VAI TRÒ của THẨM PHÁN TRONG tố TỤNG HÌNH sự - Pdf 45

VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Theo nghĩa Hán-Việt, “thẩm” là xử, “phán” là xét định. Thẩm phán(judge)
là người của Toà án có nhiệm vụ điều tra, hoà giải, truy tố hay xét xử các vụ án
Thẩm phán là người chuyên làm công tác xét xử các vụ án Thẩm phán là một nhân
viên công quyền được bổ nhiệm để nghe và phân xử tại toà án; Thẩm phán là
người được bổ nhiệm để phân xử các tranh chấp .
Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân năm 2002 quy định:
“Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ
xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án”.
Trong tố tụng hình sự có ba chức danh tư pháp chủ yếu, đó là điều tra viên,
công tố viên và thẩm phán. Những người này quyết định toàn bộ quy trình tố tụng
của một vụ án hình sự, pháp luật của các quốc gia đều giao cho họ những quyền
độc lập khi giải quyết vụ án. Trong số này thì thẩm phán có vai trò quan trọng, vì
duy nhất thẩm phán mới có quyền tuyên bố một người là đã phạm tội và ấn định
hình phạt cũng như các nghĩa vụ khác cho người đó. Khi nói xét xử sơ thẩm là
trung tâm của tố tụng hình sự thì thẩm phán chính là trung tâm của giai đoạn xét
xử. Về thực chất, Toà án là cơ quan thực thi quyền lực tư pháp, là nơi thể hiện sản
phẩm cuối cùng của toàn bộ quá trình điều tra và xét xử. Thông qua hoạt động của
Toà án - quyền lực tư pháp mà pháp luật tác động đến các quan hệ xã hội. Đây
không phải là phương tiện duy nhất nhưng lại là chủ yếu nhất trong việc giải quyết
xung đột, tranh chấp trong xã hội nhằm đưa xã hội vào trạng thái ổn định để phát
triển .
Thẩm phán ngoài việc mang quyền lực nhà nước, khi tiến hành xét xử còn
thể hiện ở mức độ nhất định là người trọng tài đứng giữa bên buộc tội là công tố
viên, người bị hại và bên gỡ tội là bị cáo và người bào chữa của bị cáo. Với vị trí


như vậy nên đòi hỏi thẩm phán phải là những ngƣời hiểu biết, trung thực, công
bằng, khách quan và phải thực sự vì công lý.
Đối với một vụ án hình sự, cho dù là tội phạm nghiêm trọng hay ít nghiêm
trọng, muốn kết tội bị can, bị cáo thì phải thông qua hoạt động xét xử do thẩm

đến đường lối xét xử của vụ án.
Tuỳ theo từng loại hình tố tụng và pháp luật mỗi quốc gia mà thẩm phán
tham gia xét xử các vụ án hình sự sớm hay muộn. Có thể phân chia thành hai giai
đoạn chính là tiền xét xử và xét xử.
Tiền xét xử
Theo pháp luật tố tụng của Việt Nam, giai đoạn xét xử được bắt đầu từ thời
điểm Toà án có thẩm quyền nhận được hồ sơ vụ án hình sự kèm theo bản cáo trạng
của Viện kiểm sát. Trước khi nhận hồ sơ thì thẩm phán và Toà ánchƣa có thẩm
quyền gì đối với vụ án, kể cả việc bắt giam, khám xét, thu giữ đồ vật như luật tố
tụng của các quốc gia nêu trên. Trong quá trình điều tra vụ án, chỉ có Viện kiểm sát
mới có thẩm quyền giám sát các hoạt động tố tụng, trực tiếp phê chuẩn hầu hết các
quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra.
Trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự, có một số trường hợp Toà án được
mời tham gia “đánh giá chứng cứ”, hoặc xác định án trọng điểm. Những hoạt động
này chỉ mang tính phối hợp công tác chứ hoàn toàn không có ràng buộc gì về mặt
tố tụng. Khi hồ sơ vụ án được Toà án chuyển trả lại để điều tra, truy tố thêm hành
vi hay người phạm tội thì Toà án cũng không có thẩm quyền can thiệp hoặc tham


gia vào việc điều tra bổ sung. Thậm chí Toà án còn không quan tâm xem vụ án có
được truy tố trở lại hay không, vì luật tố tụng không ràng buộc điều đó.
Giai đoạn xét xử
Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam quy định Toà án sau khi nhận hồ sơ vụ án
từ Viện kiểm sát phải tiến hành thụ lý và giao cho một thẩm phán thực hiện các
hoạt động tố tụng cần thiết, nhƣ việc xác định thẩm quyền xét xử, đề xuất việc áp
dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn; trong một thời hạn nhất định
thẩm phán phải ra một trong các quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ
hoặc tạm đình chỉ vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử. Khi vụ án được đưa ra xét
xử thì thẩm phán lập danh sách và báo gọi những người tham gia tố tụng đến
phiên toà, giải quyết những trở ngại cho việc tiến hành phiên toà. Những người

cứ và đúng pháp luật, không để xảy ra oan, sai đối với người bị kết án. Kết quả
của quá trình tố tụng phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp thực hiện và những
người thực hiện các hành vi tố tụng, đòi hỏi người ta phải luôn cải cách các hoạt
động tư pháp cho phù hợp với sự biến đổi không ngừng của thế giới khách quan.
Cải cách tư pháp được đặt ra như một nhu cầu tất yếu mà cả hai mô hình tố
tụng đều tiến hành. Các nhà lập pháp và nhà khoa học của các quốc gia đang
nghiên cứu để tận dụng trí tuệ chung của nhân loại vào điều kiện cụ thể của nước
mình. Việt Nam duy trì mô hình tố tụng thẩm vấn nhưng cũng đang hướng đến yếu
tố hợp lý của tranh tụng, với mục đích là đấu tranh có hiệu quả với tội phạm trong
điều kiện không làm oan người vô tội. Cách duy nhất là phải nâng cao vai trò tranh


tụng tại phiên toà, các chứng cứ của vụ án cho dù được thu thập một cách hợp pháp
vẫn phải kiểm tra công khai. Các quyết định của bản án phải dựa chủ yếu vào kết
quả tranh tụng tại phiên toà công khai. Như vậy sẽ có cơ hội giảm bớt tiến đến loại
trừ tình trạng án “bỏ túi” hay án “điều khiển từ xa”.
Điều khiển việc tranh tụng là do thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện tại
phiên toà. Cho nên nâng cao tranh tụng phải đi đôi với nâng cao vai trò của
thẩm phán.
Xét xử vụ án hình sự là quyền năng của Nhà nước, do Toà án thực hiện.
Thẩm phán đại diện cho Toà án thực hiện nhiệm vụ đó. Chỉ có Thẩm phán cùng
một Hội đồng xét xử hợp pháp mới có thẩm quyền tuyên bố một người có tội và
phải chịu hình phạt. Để tránh lạm dụng quyền lực, việc xét xử vụ án hình sự bao
giờ cũng được giao cho một tập thể (trừ những vụ án đơn giản, rõ ràng, có sự đồng
ý của người bị xét xử) và do hai cấp Toà án thực hiện.
Thẩm phán là một chức danh tư pháp, được chọn lọc theo một trình tự chặt
chẽ và thông thường do người đứng đầu Nhà nước bổ nhiệm. Thẩm phán khi làm
nhiệm vụ xét xử nhân danh Nhà nước, bản án được tuyên phải được các cá nhân,
cơ quan, tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh.
Thẩm phán trong mô hình tố tụng nào cũng phải là những người khách

chế, trừ biện pháp tạm giam;


b) Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
c) Quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án;
d) Điều hành việc xét xử vụ án, tranh tụng tại phiên tòa;
đ) Quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại, thực
nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định; yêu cầu định giá
tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá tài sản;
e) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; thay đổi người giám sát
người dưới 18 tuổi phạm tội; yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch
thuật;
g) Quyết định triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa;
h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo
sự phân công của Chánh án Tòa án theo quy định của Bộ luật này.
Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của
mình”.
VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG TỐ
TỤNG HÌNH SỰ
Thẩm phán với việc thực hiện các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự
- Nguyên tắc "không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của
Toà án đã có hiệu lực pháp luật". Đây là nguyên tắc suy đoán vô tội được quy
định tại Hiến pháp, đòi hỏi trong quá trình giải quyết vụ án hình sự những người
tiến hành tố tụng luôn phải có tư duy “Tất cả mọi người đều được coi là vô tội khi
chưa có một bản án của Toà án có thẩm quyền kết tội”


Thực tế trong lịch sử tố tụng của Việt Nam, khi một người bị bắt giữ hình sự
hoặc từ khi có quyết định khởi tố bị can thì thường đã bị coi là tội phạm và thực sự
bị đối xử như một phạm nhân. Bị cáo khi ra trước toà bị xem như là người đã có

có trường hợp Thẩm phán vì muốn áp dụng tội danh hay hình phạt nhẹ hơn nhưng
lại thuyết phục hội thẩm biểu quyết đa số theo hướng đó, còn bản thân Thẩm phán
thì biểu quyết ngược lại (nhằm trốn tránh trách nhiệm sau này) để rồi tuyên bản án
rõ ràng là không hợp lý.
Tuyên án theo đa số là cơ chế đương nhiên của việc xét xử tập thể, nói
chung là đưa ra kết quả đúng nếu không có sự tác động trái chiều. Quyết định theo
đa số cũng có thể dẫn đến kết quả chƣa đúng, điều này sẽ đƣợc khắc phục bằng
cấp xét xử cao hơn, do chính Thẩm phán chủ toạ hay Toà án cấp trên phát hiện khi
kiểm tra giám đốc thẩm. Quan điểm chính thức của Chánh án Toà án nhân dân tối
cao là bắt buộc Thẩm phán phải tuyên án theo đa số vì đó là quy định của Luật.
Nếu Thẩm phán thấy rõ ràng quyết định như vậy là sai lầm thì có thể đề nghị Viện
kiểm sát kháng nghị theo trình tự phúc thẩm hay báo cáo Toà án cấp trên khắc phục
sai lầm
TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN TRONG TRƯỜNG HỢP OAN SAI
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰT
Oan và sai là hai khái niệm khác nhau. Oan trong tố tụng hình sự là việc
một người không có hành vi vi phạm pháp luật hình sự mà bị các cơ quan có thẩm
quyền căn cứ vào Bộ luật hình sự và Bộ luật TTHS bắt giam, khởi tố, truy tố, xét
xử. Sai trong tố tụng hình sự là việc bắt giam, khởi tố, truy tố, xét xử đúng ngƣời


có hành vi vi phạm pháp luật hình sự, nhưng áp dụng sai các quy định của pháp
luật gây thiệt hại cho quyền lợi của người vi phạm.
Trong Bộ luật dân sự quy định cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường
thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong khi
thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Để thực hiện Điều luật
này, tại Nghị quyết 388 về bồi thƣờng thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm
quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra, đó là người bị tạm giữ, tạm giam,
khởi tố, truy tố, xét xử oan. Các trường hợp bị khởi tố, truy tố, xét xử sai thì chưa
được bồi thường thiệt hại. Nghị quyết 388 xác định những trường hợp được bồi

phương tiện giao thông đường bộ…
Như vậy, việc xét xử oan của Toà án nước ta vẫn còn khá cao, Vậy trách
nhiệm của thẩm phán đến đâu khi xét xử oan, sai vụ án hình sự. Kể từ khi có Nghị
quyết 388/2003/NQ-UBTVQH11 thì các thẩm phán mới thực sự nhận thức được
trách nhiệm của mình. Trước hết, Toà án nơi đã kết án oan phải công khai xin lỗi
và bồi thường cho người bị oan, sau đó yêu cầu thẩm phán hoàn trả lại một phần
hoặc toàn bộ chi phí đã bồi thường. Thẩm phán phải giải trình về vụ án, nếu cố ý ra
bản án trái pháp luật thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật
hình sự; vì lý do năng lực chuyên môn có thể phải tạm dừng nhiệm vụ xét xử để
đào tạo lại; vì những lý do khách quan khác thì phải tường trình và không được xét
thi đua trong năm công tác đó. Trong môt nhiệm kỳ 5 năm, nếu thẩm phán có
nhiều vụ án xét xử oan thì sẽ không được tái bổ nhiệm.
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ


1)Đảm bảo tính độc lập của Thẩm phán:
Tính độc lập của thẩm phán phụ thuộc rất nhiều vào công tác tổ chức. Về
nguyên tắc, thẩm phán không thể bị cách chức hoặc bị thuyên chuyển trái với ý
muốn của họ. Nếu thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời hoặc bổ nhiệm với nhiệm kỳ
dài hơn hiện nay thì sẽ có cơ hội quyết đoán hơn khi đưa ra đường lối giải quyết vụ
án. Vì khi đó trách nhiệm của thẩm phán với nghề nghiệp rất cao và không phải
“để tâm” quá mức đến ý kiến của những người có thẩm quyền về tổ chức. Việc
thành lập Toà án khu vực là một giải pháp cơ bản để thẩm phán không bị tác động
trái pháp luật từ phía một số cán bộ chính quyền và cấp uỷ cùng cấp, nơi có tác
động mạnh đến tâm lý của thẩm phán khi thực hiện nhiệm vụ xét xử.
2)Tăng cường năng lực của Thẩm phán:
Thẩm phán ở những quốc gia phát triển được trưởng thành từ đội ngũ luật
gia và luật sư giỏi, ở Việt Nam thì ngược lại khi thẩm phán về hưu mới làm luật sư.
Thực tế đội ngũ thẩm phán của Việt Nam còn nhiều hạn chế, tuy đã được chuẩn

biện pháp bảo đảm đối với thẩm phán, trong khi đó nhiều quốc gia có quy định các
biện pháp bảo vệ cần thiết để đảm bảo cho hoạt động an toàn của thẩm phán. Trong
thực tế đã xảy ra tình trạng đương sự, bị cáo hành hung, đe doạ thẩm phán và gia
đình họ. Biện pháp về mặt an ninh nhằm mục đích bảo toàn tính mạng, sức khoẻ,
tài sản cho thẩm phán, không để cho các hành vi xâm hại thẩm phán từ bên ngoài.
Các biện pháp này do cơ quan chức năng của Nhà nước thực hiện và được tiến


hành ngay khi có yêu cầu của thẩm phán hoặc khi nhận được thông tin và có căn
cứ cho rằng đang có hoặc sẽ có đe doạ thực tế xảy ra.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status