1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Môn Toán là môn học có vai trò quan trọng trong chương trình các môn học
ở Tiểu học. Bởi học toán giúp học sinh biết suy luận một cách ngắn gọn, có căn cứ
đầy đủ, chính xác, nhất quán; biết trình bày, diễn đạt ý nghĩ của mình một cách
ngắn gọn, rõ ràng, mạch lạc. Qua học toán, học sinh tích cực, sáng tạo hơn, suy
luận logic và nhạy bén hơn trong mọi vấn đề.
Chương trình Toán Tiểu học cung cấp cho học sinh các mạch kiến
thức số học, đại lượng và số đo đại lượng, các yếu tố hình học, giải toán. Các
mạch kiến thức này không dạy một cách riêng biệt mà dạy đan xen nhau và được
xây dựng theo vòng tròn đồng tâm với mạch kiến thức ở lớp trên kế thừa và mở
rộng, nâng cao hơn ở lớp dưới, phù hợp với sự phát triển trí tuệ của học sinh Tiểu
học. Trong đó, mạch kiến thức “ Đại lượng và đo đại lượng” cung cấp cho học
sinh đại lượng về độ dài, thời gian, diện tích, thể tích,…Nhưng là mạch kiến thức
khó dạy vì đối tượng học sinh còn nhỏ tuổi, tư duy và hiểu biết thực tế còn non,
nhanh nhớ nhanh quên. Nhưng mạch kiến thức về đại lượng và số đo đại lượng lại
rất quan trọng và bổ ích. Nó giúp cho học sinh tiếp cận, vận dụng được kiến thức,
kĩ năng học tập trong môn Toán vào phục vụ cuộc sống.
Qua thực tế dạy học về số đo độ dài, cụ thể là dạy về các đơn vị đo đề-ximét; mét; ki-lô-mét; mi-li-mét, tôi thấy đa số giáo viên đã xác định được mục tiêu
tiết học, cung cấp đúng, đủ nội dung mà sách giáo khoa cung cấp. Tuy nhiên,
trong quá trình cung cấp kiến thức cho học sinh, giáo viên còn gặp những khó
khăn, lúng túng dẫn đến việc truyền tải kiến thức còn máy móc hoặc dạy chay
thiếu đồ dùng học tập. Đối với học sinh lớp 2, việc tiếp thu và làm bài tập với số
đo độ dài còn nhiều hạn chế, các em mới chỉ được làm quen và tiếp thu kiến
thức ở mức độ rất đơn giản là có biểu tượng về đơn vị đo, cộng trừ, nhân
chia ở mức độ đơn giản với số đo là một đơn vị đo. Song qua thực tế dạy và
học, nhất là dạy và học ở buổi hai, học sinh được ôn và mở rộng kiến thức
trong các sách Ôn tập cuối tuần, Bài tập cuối tuần hay tham gia Câu lạc bộ
“Em yêu môn Toán”, tham gia thi Violimpic Toán trên mạng thì các em lại gặp
đa dạng và phong phú các bài tập như “Đổi số đo có kèm tên hai đơn vị đo;
cộng, trừ khác đơn vị đo;.. .”. Đối với học sinh, các em rất ham học, tích cực
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2
2.1. Cơ sở lý luận.
- Qua nghiên cứu chương trình, tôi nhận thấy mạch kiến thức đại lượng độ
dài được đưa vào xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 5, được dạy xen kẽ giữa các mạch
kiến thức khác và được xây dựng theo nguyên tắc lớp sau nâng cao hơn và mở
rộng hơn so với lớp trước.
- Ở lớp 1, học sinh được là quen với đơn vị đo độ dài là xăng-ti-mét.
- Lớp 2, các em được học về đề-xi-mét; mét; mi-li-mét và ki-lô-mét, với thời
lượng trọn vẹn chỉ có 6 tiết (Tiết 5: Đề-xi-mét; Tiết 6: Luyện tập; Tiết 145: Mét; Tiết
146: Ki-lô-mét; Tiết 147: Mi-li-mét; Tiết 148: Luyện tập) chỉ với mức độ đơn giản là học
sinh nắm được biểu tượng và đổi số đo có tên một đơn vị đo; Làm phép tính cộng, trừ,
nhân chia với số đo có cùng đơn vị đo. Còn lại các em được luyện tập, thực hành xen
kẽ với mạch kiến thức khác ở một số tiết học trong học kì 1 và một số tiết học cuối
học kì 2.
- Lên lớp 3, học sinh được học thêm đơn vị héc-tô-mét; đề-ca-mét và hoàn thiện
bảng đơn vị đo độ dài. Lớp 4, lớp 5, học sinh tiếp tục được học nâng cao và mở rộng hơn
về các phép tính, bài toán về đơn vị đo độ dài. và các dạng bài tập với mức độ cao hơn,
phức tạp hơn.
Như vậy, chương trình sách giáo khoa xây dựng chương trình học sinh học về
đại lượng đơn vị đo độ dài rất phù hợp, vừa sức với HS. Tôi nghĩ, nếu HS mà chỉ học
và làm các bài tập về đơn vị đo độ dài trong sách giáo khoa thì các em đều đạt hoàn
thành chuẩn kiến thức kĩ năng môn học.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Trong những năm học trước đây, tôi thấy khi dạy học phần kiến thức về đơn vị
56mm + 2cm
=
Bài 3: Viết cm hoặc m vào chỗ chấm thích hợp:
a) Cột cờ trong sân trường cao khoảng 10……
b) Bút chì dài 19……
c) Bề dày của quyển sách “Tiếng Việt 2” khoảng 10….
Khảo sát đầu năm học 2016-2017; 2017-2018:
1. Năm học 2016 – 2017:
Tổng
số HS
Bài 1
Bài 2
Bài 3
25 em
Điểm 9 - 10
Điểm 7 - 8
Điểm 5 - 6
Điểm < 5
12 em = 48%
4 em = 16%
8 em = 32%
8 em = 32%
4 em = 16%
0
8 em = 32%
1 em = 4%
1. Năm học 2017 – 2018:
Tổng
số HS
Bài 1
Bài 2
Bài 3
25 em
Từ kết quả trên, tôi nhận thấy kĩ năng ước lượng và tính cộng trừ số đo độ
dài khác đơn vị đo của học sinh còn nhiều hạn chế. Đặc biệt qua cách trình bày bài
trong từng bài làm cụ thể của từng học sinh. Qua chấm bài và tìm hiểu, tôi phân
đối tượng học sinh theo các lỗi như sau:
Tổng
số
học
sinh
25em
Năm học: 2016-2017
Năm học: 2017-2018
Quên mối
Quên mối
quan hệ
Không
quan hệ
4
- Một số tiết dạy việc chuẩn bị đồ dùng học tập phục vụ cho tiết dạy chưa
được chu đáo; đôi khi còn dạy chay, còn áp đặt khi hình thành kiến thức mới.
- Chưa thường xuyên tìm hiểu, cập nhật các dạng bài có thể khơi gợi, giúp
học sinh hứng thú, phát triển sự ham học hỏi của học sinh trong buổi 2.
b) Học sinh:
- Học sinh chưa nắm chắc được biểu tượng, cách đọc, kí hiệu các đơn vị đo,
yếu về kiến thức thực tế nên khi ước lượng các em đã ước lượng sai.
- Học sinh chưa nhớ, còn quên mối quan hệ giữa các đơn vị đo, nhầm lẫn
tên, kí hiệu đơn vị đo nên khi thực hiện tính kết quả còn làm sai.
- Học sinh chưa được học về cách tính cộng, trừ số đo độ dài khác đơn vị đo
nên còn lúng túng, còn sai khi thực hiện hoặc không làm.
Từ thực trạng trên, để nâng cao chất lượng học toán nói chung và chất lượng
học liên quan đến số đo độ dài nói riêng của học sinh lớp 2, vào đầu năm học 20162017; năm học 2017 -2018, tôi đã lập kế hoạch giúp học sinh hiểu, nắm vững bản
chất và kĩ năng ghi nhớ bền vững cũng như vận dụng làm bài tập liên quan đến
đơn vị đo độ dài và đưa vào thực hiện. Vậy, tôi đã dạy học sinh như thế nào ? Sau
đây, tôi xin trình bày các biện pháp mà tôi đã thực hiện.
2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Biện pháp 1. Công tác tự học, tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn
của giáo viên.
Việc nắm bài, hiểu bài, vận dụng làm được bài phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
Đối tượng học sinh; sự nhiệt tình, quan tâm sát sao đến việc học của con em của
phụ huynh;... Và quan trọng nhất - yếu tố quyết định đến chất lượng học sinh, khơi
gợi, phát hiện và gây hứng thú học tập cho học sinh là người giáo viên. Bên cạnh
sự tâm huyết, nhiệt tình, sát sao, tận tâm với học sinh thì người giáo viên phải có
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phải có kiến thức kĩ năng truyền đạt.
Ý thức được điều đó, tôi luôn tự học hỏi nâng cao trình độ, nghiệp vụ
chuyên môn. Tôi tích cực tham gia các chuyên đề mà Ban giám hiệu nhà trường
thức thực tế, ghi nhớ bền vững kiến thức về đơn vị đo độ dài, việc dạy cho các em
nắm bản chất của từng đơn vị đo rất quan trọng giúp cho học sinh hiểu, ghi nhớ
bền vững chứ không phải là học vẹt. Khi hình thành bất cứ một đơn vị đo độ dài
nào, tôi thường dạy theo bước:
Bước 1: Chuẩn bị và ôn kiến thức cũ.
Bước 2: Thao tác trên đồ dùng trực quan.
Bước 3: Ước lượng thực tế.
Bước 4: Luyện tập thực hành.
Trước khi dạy về một đơn vị kiến thức nào, giáo viên chuẩn bị và cũng yêu
cầu học sinh chuẩn bị những kiến thức hay đồ dùng cần thiết nhất phục vụ cho tiết
học. Bởi, có nhớ kiến thức đã học liên quan đến kiến thức mới thì học sinh mới tự
tin, chủ động nắm bắt cũng như tiếp thu kiến thức mới một cách nhanh nhất. Đặc
biệt, công tác chuẩn bị cho việc học về đơn vị đo độ dài càng quan trọng hơn. Bên
cạnh đó, khi hình thành kiến thức mới, trước tiên giáo viên yêu cầu học sinh thao
tác trên đồ dùng trực quan. Bước này trong thực tế giảng dạy một số giáo viên
thường áp đặt hoặc xem nhẹ và hay bỏ qua vì sợ học sinh ồn, tiết học kéo dài. Tuy
nhiên, tôi lại hình thành kĩ và chắc ở bước này vì đây là hình thức rất quan trọng
đối với học sinh lớp 2, bởi kiến thức mà các em chiếm lĩnh được chủ yếu từ đồ
dùng trực quan đến tư duy trừu tượng. Từ thao tác trên đồ dùng trực quan sẽ giúp
các em có biểu tượng về đơn vị đo dễ dàng hơn. Qua sử dụng đồ dùng trực quan
giúp các em biết ước lượng độ dài, rộng, độ cao của các vật trong thực tế, giúp các
em ghi nhớ bền vững độ lớn, cách đọc, viết đơn vị đo độ dài.
Ví dụ: Toán (Tiết 5): Đề-xi-mét.
6
Bước 1: Chuẩn bị và ôn kiến thức cũ: Giáo viên yêu cầu học sinh mang
thước có chia vạch xăng-ti-mét. Trước khi vào bài mới, nhiều giáo viên giới thiệu
bài “Ở lớp 1, em đã học về đơn vị đo độ dài xăng-ti-mét, bây giờ chúng ta học về
đơn vị đo xăng-ti-mét và đề-xi-mét , Giáo viên cho học sinh ước lượng trên thực tế
bằng cách cho học sinh quan sát thước kẻ của mình và cho biết thước kẻ đó dài
mấy đề-xi-mét. Học sinh sẽ dễ dàng nêu được độ dài thước kẻ là 2dm hay 3dm.
Tiếp tục, Giáo viên cho học sinh quan sát xung quanh lớp hay bằng trí nhớ của
mình, hãy kể các đồ vật cao hay dài hoặc ngắn hơn hoặc bằng 1dm; 2dm hay
3dm. Sau khi học sinh ước lượng xong, để kiểm tra kết quả của các em ước lượng
là đúng, Giáo viên cho học sinh dùng thước để đo (HS đo ngay hoặc về nhà đo cụ
7
thể trên trực quan). Sau mỗi lần ước lượng đúng, các em lại có hứng thú, phấn
khởi hẳn lên. Qua đó, một lần nữa giúp học sinh ghi nhớ bền vững về đơn vị đề-ximét. Từ tình trạng ngại học về đơn vị đo độ dài, các em nay rất hứng thú, say mê mỗi
khi tiết học liên quan đến đơn vị đo độ dài.
Tương tự khi dạy bài: Mét; Ki-lô-mét; Mi-li-mét, Giáo viên thực hiện cách
dạy và học: sử dụng đồ dùng trực quan và thực hiện theo các bước như trên để dạy
học sinh, giúp học sinh tiếp thu một cách khoa học, chính xác, phát triển tư duy
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Qua đó, học sinh sẽ nhớ và ước lượng
khá tốt về chiều rộng, chiều dài hay độ cao,.. của vật. Ngoài ra còn giúp các em
ghi nhớ về quan hệ giữa các đơn vị đo độ dài đã học. Từ đó, giúp các em vận dụng
tốt trong các bài tập về đổi đơn vị đo, cộng trừ hay giải toán có liên quan đến đơn
vị đo độ dài.
Bước 4: Luyện tập thực hành
Bước này, vận dụng kiến thức vào làm bài tập nhằm khắc sâu kiến thức cho
học sinh. Đồng thời, phát huy tính tích cực, sáng tạo cho học sinh. Chính vì vậy,
khi học sinh làm bài và chữa bài, tôi không chỉ cho học sinh nhận xét đưa ra kết
quả đúng
sai mà qua đó còn mở rộng thêm kiến thức cho các em qua mỗi bài tập.
Ví dụ: Bài 1: Số? (trang 150- sgk Toán 2).
1dm = ...cm
...cm = 1m
Bài 1: Số?
2dm = ….cm
50cm = …..dm
40dm = …..m
5m = …..dm
300cm = …..m
2m = ……cm
Bài 2: Điền dấu <; >; = ?
20cm + 30cm …… 5dm
25cm + 17cm ….. 28cm + 13cm
100dm – 50dm …..6m – 2m
35cm + 25cm …. 5dm
Với cách dạy học như trên, 100% HS lớp tôi đạt Chuẩn kiến thức kĩ năng
theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về dạng toán liên quan đến đơn vị đo
độ dài. Qua đó, còn giúp học sinh có cơ sở tiếp cận các bài toán mở rộng liên quan
đến dạng toán , khơi gợi sự hứng thú tìm tòi và khả năng tư duy sáng tạo của các em,
giúp các em tự tin học giải toán ở các lớp trên.
Biện pháp 3. Mở rộng kiến thức, rèn kĩ năng cho học sinh qua các dạng bài.
Các dạng bài tập về đơn vị đo độ dài trong chương trình lớp 2 là khá vừa sức,
phù hợp với đối tượng học sinh. Song trên thực tế, có rất nhiều tài liệu tham khảo như:
Bài tập cuối tuần toán 2; Ôn tập cuối tuần môn Toán 2; Tự luyện Violympic toán 2
(Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam) hay các bài tập toán trong đề giao lưu Câu lạc bộ
Em yêu thích môn Toán của Trường, chương trình Violimpic trên mạng do Bộ GD-ĐT
tổ chức. Các bài toán trong mỗi tài liệu này rất vừa sức, khá lí thú, bổ ích với học sinh.
Đó quả là những tư liệu tham khảo rất quý đối với cán bộ quản lí, giáo viên, học sinh
và phụ huynh trong quá trình dạy - học. Đặc biệt đối với giáo viên thì đây là kho tài
liệu giúp chúng ta có thể lựa chọn dữ liệu cho dạy buổi 2. Tuy nhiên, các tài liệu tham
khảo mới chỉ đưa ra các bài toán về so sánh số đo độ dài, làm tính với các số đo độ dài
có một, hai đơn vị đo. Bước đầu đưa ra các dạng bài tập nhưng chưa đưa ra theo mạch
kiến thức, chưa theo dạng cụ thể mà mới đưa ra dưới hình thức xen kẽ, đơn lẻ và đặc
Để có được kĩ năng đổi số đo độ dài một cách bền vững trước hết học sinh
cần có những kiến thức cơ bản về đổi số đo có một đơn vị lớn sang số đo có một đơn
vị bé và ngược lại. Học sinh nắm vững được kĩ thuật này thì sẽ vận dụng làm tốt bài
tập dạng tiếp theo.
Đối với các dạng bài này, giáo viên tiến hành hệ thống ôn tập như sau:
+ Bước 1: Ôn lại các đơn vị đo độ dài và mối quan hệ giữa các đơn vị đo.
+ Bước 2: Vận dụng, làm bài tập củng cố.
Dạng bài này, giáo viên không chỉ giúp học sinh làm tốt bài tập trong sgk
mà còn thường xuyên đưa ra vào các tiết học buổi 2 giúp các em ôn và ghi nhớ lại
kiến thức, thứ tự các đơn vị đo độ dài đã học như yêu cầu học sinh ghi tên các đơn
vị đo độ dài đã học theo thứ tự từ lớn đến bé. Học sinh sẽ ghi được thứ tự các đơn
vị đo đã học từ lớn đến bé là: km; …; ….; m; dm; cm; mm. Sở dĩ, học sinh ghi:
km; …; …; m; vì giáo viên giới thiệu giữa ki-lô-mét và mét còn có hai đơn vị đo
nữa mà lên lớp 3 các em sẽ được học. Với cách dạy trên, giáo viên đã giúp học
sinh đã nắm được thứ tự các đơn vị đo độ dài: Từ bé đến lớn: mm; cm; dm; m; …;
…;km và ngược lại. HS nắm được mối quan hệ giữa các đơn vị đo độ dài đã học.
Sau khi nhắc lại kiến thức cơ bản đã học giáo viên cho học sinh làm các bài tập để
củng cố kiến thức.
*Bài tập vận dụng, củng cố.
Bài 1: Số?
1dm = … cm
10dm = ….m
1m = … cm
100cm = ….m
1dm = … mm
100mm = ….cm
1
0
trái 4cm nữa, ta có: 5dm4cm, thì 5dm4cm = …cm?
+ GV ghi và yêu cầu học sinh làm: 5dm4cm = …cm
Đây là dạng bài mà học sinh hay gặp ở phần nâng cao trong các sách tham
khảo trong các bài học buổi hai. Với cách dẫn dắt như trên thì nhiều em đã phát
hiện ra và tính được 5dm4cm = 54cm.
Sau khi học sinh tự phát hiện ra kiến thức , giáo viên đã hướng dẫn học sinh
như sau:
Cho học sinh quan sát số đo ở vế trái, hỏi: Số đo ở vế trái có những đơn vị đo nào?
HS nêu số đo ở vế trái có hai đơn vị đo đó là đề-xi-mét và xăng-ti-mét.
? Trước tiên ta đổi 5dm bằng bao nhiêu xăng-ti-mét? (5dm = 50cm.)
? Vế trái, ngoài 5dm còn có số đo nào nữa ? (còn số đo 4cm.)
? Vậy 5dm = 50cm, lấy 50cm thêm với 4cm nữa, ta có bao nhiêu xăng-ti-mét?
(Có tất cả 54cm.)
? Vậy 5dm4cm bằng mấy xăng-ti-mét? (5dm4cm = 54cm.)
Biểu diễn cho học sinh nắm được:
1
1
5dm
4cm = 54cm
50cm + 4cm
+ Dựa vào mối quan hệ cùng với cách thực hiện ở trên, học sinh tính được kết
quả: 5dm4cm = 54cm.
*Chốt cách làm: Đổi số đo độ dài có tên hai đơn vị đo sang số đo độ dài có tên một đơn
vị đo, ta thực hiện:
+ Xác định đơn vị đo của số đo ban đầu, đơn vị đo cần phải đổi sang.
+ Dựa vào mối quan hệ giữa các đơn vị đo trong bài để thực hiện đổi.
Ví dụ: 56dm = …m …dm: Chữ số hàng chục của 56 là 5 đổi sang tương ứng là
5m, chữ số hàng đơn vị là 6 của 56 là 6dm, thì học sinh tính ngay ra kết quả:
56dm
= 5m6dm
*Bài tập củng cố, rèn luyện kĩ năng:
Bài 1: Số?
3m5dm = ...dm
2m 5cm = ......cm
4m2cm = ...cm
2cm 5mm = ......mm
Bµi 2: Điền số thích hợp vào chỗ chấm:
35dm = ... m....dm
25cm = ....dm....cm
402cm = ....m.....cm
72mm = ....cm....mm
Dạng 2: So sánh các số đo độ dài.
Ví dụ1: So sánh: 2dm3cm ……3dm2cm
*Phân tích yêu cầu:
- Xác định yêu cầu so sánh hai số đo độ dài. Số đo độ dài ở mỗi vế đều là số đo có
hai tên đơn vị. Như vậy để so sánh được cần đổi cả hai số đo về số đo có cùng một
tên đơn vị đo.
* Hướng dẫn cách làm:
- Để so sánh được trước hết chúng ta làm gì? (Đổi số đo ở hai vế đang có hai tên đơn
vị là đề-xi-mét và xăng-ti-mét sang số đo có cùng một tên đơn vị là xăng-ti-mét).
- Sau khi đổi xong, ta so sánh như thế nào? (so sánh như số sánh với số tự nhiên).
Giáo viên vừa gợi ý, hướng dẫn:
* Phân tích yêu cầu:
- Xác định đây là bài kết hợp giữa so sánh, đổi số đo độ dài với xác định số
đo nằm trong khoảng hai số đo độ dài cho trước. Như vậy phải đổi số đo về cùng
đơn vị đo, rồi xác định số đo nào nằm trong khoảng hai số đo đã cho trước. Sau đó
đổi các số đo về đơn vị đo theo yêu cầu.
* Hướng dẫn cách làm:
- Trước hết, giáo viên cho học sinh quan sát và nhận xét về đặc điểm dạng
bài. Sau đó tiến hành gợi ý, hướng dẫn học sinh thực hiện đổi các số đo độ dài đã
biết về cùng đơn vị đo là xăng-ti-mét (Học sinh đổi được 6dm = 60cm; 58cm
không đổi). Tiếp tục cho học sinh xác định xem số đo nào nằm giữa hai số đo
60cm và 58cm. (Học sinh xác định được 60cm > 59cm > 58cm.) Giáo viên lại tiếp
tục cho học sinh đổi 59cm về số đo có tên đơn vị đo theo yêu cầu đề bài (học sinh
đổi 59cm = 5dm9cm). Lúc này học sinh dễ dàng điền kết quả vào để hoàn thiện
bài làm: 6dm > 5dm9cm > 58cm.
Trình bày: 6dm > 5dm9cm > 58cm
*Chốt cách làm: Khi làm bài, học sinh cần thực hiện theo các bước:
Bước 1: Đổi các số đo đã biết về cùng đơn vị đo (nếu các số đo chưa cùng đơn vị đo).
Bước 2: So sánh và xác định số đo độ dài nằm trong khoảng theo yêu cầu đề bài đã cho.
Bước 3: Đưa số đo độ dài về số đo có tên đơn vị đo theo yêu cầu đề bài, hoàn thiện bài.
Ví dụ 3: Viết:
a) Các số đo: 23cm; 3dm; 25cm; 2dm theo thứ tự từ bé đến lớn.
b) Các số đo: 57cm; 5dm; 6dm; 65cm theo thứ tự từ lớn đến bé.
*Phân tích yêu cầu:
- Xác định yêu cầu viết các số đo theo thứ tự từ lớn đến bé hoặc từ bé đến lớn. Các
số đo ở đây khác đơn vị đo. Như vậy để thực hiện được yêu cầu trước hết phải đổi
các số đo khác đơn vị đo về cùng số đo có cùng một đơn vị đo.
* Hướng dẫn cách làm:
- Để xếp được các số đo đã cho theo thứ thự từ lớn đến bé hay thứ tự từ bé đến
lớn, trước hết ta cần làm gì? (Đổi các số đo đã cho đang có hai tên đơn vị đo sang
các số đo có cùng một tên đơn vị bé hơn (cm)).
Bài 2: Số?
69cm >....dm > 7dm1cm
8dm7cm < .....dm...cm < 9dm
Bài 3: Viết:
a) Các số đo: 5m; 467cm; 23dm; 123cm, theo thứ tự giảm dần.
b) Các số đo: 23mm; 4cm; 3cm6mm; 4cm3mm, theo thứ tự tăng dần.
- Gợi ý: + Theo thứ tự giảm dần là từ lớn đến bé.
+ Theo thứ tự tăng dần là từ bé đến lớn.
Với các bài tập trên, kết quả học sinh làm bài đúng với tỉ lệ khá cao và ghi
nhớ lâu dạng bài. Đồng thời, qua bài tập, giáo viên yêu cầu HS nhắc lại thứ tự,
mối quan hệ các đơn vị đo độ dài đã học đã học. Điều này giúp các em học tốt các
bài toán mở rộng của dạng toán và giải toán ở lớp trên.
Dạng 3. Cộng, trừ với số đo độ dài khác đơn vị đo.
Sau khi học sinh nắm được cách đổi số đo độ dài, so sánh số đo độ dài, giáo
viên tiếp tục hướng dẫn học sinh dạng 3 “cộng, trừ với số đo độ dài”.
Ví dụ 1: Tính: 2dm + 5cm = ?
*Phân tích yêu cầu:
- Xác định yêu cầu tính tổng của hai số đo độ dài khác đơn vị đo. Như vậy phải
đưa về cùng một đơn vị đo, rồi thực hiện tính.
* Hướng dẫn cách làm:
- Em có nhận xét gì về đơn vị đo của hai số đo? (hai số đo có đơn vị đo khác nhau).
- Như vậy để tính được kết quả, ta phải làm gì? (Đưa về số đo có cùng đơn vị đo).
? Nên đổi về số đo có đơn vị đo nào? (cm).
1
5
- Giáo viên cho học sinh thực hiện đổi: 2dm = 20cm
- Cho học sinh thực hiện cộng như cộng hai số tự nhiên sau đó viết tên đơn vị đo
vào sau kết quả: 20cm + 5cm = 25cm
Ví dụ 4: Tính: 6dm + 15cm - 3dm5cm = ?
Hướng dẫn tương tự ta có:
6dm + 15cm - 3dm5cm = 60cm + 15cm – 35cm
= 75cm – 35cm
= 40cm
*Chốt cách làm: Khi cộng (hay trừ) số đo độ dài, ta thực hiện:
1
6
+ Đổi các số đo về cùng một đơn vị đo (lưu ý đổi về đơn vị đo bé nhất trong các
đơn vị đo có trong bài).
+ Thực hiện cộng, trừ như cộng, trừ với số tự nhiên rồi ghi tên đơn vị đo vào sau
kết quả tính được.
*Bài tập củng cố, rèn kĩ năng:
Bài 1: Tính:
40cm + 3dm
8dm5cm - 35cm
5dm6cm + 4dm4cm
3dm 2cm + 42cm
Bài 2: Viết số thích hợp vào chỗ chấm:
(Bài 2 - trang 43 – Ôn tập cuối tuần môn Toán 2 – Tập 2)
1m + 19dm = ....dm
1m + 39dm = ......dm
3m + 25cm = ....cm
10dm + 25cm = ......cm
2m + 65cm = ....cm
12dm + 5cm = ......cm
Với dạng toán cộng trừ với số đo độ dài, tôi lưu ý học sinh cần thực hiện:
Bước 1: Quan sát, nhận xét về đơn vị đo của các số đo.
Phần sợi dây Tí đã cắt dài là:
23 + 40 = 63 (cm)
Sợi dây còn lại dài số xăng-ti-mét là:
85 - 63 = 22 (cm)
Đáp số: 22cm
Lưu ý: Khi giải bài toán có số đo độ dài cần xem xem các số đo có cùng đơn vị
đo không. Nếu không cùng đơn vị đo thì phải đổi về cùng đơn vị đo. Sau đó thực hiện
giải thông thường.
*Bài tập vận dụng:
Bài 1: Sợi dây thứ nhất dài 2dm. Sợi dây thứ hai dài hơn sợi dây thứ nhất là 5cm.
Hỏi sợi dây thứ hai dài bao nhiêu xăng-ti-mét?
(Lưu ý: Đổi số đo 2dm = 20cm)
Bài 2: Hình chữ nhật có chiều dài là 37cm, chiều rộng là 3dm.Tính tổng chiều dài
và chiều rộng của hình chữ nhật đó?
(Lưu ý: Đổi 3dm = 30cm; Tính tổng là thực hiện tính cộng)
Bài 3: Đường gấp khúc ABCD có độ dài 2 đoạn thẳng AB và BC bằng nhau và
bằng 3dm, đoạn thẳng CD dài 2dm8cm. Tính độ dài đường gấp khúc đó.
(Lưu ý: Đổi 3dm = 30cm ; 2dm8cm = 28cm)
Bài 4: Một mảnh vải dài 3m2dm. Người ta cắt đi
1
mảnh vải để may áo. Hỏi đã
4
may áo hết bao nhiêu đề - xi – mét vải?
(Lưu ý: Đổi 3m2dm = 32dm)
Như vậy, khi thực hiện giải bài toán có số đo độ dài cần lưu ý: Nếu các số
đo không có cùng đơn vị đo thì ta phải đổi số đo về cùng một đơn vị đo rồi mới
thực hiện phép tính.
Với cách dạy - học như trên thì học sinh đã được mở rộng thêm kiến thức trên
4dm ……. 39cm
4dm 6cm …..4dm 9cm
3dm 7cm ……73cm
Bài 3: Tính:
30cm + 5dm
7dm2cm - 35cm
5dm7cm + 2dm4cm
5dm 2cm + 42cm
Bài 4: <; >; = ?
71cm
…… 7dm 5cm
76dm - 50cm …. 90cm + 61dm
89cm –7dm < …dm < 3cm +18cm
28cm + 39cm > ….cm + 6dm > 65cm
Bài 5: Mảnh vải xanh dài 76dm, cô bán vải đã cắt đi 60cm. Hỏi mảnh vải xanh
còn dài bao nhiêu đề-xi-mét?
* Kết quả khảo sát cuối năm như sau:
2. Năm học 2016 – 2017:
Tổng
số HS
25 em
Điểm 9 - 10
Bài 1
Bài 2
Bài 3
Bài 4
Bài 5
Điểm 7 - 8
Điểm 5 - 6
Điểm < 5
4em = 16%
4 em = 16%
5 em = 20%
4 em = 16%
5 em = 20%
0
0
0
1 em = 4%
0
0
0
0
0
0
2. Năm học 2017 – 2018:
Tổng
số HS
25 em
thu được kết quả thật khả quan. Thiết nghĩ nếu áp dụng các biện pháp này một
cách thường xuyên ở tất cả các lớp, chắc chắn các em tiếp cận và làm tốt được
dạng toán.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Để học sinh giải các bài toán theo các dạng ở trên không khó nhưng sẽ là
phức tạp nếu khi học các em không được hướng dẫn kĩ và nắm được cách làm . Vì
vậy, để giúp các em có được kĩ năng giải một cách thuần thục cần phải qua quá
trình rèn luyện của cả học sinh kết hợp với sự quan tâm, nhắc nhở, hướng dẫn của
giáo viên.
Qua thực tế dạy học, tôi thấy để dạy học sinh dạng toán giải bài toán với các
dạng ở trên liên quan đến đơn vị đo độ dài có hiệu quả thì giáo viên cần đảm bảo
một số điều kiện sau:
- Giáo viên phải hiểu rõ bản chất và nắm vững dạng toán cơ bản để có biện pháp
hợp lí, khoa học chính xác giúp các em hiểu bản chất, hứng thú học.
- Nghiên cứu, lập kế hoạch dạy học từ lý thuyết đến bài tập; hệ thống bài tập,
phân dạng và rút ra cách làm cho mỗi dạng; thực hiện dạy học theo dạng bài từ dễ
đến khó.
- Kèm cặp chặt chẽ, hướng dẫn sát sao từng học sinh.
- Thường xuyên ra các đề kiểm tra để nhận được thông tin phản hồi từ học sinh để
điều chỉnh cách dạy cho phù hợp.
- In sẵn đề bài thông qua phiếu học tập đến tận từng học sinh.
3.2. Kiến nghị:
a) Đối với nhà trường: Thường xuyên tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng về
Toán, đặc biệt là chuyên đề về Đại lượng và số đo đại lượng để nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên.
b) Giáo viên: - Cần nghiên cứu kĩ mục tiêu, yêu cầu bài dạy, dụng ý sách giáo
khoa để có sự chuẩn bị chu đáo về đồ dùng học tập cho tiết dạy.
2
0
7
Tên tài liệu
Sách giáo khoa Toán lớp Một, lớp Hai, lớp Ba, lớp Bốn, lớp Năm.
Tự luyện Violimpic Toán 2 - Tập 1; Tập 2 – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Phát triển và nâng cao Toán 2 – Nhà xuất bản Đại học Sư phạm.
Ôn tập cuối tuần môn Toán 2 - Tập 1 - Nhà xuất bản Đại học Sư phạm.
35 đề ôn luyện và phát triển Toán 2 - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Chương trình viôlimpic Toán 2 trên mạng.
Đề Giao lưu Câu lạc bộ Em yêu môn Toán của trường.
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
2
2
Họ và tên tác giả:
Chức vụ và đơn vị công tác:
TT
Tên đề tài SKKN
1
Hướng dẫn học sinh các kĩ năng
thực hiện phép nhân, phép chia
C
20102011
Phòng GD
&ĐT
Sở GD
&ĐT
Phòng GD
&ĐT
B
B
C
20132014
20132014
2015 - 2016
MỤC LỤC
STT
1
Nội dung
Mở đầu.
Trang
1
2
2.1
Cơ sở lí luận.
3
2.2
Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
3
2.3
Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
5
2.4
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
18
Kết luận, kiến nghị.
20
3.1