ Tư pháp, Tạp chí Dân chủ &
pháp luật, Hà nội năm 2006, tháng 12/2001; “Bút ký luật sư” tập 1, TS.LS
Phan Trung Hoài, NXB Tư pháp, Hà Nội 2005; “Vị trí và vai trò của Luật sư
trong tố tụng dân sự”, Luận văn thạc sĩ, Trần Phương Thảo, Đại học Luật Hà
Nội, năm 2004; “Mối quan hệ giữa Luật sư với các cơ quan tiến hành tố tụng
và người tiến hành tố tụng”, của tác giả Nguyễn Tiến Đạm, Tạp chí dân chủ
& pháp luật, số 11 năm 2002; “Luật sư – một nghề khó khăn”, Phan Trung

3


Hoài, Tạp chí dân chủ & pháp luật, số 01 năm 1999; “Vai trò của Luật sư
trong tố tụng dân sự”, Đinh Văn Thanh; Báo cáo tham luận tại Hội thảo về
tranh tụng trong tố tụng dân sự, Hà Nội, ngày 13/03/2004...v.v.
Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến khái niệm Luật sư,
quá trình phát triển của nghề Luật sư, cũng như vị trí, vai trò của Luật sư
trong tố tụng dân sự một cách chung chung mà chưa đi sâu vào nghiên cứu
phân tích về pháp luật hiện hành về vai trò Luật sư, thực trạng thực hiện vai
trò của Luật sư trong TTDS. Ngoài ra, một số công trình được thực hiện trước
khi ban hành Luật Luật sư và Luật Luật sư sửa đổi nên không còn tính thời
sự. Do vậy, đề tài“Vai trò của Luật sư trong trong tố tụng dân sự” rất cần
được tiếp tục nghiên cứu và luận giải sâu sắc hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục đích nghiên cứu luận văn:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của Luật sư trong
TTDS.
- Làm rõ những điểm hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về Luật sư
với vai trò đại diện theo ủy quyền của đương sự hoặc Luật sư với vai trò là
người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự.
- Nghiên cứu một số quy định của pháp luật TTDS của một số nước
trên thế giới về vai trò của Luật sư trong TTDS để có thể so sánh với các quy
định của pháp luật Việt Nam, từ đó làm rõ hơn vai trò của Luật sư trong
TTDS Việt Nam.
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động của Luật sư trong TTDS, kiến nghị
các giải pháp nâng cao hơn nữa vai trò của Luật sư trong TTDS.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận:
Luận văn được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác – Lê Nin về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng cộng sản
Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
XHCN. Do đó, các kiến nghị về hoàn thiện pháp luật đều dựa trên các quan
điểm chỉ đạo nêu trên.
- Phương pháp nghiên cứu:
Để hoàn thiện đề tài nghiên cứu của mình, Tác giả sử dụng kết hợp các
phương pháp:

5


- Phương pháp phân tích được sử dụng nhằm làm rõ những vấn đề về lý
luận và thực tiễn về Luật sư và vị trí, vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự.
- Nghiên cứu lịch sử được sử dụng nhằm nghiên cứu rõ hơn các quy
định của pháp luật Việt Nam về vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự đã
được ghi nhận trong các văn bản pháp luật trước đây.
- Phương pháp so sánh được sử dụng đối chiếu, so sánh với pháp luật
của một số nước trên thế giới nhằm tham khảo, tiếp thu kinh nghiệm.

phi

của pháp luật cũng như những vướng mắc Luật sư gặp phải khi thực hiện vai
trò đại diện hay bảo vệ quyền lợi cho đương sự tại Tòa án. Trên cơ sở tổng
hợp kết quả nghiên cứu, Luận văn đã đề xuất các giải pháp có giá trị nhằm
nâng cao hiệu quả thực hiện vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự.
7. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của
Luật sư trong tố tụng dân sự. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng
làm tài liệu tham khảo trong việc áp dụng các quy định pháp luật về vai trò
của Luật sư được thống nhất và chính xác. Đồng thời những phát hiện, đóng
góp của luận văn cũng là tài liệu có giá trị cho các cơ quan lập pháp trong quá
trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật, là tài liệu tham khảo cho Tòa án, các
Thẩm phán có hiểu biết sâu sắc thêm về vai trò của Luật sư trong TTDS. Kết
quả nghiên cứu của Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập về pháp luật tại Việt Nam.
8. Về bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được cơ cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Luật sư và vị trí, vai trò của Luật
sư trong tố tụng dân sự
Chương 2 : Vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự theo pháp luật hiện
hành
Chương 3 : Thực trạng thực hiện vai trò của Luật sư trong tố tụng dân
sự và kiến nghị.

7


Chương 1

Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

chặt chẽ với hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử của Tòa án
nhất là các vụ án hình sự. Đây cũng là khái niệm có phần chính xác nếu chúng
ta đặt nó vào giai đoạn đầu tiên khi hình thành nghề Luật sư.
Tuy nhiên, khái niệm về Luật sư nói trên vẫn còn chưa thực sự đầy đủ
về mặt ngữ nghĩa, chưa đủ rộng để bao quát các hoạt động của Luật sư, bởi
các lý do sau đây:
Thứ nhất, “bào chữa” là hoạt động của Luật sư khi tham gia tố tụng
hình sự. Khi tham gia tố tụng hình sự thì Luật sư có vị trí là người bào chữa
cho bị can, bị cáo. Còn để bảo vệ quyền và lợi ích cho “đương sự” trong tố
tụng dân sự thì Luật sư không thực hiện vai trò “bào chữa” trước Tòa án, mà
bằng quyền tranh luận và tranh tụng tại phiên tòa, Luật sư “bảo vệ quyền lợi
cho đương sự”. Do vậy, khái niệm trên chưa thể hiện được hết vai trò của
Luật sư trong việc bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể theo luật định.
Thứ hai, khi khẳng định là “người làm cố vấn pháp luật nói chung” thì
không chỉ ra được đặc thù của Luật sư để phân biệt với khái niệm Luật gia.
Luật gia (Jurist) là người có kiến thức về pháp luật, chuyên gia luật. Có thể
hiểu đó là tất cả những người tốt nghiệp đại học luật (cử nhân luật trở lên);
hoặc vận dụng ở Việt Nam có thể bao gồm cả những người tuy không có bằng
cử nhân luật, nhưng có kiến thức về pháp luật và đang hoạt động trên các lĩnh
vực pháp luật, trong đó có cả các Luật sư. Hội viên Hội luật gia Việt Nam
được hiểu theo nghĩa này. Luật sư (Lawyer), là luật gia được đào tạo thêm về
kỹ năng hành nghề, được gia nhập Đoàn Luật sư, qua đó được công nhận là

nghề nghiệp của Luật sư”. Ngoài các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng thì yêu
cầu đạo đức nghề nghiệp cũng rất quan trọng.
Nghề Luật sư cũng như một số nghề khác như nghề y, nghề dạy học ...
luôn luôn được xã hội tôn trọng. Như Platon, một nhà triết học Hy Lạp nổi

10


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

tiếng đã nói: “Những kiến thức chuyên môn của bác sỹ giúp họ cứu chữa cho
người bệnh nhưng cũng có thể đầu độc người bệnh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh
cũng khẳng định “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà
không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Nghề Luật sư cũng như bất kỳ một
nghề chuyên môn nào khác cũng có những mặt trái. Do vậy, Luật sư cũng
phải biết sử dụng kiến thức chuyên môn của mình sao cho vừa bảo vệ khách
hàng lại vừa tôn trọng sự thật khách quan của vụ việc. Bên cạnh những tiêu
chuẩn về chuyên môn nghề nghiệp thì đạo đức nghề nghiệp là yếu tố rất quan
trọng với Luật sư, đây là tiêu chuẩn không thể thiếu khi xây dựng một tiêu
chuẩn Luật sư trong thời kỳ đổi mới. Có như thế Luật sư mới đảm bảo tốt
được sứ mệnh mà mình gánh vác.
Ngoài hai quan điểm nêu trên còn có nhiều cách giải thích khác nhau
về nghề Luật sư. Có quan niệm cho rằng Luật sư là người trợ lý pháp luật cho
khách hàng, là người đồng hành pháp lý với Tòa án, là người trợ thủ pháp

vi phạm pháp luật.
- Đạt độ tuổi nhất định
- Trải qua các khóa đào tạo Luật sư và có thời gian tập sự đầy đủ theo
quy định.
Đây là điều kiện bắt buộc đối với Luật sư ở bất cứ quốc gia nào. Điều
này xuất phát từ tính chất đặc thù của nghề Luật sư là một nghề đòi hỏi sự đúc
kết kinh nghiệm và thông qua thực tế rất lớn. Để có thể vận dụng những kiến
thức sách vở, những quy định cứng nhắc vào hoàn cảnh khác nhau, biến
chúng thành những phương án linh hoạt, sử dụng chúng như công cụ đắc lực
đem lại lợi ích cho khách hàng, đòi hỏi người Luật sư phải có sự học hỏi từ
những người đi trước và có thời gian thực hành khá nhuần nhuyễn. Do vậy,
đây được xem như giai đoạn mang tính chất quyết định để một người chứng
minh mình có quyết tâm và khả năng mình có thể trở thành một Luật sư, một
luật gia giỏi hay không.

12


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

Ngoài những điều kiện cơ bản nêu trên, pháp luật mỗi quốc gia có thể
đặt ra những quy định riêng khác về điều kiện trở thành Luật sư.
Góc nhìn nghiên cứu này về các điều kiện về tiêu chuẩn Luật sư và
điều kiện hành nghề Luật sư ở Việt Nam được thể hiện khá cụ thể tại các điều

người có đủ các điều kiện về năng lực chủ thể, kiến thức pháp lý, kỹ năng
hành nghề được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận tư cách trong
việc tiến hành các hoạt động nghề nghiệp theo yêu cầu của khách hàng trên
cơ sở tôn trọng pháp luật và đạo đức nghề nghiệp.
1.1.2. Đặc điểm của Luật sư
Từ khái niệm Luật sư đã được trình bày và phân tích ở phần trên có thể
thấy so với các chức danh Tư pháp khác Luật sư có những đặc điểm sau:
- Luật sư là một chức danh tư pháp độc lập
Khi tham gia vào hoạt động tố tụng dân sự (là một trong những hoạt
động chủ yếu của hoạt động tư pháp) Luật sư tham gia với vai trò là người
tham gia tố tụng. Luật sư không phải là “nhân viên” Nhà nước, không chịu
sự điều chỉnh bởi các “mệnh lệnh” hành chính. Cũng giống như Việt Nam,
các Luật sư Nhật Bản thường tự gọi mình là “các luật gia không có quyền
lực” và gọi Thẩm phán và Công tố viên là “luật gia có quyền lực”
[38,Tr.152]. Xuất phát từ việc không có quyền lực như vậy mới đảm bảo
tính độc lập của Luật sư.
- Luật sư là người có đủ các điều kiện về năng lực chủ thể, kiến thức
pháp lý, kỹ năng hành nghề được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận
Luật sư hành nghề bằng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của
cá nhân Luật sư. Nói cách khác, phẩm chất và năng lực cá nhân của Luật sư là
yếu tố quyết định trong nghề Luật sư. Người muốn hành nghề Luật sư phải
được công nhận là Luật sư. Tiêu chuẩn phổ biến của các nước để được công
nhận là Luật sư và được cấp chứng chỉ hành nghề bao gồm: Là công dân của
nước sở tại; có bằng cử nhân luật; có phẩm chất đạo đức tốt. Bên cạnh đó là

14


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho

của pháp luật
+ Thực hiện tư vấn pháp luật.

15


+ Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có
liên quan đến pháp luật
+ Thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy định của pháp luật
Khi thực hiện các hoạt động nghề nghiệp của mình Luật sư phải tôn
trọng pháp luật và đạo đức nghề nghiệp
Phẩm chất đạo đức là một trong những tiêu chuẩn quan trọng đối với
Luật sư. Luật sư là người hành nghề pháp luật, giúp đỡ về mặt pháp lý cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân. Do vậy, Luật sư trước hết phải là người có ý thức tuân
thủ pháp luật, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp. Để duy trì uy tín và
danh dự nghề nghiệp, Luật sư còn phải là người trung thực trong cuộc sống,
có bản lĩnh nghề nghiệp. Đồng thời khi hành nghề Luật sư luôn phải kết hợp
việc bảo vệ quyền lợi cho cá nhân, tổ chức với việc bảo vệ lợi ích của Nhà
nước và của xã hội.
- Luật sư là chức danh bất khả kiêm nhiệm:
Theo quy định của Pháp lệnh 1987 thì Luật sư có thể là cán bộ, công
chức trong cơ quan nhà nước hay là giảng viên trong các trường giảng dạy
pháp lý... Tuy nhiên, theo quy định của Luật Luật sư hiện nay, Luật sư không
thể kiêm nhiệm nhiều chức danh. Điều này giúp hoạt động Luật sư thực sự là
một hoạt động độc lập. Luật sư không bị chi phối bởi nhiều yếu tố bên ngoài
đặc biệt là yếu tố quản lý hành chính nhà nước. Luật sư chỉ chịu sự điều chỉnh
của Hiệp hội nghề nghiệp là Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Đoàn Luật sư mà
Luật sư đó tham gia. Quy định như vậy giúp Luật sư an tâm hơn khi tham gia
tố tụng, không chịu áp lực “Cơm, áo, gạo, tiền” nên có thể tập trung chuyên
môn vào hoạt động nghề nghiệp của mình.

nhiệm vật chất của Luật sư là trách nhiệm vô hạn. Để bảo đảm quyền lợi của
khách hàng, Công ty luật có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
cho Luật sư của mình để bồi thường thiệt hại gây ra cho khách hàng. Những
Luật sư hành nghề tự do cũng phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
cho mình.
1.1.3. Ý nghĩa về sự tham gia của Luật sư trong tố tụng dân sự
Trên thế giới, nghề Luật sư được tổ chức theo nhiều hình thức và rất đa
dạng, xuất phát từ đặc điểm lịch sử, văn hóa, hệ thống pháp luật của mỗi quốc
gia. Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về nghề Luật sư nhưng đều có
chung một cách nhìn nhận: Luật sư là một nghề trong xã hội, là công cụ hữu
hiệu góp phần bảo vệ công lý. Tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia mà
có sự nhận thức khác nhau về vai trò, vị trí của Luật sư. Nghề Luật sư và vai

17


trò của Luật sư luôn có sự thay đổi phụ thuộc vào sự phát triển khách quan
của nền kinh tế xã hội. Ở Việt nam hiện nay, nhiệm vụ của Luật sư trước hết
góp phần bảo vệ pháp chế XHCN bằng việc hướng dẫn cho khách hàng hiểu
biết và thi hành đúng pháp luật, phục vụ công lý, bảo vệ những quyền của
công dân đã được Hiến Pháp và pháp luật quy định. Sự tham gia của Luật sư
trong tố tụng dân sự sẽ mang lại ý nghĩa rất quan trọng:
- Giúp các đương sự có được sự cân bằng trong “cuộc đấu tranh
pháp lý”:
Trong cuộc sống hàng ngày người dân có rất nhiều mối quan hệ với
nhau và mối quan hệ với các cơ quan tổ chức. Có quan hệ nghĩa là có sự tác
động qua lại, không thể tránh khỏi mâu thuẫn, xung đột quyền lợi giữa các
bên. Những mâu thuẫn khi phải giải quyết tại Tòa án thì thường là sự đụng
chạm nhạy cảm nhất đến quyền công dân. Nhiều đương sự là người bị hạn
chế bởi trình độ văn hóa, nhất là hiểu biết pháp luật nên mặc dù pháp luật quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status