Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ trang phục (trên tư liệu tiếng việt và tiếng anh tt - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI THỊ OANH

ĐẶC ĐIỂM TRƢỜNG TỪ VỰNG  NGỮ NGHĨA
CHỈ TRANG PHỤC
(TRÊN TƢ LIỆU TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH)

Ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 9222024

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI, 2018


Công trình đƣợc hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Phạm Tất Thắng
TS. Đỗ Thị Hiên

Phản biện 1: GS.TS. Nguyễn Thiện Giáp
Phản biện 2: GS.TS. Lê Quang Thiêm
Phản biện 3: PGS.TS. Phạm Hùng Việt

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ họp tại:
Học viện Khoa học xã hội giờ, ngày tháng


2


Phương pháp miêu tả; phương pháp phân tích thành tố nghĩa;
phương pháp so sánh đối chiếu; thủ pháp thống kê
5. Đóng góp mới của của luận án
Tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và
chuyên sâu đặc điểm cấu tạo, nguồn gốc và các phương thức định danh
của các từ ngữ thuộc trường trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh.
Khảo sát đặc điểm văn hóa-dân tộc của các từ ngữ chỉ trang
phục từ ba bình diện nghiên cứu: từ ngữ chỉ trang phục, tư duy liên
tưởng trong định danh trang phục và ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ
trang phục trong thành ngữ, tục ngữ Việt - Anh. Kết quả nghiên cứu
cho thấy chính sự ảnh hưởng, tác động qua lại giữa con người-tự
nhiên-xã hội đã tạo nên bản sắc riêng của mỗi dân tộc và bản sắc dân
tộc, đã lưu dấu ấn ở lớp từ ngữ chỉ trang phục mà tiếng Việt và tiếng
Anh không phải là ngoại lệ.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Các kết quả của đề tài sẽ góp phần củng cố lí thuyết về trường
từ vựng - ngữ nghĩa, làm rõ thêm một số vấn đề trong quan hệ bộ ba
ngôn ngữ-văn hóa-tư duy thể hiện qua trường từ vựng-ngữ nghĩa chỉ
trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh. Đồng thời, kết quả nghiên
cứu còn cung cấp thêm nguồn ngữ liệu về bản sắc văn hóa của hai dân
tộc Việt - Anh.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Về ý nghĩa thực tiễn, kết quả của đề tài sẽ góp phần nâng cao
công tác biên soạn sách dạy tiếng Việt cho người nói tiếng Anh và
3


đáng tiếc trong hai ngôn ngữ; Phần lớn các từ ngữ chỉ trang phục của
người Mỹ và người Anh có nguồn gốc từ tiếng Pháp và tiếng Đức song
trong tiếng Anh - Anh có một số từ ngữ chỉ trang phục được du nhập
vào nước Anh trong thời kì thuộc địa có nguồn gốc từ Ấn Độ.
Xu hướng thứ hai: Hướng nghiên cứu từ ngữ chỉ trang phục từ
góc độ nghiên cứu tiêu chí phân loại. Các tác giả Volha Murashka
&Viktoriya Pasenka (2013) cho rằng tiêu chí chính trong phân loại từ
vựng là phải dựa vào kinh nghiệm cá nhân bởi lẽ trong quá trình nhận
thức thế giới khách quan, kinh nghiệm của mỗi người giúp hình thành
các phạm trù phân loại trong tư tưởng họ trước tiên
Xu hướng thứ ba: Nghiên cứu về đặc trưng ngôn ngữ của các từ
ngữ chỉ trang phục trong ngôn ngữ Tatar, Zulfiya G.Khanoval (2017)
nhận định: ngoài các từ có nguồn gốc từ tiếng Tatar, các từ ngữ chỉ trang
phục trong tiếng Tatar còn có nguồn gốc từ tiếng Ả rập – Ba Tư. Tên gọi
trang phục tiếng Tatar chủ yếu được cấu tạo bằng phương thức ghép.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về từ ngữ chỉ trang phục
ở Việt Nam
Xu hướng thứ nhất: Nghiên cứu về đặc điểm định danh có công
trình của Lý Toàn Thắng (2009), Phạm Thị Hồng (2007) và Hoàng Thị
Huệ (2017).
Từ góc độ nghiên cứu đối chiếu đặc thù định danh của các từ
ngữ chỉ trang phục Việt với trang phục của dân tộc khác, Phạm Thị
Hồng (2007) chỉ ra rằng với đặc điểm là một loại hình ngôn ngữ tổng
hợp tính tiếng Nga thường thêm các phụ tố vào thân từ của tên gọi chỉ
5


trang phục để cấu tạo nên một từ mới (chiếm 68,6%). Trái lại, tiếng
Việt với đặc điểm là một loại hình ngôn ngữ đơn lập thường sử dụng
một yếu tố sẵn có làm tên gọi chỉ loại bằng cách thêm một gốc từ (tính

1.2. Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài
1.2.1. Khái quát về trường từ vựng - ngữ nghĩa
1.2.1.1. Khái niệm trường từ vựng - ngữ nghĩa
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm trường nghĩa nhưng
chung quy lại có thể quy vào hai khuynh hướng chủ yếu sau:
Khuynh hướng thứ nhất quan niệm trường nghĩa là toàn bộ các
khái niệm mà các từ trong ngôn ngữ biểu hiện. Đại diện tiêu biểu cho
khuynh hướng này là L.Weisgerber và J.Trier.
Khuynh hướng thứ hai cố gắng xây dựng lí thuyết trường nghĩa
trên cơ sở tiêu chí ngôn ngữ học. Trường nghĩa không phải là phạm vi
các khái niệm mà là phạm vi tất cả các từ có quan hệ với nhau về
nghĩa. Đại diện chính cho khuynh hướng này là Ipsen.
Lyons (1977) đã phân biệt trường từ vựng (lexical field) - một
tập hợp các đơn vị từ vựng bao phủ lên một trường khái niệm cụ thể
với trường khái niệm (conceptual field) - một cấu trúc khái niệm ở cấp
độ ngữ nghĩa, tức một vùng khái niệm đã được cấu trúc hóa. Lyons
(1977) còn phân biệt giữa trường từ vựng (lexical field) và trường
nghĩa (semantic field). Nếu một trường bao gồm tập hợp các biểu thức
phủ lên trường khái niệm như các thành ngữ bên cạnh các đơn vị từ

7


khác trong trường thì trường này nên được gọi là trường nghĩa hơn là
trường từ vựng.
1.2.1.2. Khái niệm về trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ trang phục
Trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ trang phục được hiểu là tập hợp
các từ ngữ biểu thị trang phục có quan hệ với nhau về nghĩa một cách
có hệ thống. Chúng có thể gồm rất nhiều tiểu trường được nghiên cứu
theo trường nghĩa trực tuyến, tuyến tính và liên tưởng. Căn cứ vào

rằng: “Định danh phái sinh sẽ diễn ra theo một quá trình gồm ít nhất ba
công đoạn đồng bộ liên quan đến nhau như: sử dụng yếu tố làm
phương tiện, tác động vào hệ nguyên tố và tạo lập nên đơn vị phái sinh
theo cách nào đó. Định danh có thể được thể hiện bằng các từ võ đoán;
các từ không võ đoán và các từ ghép; các tổ hợp từ”.
1.2.2.3. Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá của định danh
Nguyễn Đức Tồn (2015) cho rằng đặc trưng văn hóa trong việc
chọn đặc trưng của đối tượng định danh thể hiện ở chỗ: mặc dù các đặc
trưng này hết sức nhiều và đa dạng, song trong một số trường hợp, mỗi
ngôn ngữ có thể biểu lộ thiên hướng lấy những đặc trưng có tính chất
nhất định để làm cơ sở gọi tên. Do đó, giá trị của cùng một đặc trưng
trong từng ngôn ngữ là không giống nhau. Dung lượng ý nghĩa của các
từ và các tên gọi sẽ phụ thuộc vào những đặc trưng được lựa chọn.
Chính đặc điểm loại hình của ngôn ngữ cũng đã có ảnh hưởng rất lớn
đến cách dùng các loại từ với đối tượng khi được gọi tên trong lời nói.
1.2.3. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
9


Giữa ngôn ngữ, văn hoá và tư duy có mối quan hệ gắn bó chặt
chẽ khó tách rời. Ngôn ngữ với chức năng chính là công cụ, là phương
tiện biểu đạt của tư duy, khi gắn bó hữu cơ với văn hóa sẽ hình thành
cơ sở nền tảng của văn hóa và ngôn ngữ đóng vai trò là tiêu chí giúp
phân loại các nền văn hóa với nhau. Bên cạnh đó, ngôn ngữ còn là
phương tiện tất yếu và là điều kiện cho sự hình thành và phát triển của
các thành tố văn hóa. [65, 51].
1.2.4. Khái quát về văn hoá trang phục
Văn hóa trang phục bao gồm y phục, đồ trang sức, cách ứng xử
của con người với việc sử dụng trang phục đó. Mỗi dân tộc đều có
những nét văn hóa đặc trưng riêng và trang phục chính là một trong

nguồn gốc và phương thức định danh các tên gọi trang phục sẽ cung
cấp những tri thức quan trọng về đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa - dân
tộc của người Việt và người Anh.
2.1. Đặc điểm cấu tạo của các từ ngữ chỉ trang phục trong
tiếng Việt và tiếng Anh

2.1.1. Đặc điểm cấu tạo của các từ ngữ chỉ trang phục trong
tiếng Việt
Kết quả khảo sát cho thấy trong tổng số 955 đơn vị từ ngữ chỉ
trang phục của người Việt có 143 từ đơn (chiếm 14,9%) - những từ
gồm một âm tiết, không phân chia ra được thành phần cấu tạo và 812
từ ghép (chiếm 85%). Trong đó, đại bộ phận các từ ngữ biểu thị trang
11


phục được hình thành bằng phương thức ghép chính phụ (những từ
ghép có các thành phần cấu tạo phụ thuộc vào nhau).

2.1.2. Đặc điểm cấu tạo của các từ ngữ chỉ trang phục trong
tiếng Anh
Kết quả nghiên cứu cho thấy các từ ngữ chỉ trang phục trong
tiếng Anh có 926 đơn vị: 345 từ đơn (chiếm 37,3%); 553 từ ghép
(chiếm 59,8%); 3 từ phái sinh chiếm 2,9%.
Trong số các từ đơn chỉ trang phục của người Anh xuất hiện
trong khảo cứu, chiếm số lượng lớn nhất là các từ đơn thuộc tiểu
trường trang phục phần thân trên (85 từ, chiếm 9,2%). Phương thức
ghép là phương thức phổ biến nhất để cấu tạo nên các từ ngữ chỉ trang
phục của dân tộc Anh (chiếm 56,9%).
Ngoài ra, trường từ vựng chỉ trang phục trong tiếng Anh còn
được tạo bằng phương thức phụ gia (còn gọi là phái sinh) với 44 đơn vị

tiếng Anh hoặc tiếng Pháp (66/955 đơn vị, chiếm 6,9%).

2.2..2. Đặc điểm nguồn gốc của các từ ngữ chỉ trang phục trong
tiếng Anh
Trong tổng số 926 đơn vị từ vựng chỉ trang phục trong tiếng
Anh, có 806 từ thuần Anh (chiếm 87%). Còn lại là các từ được vay
mượn từ tiếng Pháp và các ngôn ngữ khác (120 từ, chiếm 13%), cụ thể
như sau:
Các tên gọi trang phục của người Anh phần lớn được vay mượn
từ tiếng Pháp với số lượng cụ thể là 86 đơn vị (chiếm 9,3%).
13


Bên cạnh đó, tiếng Anh còn có 34 tên gọi trang phục bắt nguồn
từ một số ngôn ngữ khác (chiếm 3,7%) như tiếng La tinh, tiếng Hindi,
tiếng Tây Ban Nha và một số thứ tiếng khác.
2.2.3. So sánh đặc điểm nguồn gốc của các từ ngữ chỉ trang
phục trong tiếng Việt và tiếng Anh
Số liệu thống kê cho thấy đa số các từ ngữ biểu thị trang phục
của người Việt và người Anh đều được tạo ra bằng cách sử dụng đơn
vị từ vựng có sẵn trong ngôn ngữ hoặc sáng tạo mới bằng những yếu tố
đã có với số lượng từ thuần chiếm 62,2% trong tiếng Việt và 87%
trong tiếng Anh.
Số lượng áp đảo của các từ ngữ thuần Việt hoặc thuần Anh
này cho thấy mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa đặc trưng riêng và
trang phục chính là một trong những tiền đề tạo nên cái riêng đó.
Các tên gọi trang phục không phải từ thuần Việt chủ yếu được
vay mượn chủ yếu từ tiếng Hán và một số ít được vay mượn từ tiếng
Pháp hoặc tiếng Anh. Các từ vay mượn chỉ trang phục của người Anh
lại có nguồn gốc từ nhiều ngôn ngữ khác nhau như: Pháp, La tinh,

Các loại áo thường được gọi tên theo đặc điểm hình thức của cổ áo, tay
áo, thân áo…; các loại mũ được gọi theo hình dáng bên ngoài của thân
mũ, chóp mũ, vành mũ…; các loại giày, dép được gọi tên theo đặc
điểm của thân giày, mũi giày, gót giày…Có lẽ các đặc điểm, thuộc tính
nổi bật nhất thường là các thuộc tính có thể dễ dàng thấy được bằng
mắt thường như hình thức. Vì có khả năng kích thích trực tiếp đến cơ
quan thị giác nên thuộc tính “đập vào mắt” này được sử dụng để gọi
tên trang phục dựa trên cơ sở liên tưởng đồng nhất nào đó.

15


Trong quá trình định danh trang phục, người Việt không coi
mục đích sử dụng là dấu hiệu đặc trưng khu biệt như người Anh. Điều
đó thể hiện rõ nét trong việc các tên gọi đồ trang sức.
Chất liệu trang phục trở thành thuộc tính nổi bật làm cơ sở định
danh trang phục nhất là các từ chỉ quần áo, giày dép, mũ nón của người
Việt. Trái lại, dân tộc Anh không có xu hướng dùng từ ngữ chỉ chất
liệu để gọi tên cho trang phục kể cả những trang phục chiếm tỷ trọng
lớn nhất của con người như quần áo.
CHƢƠNG 3
ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA - DÂN TỘC CỦA CÁC TỪ NGỮ
CHỈ TRANG PHỤC TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
Đặc điểm văn hoá - dân tộc của các từ ngữ chỉ trang phục trong
hai ngôn ngữ Việt và Anh được tìm hiểu và nghiên cứu qua ba bình
diện: (1) từ ngữ chỉ trang phục; (2) tư duy liên tưởng trong định danh
trang phục; (3) ý nghĩa biểu trưng của các từ ngữ chỉ trang phục trong
thành ngữ và tục ngữ Việt-Anh.
3.1. Đặc điểm văn hoá trang phục qua từ ngữ chỉ trang phục
của ngƣời Việt và ngƣời Anh

định danh từ ngữ chỉ trang phục của ngƣời Việt và ngƣời Anh
Kết quả nghiên cứu phản ánh những khác biệt về đặc trưng văn
hóa - dân tộc như sau:
Để gọi tên các loại trang phục của dân tộc dựa trên sự giống
nhau về hình thức, dân tộc Việt sử dụng những hình ảnh gắn liền với
17


nền nông nghiệp lúa nước và tâm thức người Việt. Dân tộc Anh khi
gọi tên trang phục thường liên tưởng đến hình ảnh của những đồ vật
quen thuộc với một quốc gia công nghiệp phát triển.
Về đặc điểm của trang phục, các tên gọi trang phục của người
bản ngữ chủ yếu là kết quả của sự liên tưởng đồng nhất với đặc điểm
tính chất miêu tả về bề ngoài của trang phục trong khi người Anh liên
tưởng chúng với những đặc điểm tính chất miêu tả kiểu cách của trang
phục.
Ý nghĩa tượng trưng được sử dụng để thay thế cho tên gọi trang
phục trong tiếng Việt xuất hiện trong hai từ như: mũ giải trãi, giày
lười. Tên gọi trang phục theo ý nghĩa tượng trưng của người Anh
chiếm số lượng áp đảo hơn.
Sự liên tưởng về mối quan hệ cùng xuất hiện giữa trang phục
với hoa văn, họa tiết trong định danh tên gọi trang phục khá phổ biến
trong tiếng Việt song lại không xuất hiện trong tiếng Anh.
Từ ngữ chỉ trang phục được định danh dựa trên tư duy liên
tưởng về mối quan hệ giữa nhân vật, tác phẩm nghệ thuật gợi cảm
hứng thiết kế không tồn tại trong ngữ liệu tiếng Việt nhưng diễn ra
tương đối thường xuyên trong ngữ liệu tiếng Anh.
Dân tộc Việt rất ít khi sử dụng tên gọi của nhà thiết kế hay
người sử dụng cho tên gọi của trang phục. Trái lại, sự chuyển nghĩa từ
ngữ chỉ trang phục dựa theo mối quan hệ giữa nhà thiết kế hoặc chủ

19


duy khi chỉ ra rằng nếu con người không chịu lao động thì họ sẽ chẳng
được hưởng gì cả.
Một điểm chung khác giữa hai nền văn hóa là đều coi chiếc túi
làm hình ảnh tượng trưng cho tiền bạc. Khi nói về việc tiêu hết nhẵn
tiền cả hai dân tộc đều nói: cháy túi và burn a hole in one’s pocket
(cháy túi/tiêu hết tiền).
Tư duy ngôn ngữ của hai dân tộc Việt - Anh hội tụ ở điểm đều
coi hình ảnh của chiếc thắt lưng để biểu trưng cho sự tiết kiệm, căn cơ:
thắt lưng buộc bụng và tighten your belt.
Xét về bình diện giá trị đẳng cấp, những người thuộc tầng lớp cao
nhất của xã hội được nhắc đến trong thành ngữ, tục ngữ Việt - Anh dù cho
các hình ảnh biểu trưng, tần suất và mức độ biểu trưng khác biệt đáng kể
trong từng ngôn ngữ.
Trên góc độ biểu trưng cho giới tính, điểm tương đồng trong
tư duy ngôn ngữ của cả hai dân tộc Việt - Anh thể hiện ở chỗ các từ chỉ
trang phục đều được coi là định ngữ biểu trưng cho hình ảnh người
phụ nữ tuy cách lựa chọn hình ảnh và nghĩa biểu trưng không giống
nhau giữa hai dân tộc. Sự khác biệt đó xuất phát từ thực tế khách quan,
truyền thống văn hóa, lịch sử và tâm lí người bản ngữ và chính sự khác
biệt này đã khiến cho đặc trưng văn hóa dân tộc ở mỗi nước có những
điểm độc đáo riêng.
* Khác biệt
Trong số các hướng nghĩa biểu trưng, nghĩa biểu trưng cho
đạo đức xã hội của từ ngữ chỉ trang phục chiếm số lượng lớn nhất
trong thành ngữ, tục ngữ Việt và Anh (Việt có 57 đơn vị ; Anh có 62
20


1. Đặc điểm loại hình ngôn ngữ đã chi phối đến cách cấu tạo tên
gọi trang phục trong cả hai ngôn ngữ. Tiếng Việt với loại hình của
ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính có cách định danh tiêu biểu là ghép từ
còn ngôn ngữ hòa kết, biến hình như tiếng Anh ngoài phương thức
ghép còn có kiểu định danh khác như phụ gia. Số lượng từ ghép chỉ
trang phục trong tiếng Việt nhiều hơn tiếng Anh chính là lí do khiến
mức độ phân tích tính của tên gọi trang phục Việt cao hơn tên gọi Anh.
Trái lại, số lượng từ đơn của tiếng Anh nhiều hơn cho thấy mức độ hòa
kết của tiếng Anh cao hơn tiếng Việt.
2. Các từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh đều
sử dụng các đơn vị từ vựng có sẵn với những tên gọi thuần Việt hoặc
thuần Anh là chủ yếu. Tuy nhiên, vì tên gọi thuần Việt chiếm số lượng
ít hơn tên gọi thuần Anh nên có thể coi bức tranh ngôn ngữ về trang
phục của tiếng Việt có nhiều ô trống hơn.
Sự ảnh hưởng của đặc điểm địa lí tự nhiên và lịch sử - xã hội đã
tác động không hề nhỏ đến ngôn ngữ nói chung và các từ ngữ chỉ trang
phục nói riêng. Đồng thời quá trình tiếp xúc ngôn ngữ dẫn đến pha trộn
và nảy sinh ngôn ngữ mới đã chứng tỏ quá trình diễn tiến của ngôn
ngữ diễn ra một cách hoàn toàn tự nhiên và hợp lí. Người Việt đã
nhanh chóng lấp đầy những khoảng trống ấy bằng cách vay mượn chủ
yếu từ tiếng Hán (do tiếp giáp về địa lí, có quá trình tiếp xúc lâu dài
với tiếng Hán và cùng mang đặc điểm của loại hình ngôn ngữ đơn lập)
và một số ít từ ngôn ngữ Ấn Âu (do quá trình giao lưu, hội nhập). Các
từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Anh phần lớn có nguồn gốc từ tiếng
22


Pháp, Latinh, Hindi và một số ít được vay mượn từ những ngôn ngữ
khác như tiếng Nga, Thổ Nhĩ Kì, Trung Quốc, Ba Lan…
3. Đặc trưng hình thức và mục đích sử dụng được cả hai dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status