Tiểu luận Thương Mại Quốc tế Phân tích tác động của chính sách thuế quan đối với các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài - Pdf 51

MỤC LỤC

Lời mở đầu
Trong bối cảnh kinh tế hiện nay đang ngày càng mở cửa, việc các doanh
nghiệp được thành lập nên ngày càng nhiều, phục vụ cho mục đích kinh doanh,
thu lại lợi nhuận hay đơn thuần họ muốn thành lập doanh nghiệp, tổ chức làm
việc thiện. Đó là điều rất đáng hoan nghênh tại mỗi quốc gia, nhưng trên hết để
có thể quản lý các doanh nghiệp hiệu quả không thể thiếu sự quản lý của nhà
nước. Dù là các doanh nghiệp kinh doanh hay có hoạt động gì đều phải được sự
cho phép của pháp luật, của mỗi quốc gia.
Nước Việt Nam chúng ta cũng như vậy, để có một thể chế quản lý các doanh
nghiệp hiệu quả không thể thiếu các chính sách, các quy định do pháp luật nhà
nước đề ra. Hơn tất cả, đó là các chính sách về thuế. Một khoản thu giúp cho nhà
nước có thể quản lý các doanh nghiệp tốt hơn cũng coi như một khoản thu cho
chính phủ. Khi mà các doanh nghiệp làm việc và hoạt động trên thị trường, đất
nước Việt Nam thì sẽ phải có nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước. Tuy nhiên để có
thể tìm hiểu kĩ hơn về những tác động do chính sách thuế nhà nước ban hành,
nhóm LOLO đã làm bài tiểu luận, trình bày những hiểu biết và tìm hiểu của mình
về tác động chính sách thuế cho các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp
nước ngoài.
Bài gồm có 3 phần:
Phần 1. Cơ sở lý luận về các chính sách thuế quan trong thương mại quốc tế
Phần 2. Phân tích tác động của chính sách thuế đối với doanh nghiệp trong nước
và doanh nghiệp nước ngoài
Phần 3. Đánh giá và đề xuất giải pháp

1|Page


PHẦN 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC CHÍNH SÁCH THUẾ
QUAN TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

2


− Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
của doanh nghiệp thực hiện quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu, quyền phân
phối.


Đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu không áp dụng đối với các
trường hợp sau:

+ Hàng hóa quá cảnh, chuyển khẩu, trung chuyển;
+ Hàng hóa viện trợ nhân đạo, hàng hóa viện trợ không hoàn lại;
+ Hàng hóa xuất khẩu từ khu phi thuế quan ra nước ngoài; hàng hóa nhập
khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi
thuế quan; hàng hóa chuyển từ khu phi thuế quan này sang khu phi thuế
quan khác;
+

Phần dầu khí được dùng để trả thuế tài nguyên cho Nhà nước khi xuất
khẩu.

1.3 Phân loại thuế quan.
1.3.1 Phân loại theo đối tượng chịu thuế
− Thuế quan xuất khẩu:
+ Áp đặt vào hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu của một quốc gia hây vùng lãnh
thổ. Thuế quan xuất khẩu có thể đánh vào thành phẩm, đầu vào thành
phẩm hay đầu vào xuất khẩu.
+ Thuế xuất khẩu là loại thế đánh vào những mặt hàng mà Nhà nước muốn
hạn chế xuất khẩu. Nhằm bình ổn giá một số mặt hàng trong nước, hoặc

loại thuế dễ thu nhất, và chi phí để thu thuế nhập khẩu là khá nhỏ.
− Các loại thuế quan khác:
+ Thuế quá cảnh là khi hàng hóa không nhập vào nội địa cho sử dụng. Ví dụ
như Singapore có cảng nước sâu là nơi mà các tàu lớn từ Ấn độ dương cập
cảng sau đó hàng hóa được chia ra thành các tàu nhỏ hơn để đi về phía
Thái Bình Dương và ngược lại.
+ Thuế quan chống phá giá:
Áp đặt những hàng hóa được xác định là bán phá giá hoặc sẽ bán phá giá.
Bán phá giá có nghĩa là một hàng hóa được bán dưới mức chi phí sản xuất ra
hàng hóa đó. Tương tự với thuế đối kháng, nếu Mỹ chứng minh là cá basa bị bán
dưới giá sản xuất thì Mỹ sẽ áp dụng mức thuế này.
4


+ Thuế quan đối kháng:
Là loại thuế được áp dụng nếu hàng hóa nhập khẩu bị xác định là đã được
chính phủ của nước xuất khẩu trợ cấp trái quy định của WTO.
Khoản thuế bổ sung (ngoài thuế nhập khẩu thông thường) đánh vào sản phẩm
nước ngoài được trợ cấp vào nước nhập khẩu. Đây là biện pháp chống trợ cấp
(còn gọi là biện pháp đối kháng) nhằm vào các nhà sản xuất xuất khẩu nước
ngoài được trợ cấp (thông qua thủ tục điều tra chống trợ cấp do nước nhập khẩu
tiến hành) chứ không nhằm vào chính phủ nước ngoài đã thực hiện việc trợ cấp
(WTO quy định các cơ chế xử lý khác mang tính đa phương cho trường hợp
này).
+ Thuế quan hạn ngạch:
Là thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu vượt hạn ngạch vào một quốc gia hay
vùng lãnh thổ.
Chủ yếu áp dụng đối với nông sản. Ví dụ để bảo vệ sản xuất lúa gạo trong
nước chính phủ sẽ yêu cầu các công ty nhập khẩu đăng ký số lượng nhập khẩu
trong năm. Nếu như nhà nhập khẩu nhập trong hạn ngạch thì thuế thấp (15%)

so với nhập ô tô nguyên chiếc. Mục đích là chính phủ bảo hộ sản xuất ô tô
trong nước và tạo ra thêm việc làm.
1.3.2 Theo mục đích đánh thuế
− Thuế quan bảo hộ
+ Áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu, thông qua việc đánh thuế nhằm bảo hộ
với nền sản xuất trong nước
− Thuế quan tài chính là thông qua việc đóng thuế nhằm đem lại nguồn thu
cho ngân sách nhà nước.
+ Áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu
+ Áp dụng cho hàng hóa xuất khẩu
1.3.3 Các phương thức đánh thuế quan
− Phương pháp tính thuế hỗn hợp là việc áp dụng đồng thời phương pháp tính
thuế theo tỷ lệ phần trăm và phương pháp tính thuế tuyệt đối.
− Phương pháp tính thuế theo tỷ lệ phần trăm là việc xác định thuế theo phần
trăm (%) của trị giá tính thuế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

6


− Phương pháp tính thuế tuyệt đối (cố định) là việc ấn định số tiền thuế nhất
định trên một đơn vị hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
1.4 Vai trò của thuế quan.
− Thuế nhập khẩu có thể được dùng như công cụ bảo hộ mậu dịch:
+ Giảm nhập khẩu bằng cách làm cho chúng trở nên đắt hơn so với các mặt
hàng thay thế có trong nước và điều này làm giảm thâm hụt trong cán cân
thương mại.
+ Chống lại các hành vi phá giá bằng cách tăng giá hàng nhập khẩu của mặt
hàng phá giá lên tới mức giá chung của thị trường.
+ Trả đũa trước các hành vi dựng hàng rào thuế quan do quốc gia khác đánh
thuế đối với hàng hóa xuất khẩu của mình, nhất là trong các cuộc chiến

16/11/2015 của Bộ Tài chính. Theo như Thông tư đã đề cập rõ ràng những mặt
hàng Việt Nam đánh thuế suất khẩu với mức thuế từ 0 – 22% đối với 123 mặt
hàng. Đối với những mặt hàng không có mặt trong biểu thuế này khi xuất khẩu
sẽ hưởng mức thuế 0%.
Ngoài ra, Việt Nam đang ngày càng hội nhập và có nhiều hoạt động ký kết với
các quốc gia, nhóm nước hay các vùng lãnh thổ. Khi xuất khẩu sang những nước,
nhóm nước hay vùng lãnh thổ này hàng hóa sẽ được hưởng mức ưu đãi thuế suất
theo như thỏa thuận hai bên đã kỹ.
Tích cực: Đối với những mặt hàng xuất khẩu có mức thuế thấp sẽ tạo điều
kiện cho doanh nghiệp phát triển và mở rộng được quy mô. Sản phẩm khi xuất
khẩu sẽ thu được nhiều tiền hơn và chịu mức thuế thấp hoặc là mức thuế bằng 0.
Tăng lượng hàng xuất khẩu cho các doanh nghiệp trong nước sản xuất những mặt
hàng được miễn hay giảm thuế. Tăng tính cạnh tranh với các doanh nghiệp nước
ngoài.
Tiêu cực: Tương tự với các mặt hàng được miễn, giảm thuế cũng sẽ có nhiều
mặt hàng sẽ bị đánh mức thuế xuất khẩu cao. Điều này sẽ làm giảm sản lượng
xuất khẩu của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sẽ phải nghĩ đến các biện pháp để
cân đối thu, chi, giá cả sản phẩm sao cho phù hợp.

8


2.1.2 Thuế nhập khẩu
Đã có xuất khẩu hàng hóa thì sẽ có nhập khẩu, các doanh nghiệp trên nước
ngoài đang thấy Việt Nam là thị trường tiềm năng với số lượng dân cư đông đúc,
thu nhập bình quân đầu người tăng cao. Chính vì vậy, có nhiều mặt hàng được
nhập khẩu vào Việt Nam. Chính phủ Việt Nam muốn bảo vệ những doanh nghiệp
trong nước không bị những doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu hàng hóa và
mang những hàng hóa đó vào Việt Nam, gây khó khăn và cạnh tranh cho doanh
nghiệp nước nhà. Do đó, chính phủ đã ban hành những chính sách thuế liên quan

sản xuất các mặt hàng xuất khẩu như hoãn, giảm thuế, ưu đãi vốn, bảo
lãnh các khoản vay, … Điều này đã giúp cho những doanh nghiệp giảm
thiểu được chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm sẽ rẻ hơn so với các quốc
gia khác. Khi nhập khẩu vào các quốc gia do giá cả sản phẩm rẻ vô hình
đã “phá giá” thị trường. Khiến sản phẩm rơi vào tình trạng bánh phá giá.
Như vụ việc cá basa của Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ với giá rẻ khiến Mỹ
nghĩ Việt Nam trợ cấp giá và có những vụ kiện xảy ra. Về mức thuế chống
trợ cấp tùy theo mỗi nước quy định với từng sản phẩm được cho là có trợ
cấp của nước xuất khẩu.
Tích cực: Nhà nước có những chính sách bảo vệ cho doanh nghiệp nội địa,
làm cho doanh nghiệp có cơ hội hoạt động tốt.
Tiêu cực: Các doanh nghiệp trong nước khi xuất khẩu ra nước ngoài đến một
nước như Mỹ, do đồng tiền của Việt Nam là đồng tiền yếu nên giá thành có rẻ
hơn. Nhưng điều đó đã mắc phải thuế đối kháng của Mỹ nên Việt Nam phải chịu
thêm mức thuế này. Điều này làm cho sản phẩm từ giá thành rẻ sau khi nhập
khẩu làm cho giá thành tăng lên, khó cạnh tranh với những sản phẩm tại nước
nhà. Nghiêm trọng hơn nếu không nắm rõ giá cả của nước xuất khẩu, các doanh
nghiệp Việt Nam sẽ chịu kiện từ nước nhập khẩu.
− Thuế chống bán phá giá
Được áp dụng với những mặt hàng bán giá thấp hơn giá cả của sản phẩm bán
trong nước. Thuế chống bán phá giá cũng tương tự như thuế chống trợ cấp xuất
khẩu. Nếu nước nhập khẩu có đủ bằng chứng sản phẩm bán phá giá có thể đưa ra
quy định thuế cho sản phẩm này.
Tích cực: Việc sử dụng các chính sách chống bán phá giá ở các nước đang
phát triển giúp bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng trong nước chống lại
10


"mức giá thôn tính" và giá độc quyền bằng cách ngăn chặn lợi thế giá thành thấp
của các mặt hàng nhập khẩu đến từ các công ty nước ngoài. Mặc dù trong ngắn


để bảo vệ cho các doanh nghiệp nội địa và sản phẩm hàng hóa của nước đó được
phát triển, góp phần đóng ngân sách cho nhà nước.
2.2.1 Thuế xuất khẩu
Mức thuế xuất khẩu của mỗi quốc gia khác nhau nên có thể mặt hàng này nhà
nước Việt Nam đánh thuế nhưng quốc gia đó thì không tùy thuộc vào mục đích
của nước đó và mối quan hệ cũng như việc bảo vệ sản phẩm trong nước.
Các doanh nghiệp nước ngoài được hưởng ưu đãi khi ký kết hợp đồng gia
công với các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được miễn thuế nhập khẩu các nguyên
liệu đầu vào và miễn thuế xuất khẩu với các sản phẩm hoàn thiện.
2.2.2 Thuế quá cảnh
Việt Nam là một đất nước có đường bờ biển dài nên phát triển về cảng biển,
nơi giao thương giữa các quốc gia là một phần không thể thiếu. Ví dụ như Lào,
đây là một quốc gia không có đường bờ biển nhưng nhiều loại hàng hóa lại chỉ
có thể giao bằng đường thủy, đẻ có thể vận chuyển hàng sẽ phải đi qua cảng biển
của Việt Nam. Để có thể đi vào cảng biển của mỗi quốc gia sẽ phải chịu một
khoản thuế nhất định. Tuy nhiên Việt Nam và Lào có ký với nhau hiệp định về
hàng quá cảnh và các tuyến đường có thể đi qua. Hay việc các doanh nghiệp
buôn bán quốc tế khi vận chuyển hàng qua kênh đào Panama cũng phải mất tiền
thuế cho lượng hàng đi qua và đây được coi như nguồn thu chính của quốc gia
này.
Các doanh nghiệp thuộc các nước ký kết các hiệp định với Việt Nam về thuế
quá cảnh, nếu được ưu đãi thuế sẽ có thể tiết kiệm chi phí đi lại, giao thương
hàng hóa thuận tiện hơn. Tuy nhiên, Việt Nam cũng có ban hành luật về những
loại hàng được miễn thuế quá cảnh như hàng viện trợ nhân đạo, hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu có có trị giá từ 1.000.000 đồng Việt Nam trở xuống hoặc có số
tiền thuế phải nộp dưới 100.000 đồng Việt Nam gửi qua dịch vụ chuyển phát
nhanh., hàng hóa có trị giá hải quan dưới 500.000 đồng hoặc có trị giá số tiền
thuế xuất khẩu, nhập khẩu phải nộp dưới mức 50.000 đồng cho một lần xuất
khẩu, nhập khẩu.

các doanh nghiệp nước ngoài khi muốn nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam.
− Thuế theo hạn ngạch
Mỗi quốc gia khi được áp dụng hạn ngạch cho hàng hóa sẽ có mức trần cho
lượng sản phẩm được chịu mức thuế suất thấp khi nhập khẩu vào Việt Nam. Thuế
quan hạn ngạch chỉ áp dụng mức thuế thấp cho số lượng hàng hóa quy định
nhưng khi doanh nghiệp nhập khẩu số hàng hóa quá quy định, chỉ cần doanh
nghiệp đóng thuế, mức thuế sẽ cao hơn sô với mức thuế ưu đãi nhưng hàng hóa
vẫn sẽ được nhập khẩu vào Việt Nam. Khác với hạn ngạch, khi lượng hàng hóa
vượt quá trần sẽ bị cấm và không được nhập khẩu.
13


Tích cực: Khi áp đặt mức hạn ngạch đối với quốc gia có ký cam kết, điều này
sẽ tạo ra lợi thế cho các doanh nghiệp thuộc các quốc gia này khi nhập khẩu hàng
hóa vào Việt Nam. Doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế sẽ có lợi thế cạnh
tranh hơn so với các doanh nghiệp khác nhập khẩu cùng mặt hàng. Do đó mang
lại lượng khách hàng cho doanh nghiệp nhiều hơn.
Tiêu cực: Ngoài phần sản lượng được quy định mức thuế ưu đãi, nếu nhập
khẩu thêm sẽ phải chịu mức thuế rất lớn. Đây cũng là một cản trở cho doanh
nghiệp nước ngoài cạnh tranh với doanh nghiệp nội địa. Nguồn hàng được nhập
khẩu vào trong nước sẽ ít hơn, dẫn đến không thu hút được nhiều khách hàng,
phải cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước sản xuất cùng ngành.
− Thuế đối kháng, thuế chống bán phá giá
Hai loại thuế này đều có chung mục đích đánh thuế vào những mặt hàng mà
các nước mạnh cho rằng các nước yếu nhập hàng sang nước mình nhưng lại bán
với cái giá rẻ hơn so với mặt bằng chung. Hai loại thuế này sẽ là bất lợi cho các
nước như Việt Nam khi xuất khẩu hàng hóa sang các nước lớn như Mỹ. Nhưng
ngược lại khi các doanh nghiệp nước ngoài nhập khẩu hàng vào Việt Nam bán
giá thấp hơn giá của các doanh nghiệp trong nước, sẽ gây mất thị phần cho doanh
nghiệp nội địa.

các tỉnh, thành phố trong cả nước, đảm bảo cho việc nộp thuế được dễ
dàng, thuận tiện. Úng dụng công nghệ thông tin vào nhiều khâu quản lý
thuế, do đó đã góp phần tích cực vào việc nâng cao hiệu quả công tác quản
lý thuế.
− Thứ hai, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được thiết kế hợp lý hơn. Đúng
theo lộ trình cắt giảm thuế quan của Hiệp định thương mại hàng hóa
ASEAN (ATIGA), đến cuối năm 2014, Việt Nam đã cắt giảm 6.859 dòng
thuế (chiếm 72% tổng Biểu thuế xuất nhập khẩu) xuống 0%. Từ ngày
1/1/2015, Việt Nam đã cắt giảm thêm 1.720 dòng thuế từ thuế suất hiện
hành 5% xuống 0% theo cam kết ATIGA. Như vậy, chỉ còn khoảng 7%
dòng thuế, tương đương 687 mặt hàng được xem là nhạy cảm theo thỏa
thuận với ASEAN chưa cắt giảm ngay về 0% trong năm 2015 mà thực hiện
dần đến năm 2018. Hiện nay đối với phần lớn hàng xuất khẩu có thuế suất
0%, trừ một số hàng như dầu thô, một số loại quặng và song mây.
− Thứ ba, Việt Nam đang hội nhập với thế giới do đó theo nhiều hiệp định sẽ
có những ưu đãi, miễn thuế quan đối với hàng xuất khẩu hay nhập khẩu.
Điều này đã giúp Việt Nam tạo dựng mối quan hệ với nhiều quốc gia khác
trên thế giới. Các quốc gia khác cũng có những ưu đãi cho Việt Nam, từ đó
tăng lợi thế cạnh tranh cho những mặt hàng chủ lực.
+ Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng bên cạnh cam kết giảm thuế xuất nhập
khẩu theo lộ trình AEC Việt Nam cần điều chỉnh hệ thống thuế nội địa.
Việc điều chỉnh này không trực tiếp nằm trong nội dung cam kết với
ASEAN nhưng sẽ giúp hệ thống thuế Việt Nam phù hợp với các thông lệ
16


quốc tế, đơn giản hóa và minh bạch hóa hệ thống thuế; đồng thời xác định
mức động viên hợp lý, đảm bảo số thu cho ngân sách.
− Thứ tư, Bộ Tài chính cho biết đón đầu xu thế hội nhập, Bộ đã triển khai
điều chỉnh một số chính sách thuế nội địa để vừa sức dân, vừa đảm bảo số

tăng cao, sẽ khiến ngành mía đường trong nước gặp khó khăn do ngành
này đã được hưởng các chính sách bảo hộ trong một thời gian dài.
+ Bên cạnh đó, theo hiệp định ATIGA, thuế suất nhập khẩu ô tô chở người
dưới 9 chỗ sẽ về 0% vào năm 2018. Đây là một thách thức bởi sau một
thời gian dài bảo hộ và phát triển chính sách trong nước, ngành công
nghiệp ôtô Việt Nam vẫn phát triển chậm hơn so với các quốc gia láng
giềng như Thái Lan, Indonesia, Malaysia.
− Thứ ba, hàng rào thuế quan sẽ làm ảnh hưởng đến mối quan hệ với các
nước chịu thuế. Khi nước A dựng hàng rào thuế quan với nước B, nước B
trả đũa nước A cũng dựng hàng rào thuế quan. Điều này
− Thứ tư, khi hàng rào thuế quan khiến cho hai nước xung đột và không thể
hợp tác được với nhau. được gỡ bỏ thì sẽ có những sản phẩm nhập ngoại
vào Việt Nam ngày càng nhiều. Tâm lý người Việt sính ngoại mà bây giờ
hàng nhập ngoại cũng không quá đắt sẽ làm cho hàng hóa nhập ngoại được
tiêu dùng nhiều hơn. Gây khó khăn cho các sản phẩm trong nước.
3.2 Giải pháp
3.2.1 Nâng cao chất lượng cho hàng hóa của các doanh nghiệp trong nước xuất
khẩu
Chất lượng vẫn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với người tiêu dùng. Khi hàng
hóa của bạn tốt thì dù là đất nước nào thì vẫn có thể thu hút được người tiêu dùng
sử dụng. Hàng hóa Việt Nam hiện nay chất lượng còn yếu kém, một số mặt hàng
chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế. Để có thể đối đầu với vấn đề hàng rào thuế quan
đang ngày càng tinh gọn và nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp nước ngoai, các
doanh nghiệp trong nước chỉ còn cách nâng cao chất lượng sản phẩm của mình,
để người tiêu dùng lựa chọn cũng như có thể đối đầu với các doanh nghiệp nước
ngoài, cùng nhau cạnh tranh.
3.2.2 Nghiên cứu thị trường để đưa ra giải pháp cho sản phẩm
Tìm hiểu khách hàng của mình là ai, họ cần gì. Khi hiểu rõ nhu cầu của người
tiêu dùng mới có thể làm ra những sản phẩm tốt và chất lượng. Đối với những
18

như về chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp hiện đã giảm từ 25% xuống còn
20% (năm 2016). Giảm 5% là một khoản không nhỏ đối với hoạt động doanh
nghiệp. Tận dung những lới ích của việc áp dụng chính sách thuế mới, doanh
nghiệp đã xoay vòng nguồn vốn nhanh hơn để tái đầu tư.
Việc thay đổi từng chính sách thuế cũng cần có lộ trình để đảm bảo hài hòa lợi
ích của doanh nghiệp với tài chính Nhà nước. Những chính sách mới ngày càng
thông thoáng đưa lợi nhuận nhiều hơn cho doanh nghiệp thì nguồn thu ngân sách
sẽ bị ảnh hưởng nhất định trong năm 2018 và nhiều năm tiếp theo. Tuy nhiên cục
Thuế vẫn cam kết và quyết tâm làm tròn trách nhiệm hỗ trợ doanh nghiệp, thông
tin tuyên truyền luật thuế đối với tất cả doanh nghiệp, đồng thời sẽ khai thác
nguồn thu khác để bù đắp thiếu hụt ngân sách.
Mặt tích cực thì đã thể hiện rõ đối với quyền lợi của từng doanh nghiệp khi
những chính sách thuế không còn phù hợp hiện nay đã được điều chỉnh. Tuy
nhiên, nếu những chính sách đó đi kè với các giải pháp thực thi đồng bộ, thì
chính sách Thuế đi vào cuộc sống mới thật sự là động lực cho doanh nghiệp hoạt
động, vì mục tiêu phát triển bền vững và hội nhập hiện nay.


Danh mục tài liệu tham khảo
/> /> /> /> />



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status