ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRỊNH THANH HƢƠNG
NHẬN THỨC VỀ TỰ KỶ CỦA SINH VIÊN NĂM CUỐI
CÁC NGÀNH CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN
Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI – 2014
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRỊNH THANH HƢƠNG
NHẬN THỨC VỀ TỰ KỶ CỦA SINH VIÊN NĂM CUỐI
CÁC NGÀNH CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN
Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
i
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIÊT TẮT
ABA
Applied Behavior Analysis - Phương pháp phân tích hành vi
ứng dụng
BSĐK
Bác sĩ đa khoa
CĐ
Cao đẳng
DSM
Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders - Sổ tay
Chẩn đoán và Thống kê các Rối loạn tâm thần (của Hiệp hội
Tâm thần học Hoa Kỳ)
Sức khỏe tâm thần
SL
Số lượng
SP
Sư phạm
STAT
Screening Tool for Autism in Toddlers and Young Children –
Công cụ sàng lọc tự kỷ ở trẻ tập đi và trẻ nhỏ
TK
Tự kỷ
TLH
Tâm lý học
TS.
Tiến sĩ
TT
1.3.1. Ngành chăm sóc SKTT ......................................................................... 32
1.3.2. Sinh viên ngành chăm sóc sức khỏe tâm thần ...................................... 32
1.3.3. Cách tiếp cận với tự kỷ của các ngành chăm sóc SKTT....................... 36
Chƣơng 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.................. 41
2.1. Tiến trình nghiên cứu ............................................................................... 41
2.1.1. Giai đoạn nghiên cứu lý luận ................................................................ 41
2.1.2. Giai đoạn khảo sát thực trạng, xử lý số liệu.......................................... 41
iii
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
2.2. Sơ lược về địa bàn nghiên cứu ................................................................. 42
2.2.1. Trường Đại học Lao động - Xã hội ....................................................... 43
2.2.2. Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn .................................... 44
2.2.3. Trường đại học Sư phạm Hà Nội .......................................................... 45
2.2.4. Trường Đại học Giáo Dục- ĐH Quốc Gia Hà Nội ............................... 45
2.2.5. Trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương .............................................. 46
2.2.6. Bệnh viện Tâm Thần Trung Ương 1 ..................................................... 46
2.3. Mẫu nghiên cứu ........................................................................................ 47
2.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 49
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu........................................................... 49
2.4.2. Phương pháp phỏng vấn ........................................................................ 49
2.4.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi..................................................... 50
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Số lượng sinh viên theo trường ......................................................
42
Bảng 2.2. Một số đặc điểm của khách thể nghiên cứu ...................................
47
Bảng 2.3. Tuổi khách thể nghiên cứu .............................................................
48
Bảng 3.1. Mức độ biết đến tự kỷ của sinh viên ..............................................
53
Bảng 3.2. Nguồn thông tin mà qua đó sinh viên biết đến tự kỷ .....................
54
Bảng 3.3. Chương trình học về tự kỷ .............................................................
55
Bảng 3.4. Nhận thức của sinh viên về nguyên nhân tự kỷ..............................
56
Bảng 3.5. Nhận thức của sinh viên về biểu hiện tự kỷ ...................................
58
Bảng 3.6. Nhận thức về khả năng phát triển của trẻ tự kỷ ..............................
61
Bảng 3.7. Nhận thức về khả năng phục hồi của trẻ tự kỷ ...............................
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1. Số lượng sinh viên theo trường .................................................. 43
Biểu đồ 2.2. Kinh nghiệm làm việc với trẻ tự kỷ............................................ 48
Biểu đồ 2.3. Khả năng làm việc với tự kỷ sau khi ra trường .......................... 49
Biểu đồ 3.1. Mức độ biết đến tự kỷ của sinh viên .......................................... 52
Biểu đồ 3.2. Nhận thức của sinh viên về triệu chứng tự kỷ ............................ 57
Biểu đồ 3.3. Nhận thức của sinh viên về biểu hiện tự kỷ ............................... 60
Biểu đồ 3.4. Nhận thức về khả năng phát triển của trẻ tự kỷ.......................... 63
Biểu đồ 3.5. Nhận thức về khả năng phục hồi của trẻ tự kỷ ........................... 65
Biểu đồ 3.6. Nhận thức của sinh viên về cách điều trị cho trẻ tự kỷ .............. 67
Biểu đồ 3.7. Sinh viên hiểu về khả năng nghề nghiệp ................................... 69
Biểu đồ 3.8. Đánh giá của sinh viên về chẩn đoán tự kỷ ................................ 71
Biểu đồ 3.9. Nhận thức của sinh viên về triệu chứng tự kỷ ............................ 73
Biểu đồ 3.10. Đặc điểm sinh viên các chuyên ngành với nguyên nhân
tự kỷ................................................................................................................. 74
Biểu đồ 3.11. Đặc điểm sinh viên với nhận thức về biểu hiện tự kỷ .............. 75
Biểu đồ 3.12. Đặc điểm sinh viên và nhận thức về khả năng phục hồi ......... 76
Biểu đồ 3.13. Đặc điểm sinh viên với nhận thức về cách thức hố trợ trẻ
tự kỷ ............................................................................................................... 77
Biều đồ 3.14. Đặc điểm sinh viên với nhận thức trong đánh giá về tự kỷ ............. 78
Biểu đồ 3.15. Đặc điểm sinh viên với kinh nghiệm làm việc ........................ 79
vii
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
Tự kỷ (Autism) hay Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorder) được sử dụng thay thế cho nhau và
cùng chỉ một dạng vấn đề. Theo Tổ chức Tự kỷ Lên tiếng - Autism Speaks (2013).
/>
1
công việc giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ hiện còn nhiều khó khăn, nhất là
vấn đề đội ngũ giáo viên chuyên biệt” [55].
Sự quan tâm của xã hội nói chung, và đặc biệt là của cộng đồng các gia
đình có trẻ bị tự kỷ đã tạo áp lực khiến các nhà chuyên môn và giới khoa học
bắt đầu vào cuộc. Các lĩnh vực khoa học chính liên quan đến tự kỷ bao gồm
tâm lý học, tâm thần học, giáo dục đặc biệt và công tác xã hội. Nhà chuyên
môn của các lĩnh vực này bắt đầu thực hiện các nghiên cứu khoa học về tự kỷ,
đưa các môn liên quan đến tự kỷ và chương trình giảng dạy cho sinh viên, và
bước đầu xuất hiện những hoạt động chuyên môn hướng ra cộng đồng cũng
như các hoạt động nâng cao nhận thức cho các gia đình có người bị tự kỷ,
không chỉ nhằm mục đích cung cấp kiến thức đúng về tự kỷ mà còn nâng cao
nhận thức về tự kỷ trong xã hội.
Tuy vậy có vẻ như trình độ và khả năng của các nhà chuyên môn trong
lĩnh vực tự kỷ chưa đáp ứng được nhu cầu của các gia đình và của xã hội,
được thể hiện qua kết quả của nhiều các nghiên cứu, các bài báo như:
Bài viết của tác giả Trần Văn Công và Vũ Thị Minh Hương trên Tạp chí
Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn (2011) với tiêu đề “Xung
quanh vấn đề chẩn đoán trẻ tự kỷ hiện nay” đã cho rằng chẩn đoán về tự kỷ chưa
đúng, còn nhiều sự nhầm lẫn do ở Việt Nam ai cũng có thể chẩn đoán tự kỷ. Từ
những nhà giáo dục đặc biệt, cử nhân tâm lý, thậm chí cả những người không có
chuyên môn. Tác giả đưa ra khuyến nghị, ở Việt Nam nên xây dựng đội ngũ
chuyên gia được đào tạo bài bản về tâm bệnh trẻ em, có đủ chuyên môn và năng
lực để chẩn đoán như bác sĩ nhi và tâm thần, nhà tâm lý học lâm sàng, nhà giáo
cho những nhà chuyên môn ngành chăm sóc sức khỏe tâm thần còn nhiều vấn
đề, và hầu hết sinh viên chỉ được học về tự kỷ như là được đề cập tới thông
qua các môn học khác, chứ chưa có môn học riêng về tự kỷ. Điều này có thể
dẫn tới nhận thức của sinh viên các ngành này trong nhà trường còn chưa
đúng, còn nhiều hạn chế. Tuy vậy các nghiên cứu về tự kỷ với các nội dung
khác nhau, mang tính cấp thiết đã được tiến hành nhưng hầu hết chưa mang
tính hệ thống. Các nghiên cứu về nhận thức và hiểu biết tự kỷ còn hạn chế, vì
vậy tự kỷ tuy được nói đến nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng
trong những năm gần đây, nhưng để hiểu đúng về tự kỷ còn cần nhiều các
nghiên cứu hơn nữa.
Theo tìm hiểu của chúng tôi chưa có một nghiên cứu chính thức nào
cho vấn đề nhận thức về TK của sinh viên các ngành chăm sóc SKTT ở Việt
Nam. Vì vậy chúng tôi lấy vấn đề “Nhận thức về tự kỷ của sinh viên năm
cuối các ngành chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của
mình.
3
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu thực trạng nhận thức về TK của sinh
viên năm cuối các ngành chăm sóc SKTT ở Việt Nam.
- Đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của sinh
viên về nguyên nhân, triệu chứng, biểu hiện, tiên lượng phát triển, khả năng
phát triển, trên cơ sở đó đưa ra những chẩn đoán, đánh giá đúng về tự kỷ.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận: Hệ thống hóa cơ sở lý luận, các tài liệu
liên quan về nhận thức và rối loạn phổ tự kỷ để làm cơ sở lý luận cho đề tài
nghiên cứu.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn: Thông qua các phương pháp thu thập
- Nhận thức về tự kỷ của sinh viên năm cuối các ngành chăm sóc sức
khỏe tâm thần có nhiều sai lệch.
- Nhận thức về tự kỷ của sinh viên các ngành chăm sóc sức khỏe tâm
thần ở các ngành khác nhau thì khác nhau.
- Nhận thức về tự kỷ của sinh viên các ngành chăm sóc sức khỏe tâm
thần khác nhau theo thời lượng học về tự kỷ trong chương trình học.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phương pháp này được sử dụng để hệ
thống lại cơ sở lý thuyết, đồng thời tìm hiểu các nghiên cứu đã có về tự kỷ, về
nhận thức, nhận thức về tự kỷ của sinh viên năm cuối các ngành chăm sóc sức
khỏe tâm thần bằng việc tham khảo các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp
chí chuyên ngành, v.v.
7.2. Điều tra bằng bảng hỏi: Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu số
liệu thực tế về định lượng, một bảng hỏi đo đạc nhận thức về tự kỷ sẽ được
xây dựng để phát cho sinh viên các chuyên ngành đã nêu. Kết quả thu được từ
phiếu hỏi nhằm tìm hiểu thực trạng nhận thức về tự kỷ của sinh viên năm cuối
các ngành chăm sóc sức khỏe tâm thần ở Việt Nam.
7.3. Phương pháp phỏng vấn: Phương pháp này dùng để tìm hiểu các thông
tin không được hoặc không cần thiết phải thể hiện ở trong bảng hỏi, ví dụ thời
lượng và môn học có liên quan đến tự kỷ của các chuyên ngành và ở các
trường khác nhau.
7.4. Phương pháp thống kê toán học: Phương pháp này được dùng để xử lý
số liệu định lượng một cách khoa học và khách quan. Các thông tin về số liệu
sẽ được mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS 19.
8. Đóng góp mới của đề tài
- Nghiên cứu này giúp bổ sung thêm nguồn tài liệu trong lĩnh vực tự kỷ,
cụ thể là nhận thức của sinh viên các ngành chăm sóc SKTT.
5
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
11. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, nội dung chính luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu
7
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu về nhận thức
1.1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Nhận thức ở con người đã được nghiên cứu từ rất xa xưa. Tuy vậy, đến
thế kỷ 17, lý luận về nhận thức mới dần dần được hình thành, một số tác giả
như Ph. Bêcơn đã thấy được tầm quan trọng của nhận thức, từ đó từng bước
hình thành nên lý luận nhận thức [10].
Sau đó phải kể đến tác giả Wihelm Wunt là nhà tâm lý học và sinh lý
học người Đức, ông được coi là cha đẻ của ngành tâm lý học. Ông tách Tâm
lý học ra khỏi các khoa học khác, từ đây tâm lý học trở thành khoa học độc
lập. Ông quan tâm đến những gì tạo thành ý thức và mong muốn phân loại
con người đã có nhu cầu tìm hiểu khám phá về nhận thức thế giới xung quanh
mình. Piaget chia quá trình phát triển tri thức làm 4 giai đoạn là: giai đoạn
cảm giác vận động, giai đoạn tiền thao tác tư duy, giai đoạn tư duy cụ thể, giai
đoạn phát triển tư duy trừu tượng. Nhìn chung, mặc dù thuyết nhận thức của
Piaget còn một số hạn chế song đã cung cấp cho chúng ta một ý tưởng chung
để nhìn thấy sự phong phú và phức tạp của nhận thức. Năm 1955 ông thành
lập “Trung tâm quốc tế cho nhận thức luận di truyền Geneva” [16].
1.1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam các công trình nghiên cứu sâu về nhận thức chưa
có nhiều ở Việt Nam. Hầu hết các nghiên cứu đã có chỉ dừng lại ở việc sử
dụng khái niệm để xem xét nhận thức, hiểu biết, kinh nghiệm, thái độ, quan
điểm của một nhóm người về một vấn đề gì đó.
Năm 2002, luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thành Nam, Khoa Tâm lý,
Trường ĐHKHXH và Nhân Văn “Tìm hiểu nhận thức của cha mẹ về tổn
thương sức khỏe tâm thần trẻ em”cho thấy cha mẹ chưa quan tâm nhiều đến
vấn đề sức khỏe tâm thần ở trẻ, mới chỉ dừng lại ở việc chăm sóc về đời sống
vật chất cho trẻ.
Năm 2005, luận văn thạc sĩ của tác giả Lưu Văn Trà, trường ĐH
KHXH&NV nghiên cứu về “Nhận thức của người dân Thạch Thành đối với
việc giữ gìn di tích lịch sử chiến khu Ngọc Trạo trong điều kiện kinh tế thị
trường” kết quả cho thấy người dân Thạch Thành đã có nhận thức tương đối
9
tốt trong việc giữ gìn di tích lịch sử chiến khu Ngọc Trạo trong điều kiện kinh
tế thị trường [38].
Năm 2012, luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Văn Hô ngành Tâm lý học
lâm sàng trẻ em và vị thành niên, Trường Đại học Giáo Dục “Nhận thức của
giáo viên về rối loạn hành vi ở học sinh tiểu học tại một số trường trên địa
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
thần học trẻ em. Ông cũng là người luôn đấu tranh chống lại lạm dụng trẻ em
mắc chứng tự kỷ và thiểu năng trí tuệ. Ông là nhà khoa học đầu tiên xác định
rõ về tự kỷ khi mô tả các đặc điểm của một bé trai trong một bài báo có tiêu
đề “Autistic Disturbances of Affective Contact”. Những mô tả ban đầu của
ông đã trở thành kinh điển trong lĩnh vực tâm thần học lâm sàng. Nhưng
Kanner đã không xem xét trẻ bị tự kỷ từ một hình thức đầu hoặc tiền chứng
tâm thần phân liệt mà ông xem xét dựa trên các dấu hiệu lâm sàng không
giống nhau, không giống như tâm thần phân liệt, bệnh nhân của Kanners
dường như có bệnh tự kỷ từ khi sinh ra. Năm 1943 khi nghiên cứu ở 11 trẻ em
ông đã chỉ ra rằng: Các em khó khăn trong tương tác xã hội, khó khăn trong
việc thích nghi với những thay đổi trong thói quen, nhạy cảm với kích thích
(đặc biệt là âm thanh), sức đề kháng và dị ứng với thực phẩm, nhại lại hoặc
xu hướng lặp lại lời của người nói và khó khăn trong hoạt động tự phát [59].
Tiếp đến là tác giả Bruno Bettelheim, bác sĩ nhi khoa người Mỹ, nghiên
cứu với trẻ mà ông cho là tự kỷ. Ông tuyên bố rằng vấn đề ở trẻ là do “người
mẹ tủ lạnh”. Tức là người mẹ không vỗ về, không quan tâm, không chăm sóc
cho trẻ lúc còn nhỏ. Vì vậy trẻ thiếu đi sự quan tâm chăm sóc, yêu thương.
Nhưng quan điểm này của Bruno đã bị Bernard Rimland là một nhà tâm lý
học và phụ huynh có con mắc chứng tự kỷ phản đối, Bernard cho rằng nguyên
nhân bệnh tự kỷ của con trai mình không phải là do người mẹ tủ lạnh hoặc kỹ
năng làm cha mẹ của vợ mình. Vì vậy mà năm 1964, Bernard Rimland đã cho
xuất bản cuốn sách “Tự kỷ trẻ sơ sinh hội chứng và tác động của nó đối với
một lý thuyết thần kinh của hành vi”để nói về vấn đề này [59].
Nhưng tận đến những năm 70 của thế kỷ XX, tự kỷ mới được biết đến
nhiều hơn. Vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX các quỹ đầu tư cho giáo dục
và điều trị cho trẻ em tâm thần mới bắt đầu được hình thành tại Mỹ. Trong
là khả năng nhận thức của trẻ tự kỷ kém hơn nhiều so với trẻ bình thường.
Mức độ tự kỷ, khả năng phát triển tâm vận động, độ tuổi có ảnh ưởng đến khả
năng nhận thức của trẻ tự kỷ. Không có sự chênh lệch về mức độ nhận thức
giữa trẻ nam và nữ bị tự kỷ [13, tr186]. Nội hàm của từ “nhận thức” trong
nghiên cứu của Ngô Xuân Điệp là khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin, gần
12
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
với kỹ năng trí tuệ và tư duy, khác với nội hàm của “nhận thức” trong nghiên
cứ này của chúng tôi.
Năm 2011, trong luận văn thạc sĩ của trường ĐH Giáo dục, tác giả Trần
Thùy Linh “Tìm hiều và đánh giá thông tin về rối loạn tự kỷ của trẻ em và vị
thành niên trên phương tiện truyền thông internet” kết quả cho thấy Các
thông tin về tự kỷ trên internet rất đa dạng và phong phú cả về số lượng và
chất lượng, đề cập đến mọi khía cạnh của tự kỷ. Cụ thể hơn, kết quả thống kê
và đánh giá cho thấy có rất nhiều thông tin sai và không rõ đúng sai, và nhiều
thông tin mâu thuẫn và trái chiều nhau tồn tại [20, tr92].
Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
trong hội thảo về tự kỷ vào tháng 3/2013 tại Hà Nội, cho hay số trẻ được chẩn
đoán mắc bệnh tự kỷ đang gia tăng nhanh chóng ở Việt Nam, xu thế mắc tự kỉ
tăng nhanh từ 122% đến 268% trong giai đoạn 2004 đến 2007 so với năm
2000, số trẻ đến khám từ năm 2007 tăng 50 lần so với năm 2000, số trẻ điều
tâm vận động cùng với việc áp dụng phương pháp TEACCH. Sau một năm
thực hiện, các trẻ tham gia chương trình đều có những tiến bộ nhất định [2].
Năm 2007, tác giả Quách Thúy Minh đã tiến hành nghiên cứu “Tìm
hiểu một số gia đình và hành vi của trẻ tự kỷ tại Khoa Tâm thần Bệnh viện
Nhi Trung Ương” cho kết quả là 48,9% trẻ thường xuyên xem tivi, quảng cáo,
băng đĩa hình quá nhiều hàng ngày; 60% trẻ không đi mẫu giáo; 51,1% cha
mẹ có quá ít thời gian tiếp xúc với con [25].
Mặc khác, còn một số nghiên cứu liên quan đến trẻ có rối loạn tự kỷ
được xuất bản trên báo chí hoặc xuất bản thành sách hướng dẫn của các Bác
sĩ hoặc các nhà chuyên môn như: “Trẻ em Tự kỷ - Phương thức giáo dục”,
Nguyễn Văn Thành (2006); Năm 2007, Nguyễn Thị Bích Hạnh nghiên cứu
“Tự kỷ - phát hiện sớm và can thiệp sớm”.
Như vậy, có thể thấy rằng các nghiên cứu về tự kỷ ở Việt Nam còn ít,
thiếu tính tập trung, mới chỉ dừng lại ở từng khía cạnh đơn lẻ của tự kỷ, vì vậy
chưa phản ánh hết các vấn đề của trẻ tự kỷ, chưa đáp ứng được nhu cầu thực
tiễn ở nước ta hiện nay.
1.2.3. Các nghiên cứu nhận thức về tự kỷ
14
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
1.2.3.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới các nhà khoa học đã có nghiên cứu nhận thức về tự kỷ từ
y tá nhi khoa và điều dưỡng tâm thần có thể là một rào cản lớn trong can thiệp
sớm, cải thiện chất lượng cuộc sống cũng tiên lượng bệnh tự kỷ ở trẻ em [46].
Như vậy, các nghiên cứu trên thế giới về nhận thức về tự kỷ đều cho
thấy sự hạn chế ít nhiều trong kiến thức và hiểu biết về tự kỷ ở các nhà
chuyên môn.
1.2.3.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Cho đến thời điểm này chúng tôi chỉ tìm thấy luận văn Thạc sĩ Tâm lý
học lâm sàng trẻ em và vị thành niên của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Anh, trường
ĐH Giáo dục năm 2013 với tiêu đề “Nhận thức của cha mẹ về việc giáo dục trẻ
tự kỷ tại gia đình ở Thành phố Hà Nội” kết quả cho thấy đa số cha mẹ trẻ tự kỷ
đều có kiến thức nhất định về công tác giáo dục trẻ tự kỷ tại gia đình nhưng
nhận thức chưa sâu, kiến thức chuyên môn còn chưa nhiều [3].
Như vậy, nghiên cứu về nhận thức ở Việt Nam còn hạn chế, và cần
nhiều các nghiên cứu hơn nữa.
1.2. Một số vấn đề về lý luận
1.2.1. Nhận thức
1.2.1.1. Khái niệm nhận thức
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về nhận thức:
Nhận thức là một hoạt động đặc trưng của con người. Trong quá trình
sống và hoạt động con người nhận thức bản thân mình và hiện thực xung
quanh, từ đó con người bày tỏ thái độ và hành động đối với thế giới xung
quanh và đối với chính bản thân mình. Như vậy có thể nói chính trong hoạt
động thì con người làm chủ được tự nhiên, làm chủ được xã hội và làm chủ
được chính bản thân mình [39].
Theo V.I. Lênin: “Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào
bộ não con người, nhưng đó không phải là sự phản ánh đơn giản trực tiếp
hoàn chỉnh mà là cả quá trình, cả một chuỗi sự trừu tượng, hình thành ra các
khái niệm, quy luật phổ biến của giới tự nhiên vĩnh viễn vận động, phát triển”
[12, tr26]. Ở đây Lênin nhấn mạnh tính tích cực của chủ thể trong quá trình