nhận thức và thái độ của sinh viên sư phạm các tỉnh đồng bằng sông cửu long đối với những chuẩn mực đạo đức - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐỖ VĂN ĐOẠT

NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM
CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỐI VỚI
NHỮNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC

Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ THỊ MINH HÀ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2007


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Lê Thị Minh Hà đã rất tận tâm chỉ dẫn tôi trong thời
gian thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn: Các giảng viên và sinh viên ở Khoa Sư phạm - Đại học
Cần Thơ, Đại học Sư phạm Đồng Tháp và Khoa Sư phạm - Đại học An Giang đã ủng hộ tôi
trong quá trình nghiên cứu; Ban chủ nhiệm Khoa, các giảng viên trong Khoa Tâm lý - Giáo
dục, Phòng Khoa học công nghệ và Sau đại học, các phòng ban liên quan của Trường Đại
học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt khóa
học.
Tôi xin cảm ơn các bạn bè cùng lớp học, đồng nghiệp, người thân đã động viên tôi
hoàn thành luận văn.

0

T
0

1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................6
T
0

T
0

2. Mục đích nghiên cứu .....................................................................................................8
T
0

T
0

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu .............................................................................8
T
0

T
0

4. Giới hạn của đề tài .........................................................................................................8
T
0



CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ......................... 11
T
0

T
0

1.1. Lịch sử nghiên cứu ván đề nhận thức và thái độ của sv đối với CMĐĐ .............11
T
0

T
0

1.1.1. Lược sử nghiên cứa vấn đề trên thế giới .............................................................11
T
0

T
0

1.1.2. Lược sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam ..............................................................12
T
0

T
0

1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu .......................................................................15


T
0

2.1. Nội dung nghiên cứu .................................................................................................38
T
0

T
0

2.1.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận .....................................................................................38
T
0

T
0

2.1.2. Khảo sát thực trạng ..............................................................................................38
T
0

T
0

2.1.3. Nghiên cứu thử nghiệm .......................................................................................38
T
0

T

2.3.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận .........................................................................39
T
0

T
0

2.3.2. Phương pháp điều tra ...........................................................................................40
T
0

T
0

2.3.3. Phương pháp phỏng vấn ......................................................................................41
T
0

T
0


2.3.4. Phương pháp quan sát ..........................................................................................41
T
0

T
0

2.3.5. Phương pháp thử nghiệm.....................................................................................42


T
0

3.1.2. Thực trạng nhận thức và thái độ của sinh viên sư phạm một số tỉnh đồng bằng
sông Cửu Long đối với chuẩn mực đạo đức..................................................................46
T
0

T
0

3.2. Kết quả nghiên cứu thử nghiệm ..............................................................................75
T
0

T
0

3.2.1. Đề xuất một số biện pháp nâng cao nhận thức và thái độ của SVSP các tình
ĐBSCL đối với các CMĐĐ...........................................................................................75
T
0

T
0

3.2.2. Kết quả thử nghiệm tác động nâng cao nhận thức và thái độ của SVSP đối với
các CMĐĐ .....................................................................................................................76
T

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đảng và Nhà nước ta luôn xác định rõ con người là trung tâm chiến lược và cũng là
vốn quí của xã hội, đặc biệt trong thế kỷ 21. Sự phát triển của con người là yếu tố quyết
định mọi sự phát triển của xã hội. Trong đó, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
sự phát triển, vừa là sản phẩm của nền văn hóa, lại vừa là chủ thể sáng tạo ra các giá trị văn
hóa của xã hội. Để có thể tồn tại và đáp ứng những đòi hỏi của xã hội, con người phải nhận
thức, tỏ thái độ và hành động tác động tới hiện thực khách quan. Nhận thức, thái độ và hành
vi có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng không ngang bằng về nguyên tắc, cấu thành nên
nhân cách của con người.
Nhận thức là một quá trình, quá trình này thường gắn với mục đích nhất định, nên
nhận thức của con người là một hoạt động. Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức
là phản ánh hiện thực khách quan. Các quá trình nhận thức mang lại cho con người sự hiểu
biết về thực tại khách quan. Khi con người có nhận thức đúng về những chuẩn mực đạo đức,
thì họ không những sẽ có hành vi đúng mà còn có thái độ đúng mực đối với những hiện
tượng xấu, hành vi lệch chuẩn trong xã hội. Như vậy, bản thân họ một mặt, có khả năng tự
điều chỉnh hành vi của mình, mặt khác, có ảnh hưởng tích cực đến những người xung
quanh.
"Quyền" định hướng cho cách ứng xử của con người và cộng đồng người thuộc về đạo
đức, mà cái gốc của nó là các chuẩn mực đạo đức. Chuẩn mực đạo đức truyền thống và
chuẩn mực đạo đức hiện tại là bài toán của toàn xã hội, đặc biệt là đối với nhà trường. Nghị
quyết lần thứ V - Ban chấp hành Trung uơng Đảng khóa VIII khẳng định: "Tư tưởng, đạo
đức, lối sống là cốt lõi phẩm chất văn hóa trong một con người, là cái gốc của con người, nó
chi phối hành vi của con người". Do đó, vấn đề đạo đức luôn luôn là vấn đề thường trực
trong quá trình phát triển của đất nước.
Đạo đức là một phần không thể thiếu trong cấu trúc nhân cách của con người, vì vậy,
quan tâm đến nhận thức và thái độ đối với các vấn đề đạo đức của thế hệ trẻ, đến việc hình
thành các giá trị đạo đức, nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại là nghĩa vụ không chỉ riêng
của nhà trường mà của cả gia đình và xã hội.


dân tộc.


Nhận thức được tầm quan trọng trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: "Nhận thức
và thái độ của sinh viên Sư phạm các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đối với những
chuẩn mực đạo đức".

2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng nhận thức và thái độ của SVSP một số tỉnh đồng bằng sông cửu
Long đối với chuẩn mực đạo đức. Từ đó, thử nghiệm một số biện pháp được đề xuất nhằm
nâng cao nhận thức và thái độ đối với các những chuẩn mực đạo đức, góp phần hoàn thiện
nhân cách cho các giáo sinh.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Sinh viên sư phạm ở các trường Đại học tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp và thành
phố Cần Thơ:
- Khách thể nghiên cứu thực trạng: 570 SVSP năm thứ nhất và thứ hai.
- Khách thể nghiên cứu thử nghiệm: 80 SVSP năm thứ hai của ĐHCT.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức và thái độ của sinh viên Sư phạm các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đối
với những chuẩn mực đạo đức.

4. Giới hạn của đề tài
Do thời gian và điều kiện có hạn, nên đề tài này chủ yếu tập trung:
- Nội dung: Tìm hiểu nhận thức và thái độ của SVSP đối với những CMĐĐ. Từ đó, đề
xuất một số biện pháp góp phần nâng cao nhận thức và thái độ đạo đức của các giáo sinh.
- Khách thể: 650 SVSP các tỉnh An Giang, Đồng Tháp và thành phố Cần Thơ.
- Phạm vi: Khoa Sư phạm - Đại học An Giang, Đại học Sư phạm Đồng Tháp và Khoa
Sư phạm - Đại học Cần Thơ.

Phương pháp này được sử dụng nhằm thu thập những thông tin cần thiết bổ sung cho
việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.


7.2.4. Phương pháp thử nghiệm
Phương pháp thử nghiệm được sử dụng với mục đích chứng minh hiệu quả của biện
pháp tác động nhằm nâng cao nhận thức và thái độ của SVSP đối với các chuẩn mực đạo
đức.
7.3. Phương pháp thông kê toán học
Xử lý thông tin thu được.
Các phương pháp nghiên cứu trên sẽ được cụ thể hóa trong quá trình thực hiện đề tài
của luận văn.

8. Đóng góp của đề tài
8.1. Về lý luận
Kế thừa kinh nghiệm của các bậc tiền bối, nghiên cứu của luận văn nhằm góp phần
phân tích những vấn đề lý luận về nhận thức, thái độ, chuẩn mực đạo đức, về nhận thức và
thái độ của TNSV đối với các CMĐĐ.
8.2. Về thực tiễn
- Đánh giá thực trạng nhận thức và thái độ của SVSP một số tỉnh ĐBSCL đối với các
CMĐĐ.
- Phối hợp trong Bộ môn nơi người nghiên cứu công tác biên soạn tài liệu cho SVSP
học.


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Lịch sử nghiên cứu ván đề nhận thức và thái độ của sv đối với CMĐĐ
Vấn đề nhận thức và thái độ từ trước đến nay đã được nhiều tác giả nghiên cứu, tập
trung ở những vấn đề như là: giới tính, sức khỏe sinh sản, tệ nạn xã hội, nạn bạo hành phụ

- Trong cuốn "Những cơ sở của tâm lý học sư phạm" (tập 2), V.A. Kruchetxky đã
khẳng định thanh niên có khả năng nhận thức sâu sắc một số phạm trù phức tạp của đạo đức
như: tính ngay thẳng, tính khiêm tốn, tự cao,..., tuy nhiên không đồng đều trong nhận thức ở
tất cả các em.

1.1.2. Lược sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam
- Trong chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX - 07 "Con người Việt
Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội" có một số đề tài nghiên cứu
các vấn đề có liên quan đến đạo đức và nhân cách con người Việt Nam nói chung, học sinh
sinh viên nói riêng. Ban chủ nhiệm chương trình cùng với các chủ nhiệm đề tài đã cho ra
mắt bạn đọc một số kết quả nghiên cứu: "Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt
Nam trong điều kiện kinh tế thị trường" (Thái Duy Tuyên chủ biên, Hà Nội-1994); "Giá trị Định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị" (Nguyễn Quang uẩn chủ biên, Hà Nội1995); "Kết quả kiểm tra về vai trò của nhà trường trong việc hình thành và phát triển nhân
cách con người Việt Nam" (Hoàng Đức Nhuận chủ biên, Hà Nội-1995); "Gia đình - Nhà
trường - Xã hội với việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ
người tài" của Nguyễn Trọng Bảo chủ biên, Hà Nội-1996).
- Năm 1995, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo có nghiên
cứu "Đạo đức, lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng,biện pháp giáo dục lối
sống cho sinh viên" (Mã số: B94-38-32 do Mạc Văn Trang chủ nhiệm).
- Một số tạp chí, có các bài viết xoay quanh vấn đề đạo đức và nhân cách: "Những
phẩm chất nhân cách cần giáo dục cho sinh viên" của Mạc Văn Trang (Tạp chí nghiên cứu
ĐH và GD chuyên nghiệp, số 4-1992); "Thẩm định những chuẩn mực giá trị trên bình diện
nhân cách" của Đỗ Huy (Tạp chí Triết học, số 3-1993); "Hình thành và phát triển nhân cách
trong cơ chế thị trường" của Lê Đức Phúc (Tạp chí Cộng sản, số 6-1995); "Một số suy nghĩ
về giáo dục nhân cách cho giáo sinh ở các trường sư phạm" của Bùi Văn Huệ (Tạp chí ĐH
và GD chuyên nghiệp, số 7-1996); "Bồi dưỡng đạo đức sinh viên trong nền kinh tế thị
trường" của Huỳnh Khái Vinh (Thông tin những vấn đề lý luận, số 16-1998); "Việc làm -


động cơ thúc đẩy tính tích cực học tập của sinh viên hiện nay" của Trần Hồng Đức (Tạp chí
ĐH và GD chuyên nghiệp số 3/1999).


HĐH đất nước chưa được HSSV quan tâm thỏa đáng; Nhận thức về thái độ đối với lao động
còn hạn chế; Có sự khác biệt giữa nhận thức của HSSV và các thế hệ cha anh.
- Kết quả khảo sát năm 2001 của Ủy ban Quốc gia về thanh niên Việt Nam về "Tình
hình tư tưởng thanh niên" cho thấy, phần lớn thanh niên đã nhận thức được đúng những
nhiệm vụ cần thực hiện để sớm đạt được mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh": Chống tham nhũng, quan liêu, mất dân chủ; Giữ vững ổn định chính
trị, an ninh xã hội; Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; Tiếp tục vận động, xây dựng chỉnh
đốn Đảng; Tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc,...
- Đặng Cảnh Khanh đã nghiên cứu đạo đức của thanh niên trong tình hình xã hội ngày
nay, khẳng định: Nhìn chung, thanh niên Việt Nam ngày càng tin vào sự lãnh đạo của Đảng,
mong muốn đứng trong hàng ngũ của Đảng, ý thức chính trị, ý thức cộng đồng, tinh thần
xung phong phục vụ, lòng nhân ái, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo, xả thân vì nghĩa lớn. Tuy
nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ thanh niên bộc lộ những hạn chế, yếu kém đáng lo
ngại như: mất phương hướng, giảm sút niềm tin, thậm chí hoài nghi vào chủ nghĩa xã hội ở
nước ta. Một bộ phận thanh niên thờ ơ về chính trị, lo làm ăn kinh tế bằng bất kỳ giá nào,
ngại tham gia sinh hoạt Đoàn và các hoạt động xã hội, chạy theo lối sống vật chất tầm
thường, muốn hưởng thụ hơn cống hiến, quên quá khứ, chưa nhận thức được âm mưu "diễn
biến hòa bình".
Tóm lại, những vấn đề đạo đức, nhân cách của sinh viên đã được nhiều tác giả quan
tâm nghiên cứu. Song, qua các tài liệu tìm được, chúng tôi thấy chưa có công trình nào trực
tiếp bàn về nhận thức và thái độ của SVSP (đặc biệt ở đồng bằng sông cửu Long) đối với
các chuẩn mực đạo đức. Để góp phần tìm hiểu vấn đề còn ít được quan tâm nghiên cứu này,
tác giả chọn đề tài: "Nhận thức và thái độ của sinh viên sư phạm các tỉnh đồng bằng sông
Cửu Long đối với những chuẩn mực đạo đức".


1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Lý luận về nhận thức và thái độ
1.2.1.1. Nhận thức

Quá trình nhận thức được thúc đẩy bởi nhu cầu của xã hội, nghĩa là ý nghĩ của con
người được hướng vào giải quyết các vấn đề bức xúc do xã hội đặt ra.
Nhận thức của con người mang tính chất lịch sử, bởi bề rộng của sự khái quát và chiều
sâu của việc phát hiện ra bản chất của sự vật hiện tượng được qui định không chỉ bởi khả
năng của cá nhân, mà còn bởi kết qủa của hoạt động nhận thức mà loài người đã đạt được,
vào kho tàng tri thức có liên quan, vào trí tuệ của nhân loại.
Như vậy, tri thức của mỗi người được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt
động nhận thức tích cực của bản thân họ, nhưng nội dung và tính chất của tri thức được qui
định bởi trình độ chung, tồn tại trong một giai đoạn phát triển xã hội lúc đó. Nhận thức là
một sản phẩm của sự phát triển xã hội - lịch sử.
a2. Các mức độ của quá trình nhận thức
Đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước bàn về các mức độ của quá trình nhận thức,
nhưng đề tài này chỉ tập trung nói đến quan niệm của B.S. Bloom về đánh giá các mục tiêu
nhận thức:
Từ các mức độ của quá trình nhận thức, các nhà tâm lý học và giáo dục học ứng dụng
vào quá trình dạy học. Một trong các ứng dụng đó là việc xác định các mức độ của các mục
tiêu dạy học. Năm 1956, Bloom (nhà sư phạm học người Mỹ) và các cộng sự biên soạn tài
liệu: "Hệ phân loại các mục tiêu sư phạm, lĩnh vực nhận thức". B.S. Bloom đưa ra ba lĩnh
vực đánh giá:
- Lĩnh vực nhận thức: Tất cả những mục tiêu có liên hệ với sự học có tri thức.
- Lĩnh vực cảm xúc: Tất cả những mục tiêu liên hệ tới sự học về giá trị và thái độ.
- Lĩnh vực tâm - động: Tất cả các mục tiêu liên hệ với sự học chủ yếu về vận động, cử
chỉ chân tay.
Ông chia nhận thức thành nhiều mức độ khác nhau, phân loại mục tiêu nhận thức ra
thành 6 mức độ từ thấp đến cao. Mỗi mức đặc trưng cho một hoạt động trí tuệ.


- Mức 1: Biết (Knowledge) - đưa vào trí nhớ và phục hồi lại thông tin của cùng một
đối tượng nhận thức, ghi nhớ, có thể nhắc lại các sự kiện, định nghĩa các khái niệm, nội
dung các định luật,...

người thành ba mức độ: Nhận biết, thông hiểu và vận dụng.
-Nhận biết: Là mức độ nhận thức thấp nhất, nhận thức cảm tính bao gồm nhiều mức
khác nhau: cảm giác, tri giác, trí nhớ. Ở mức độ này, con người mới chỉ nắm được các dấu
hiệu bên ngoài của khái niệm nhưng chưa có được khả năng vận dụng để giải quyết những
tình huống, những hiện tượng trong cuộc sống. Nhận biết được biểu hiện ra các dấu hiệu:
Nhận ra vấn đề, nhận biết được hình thức bên ngoài của các khái niệm, nhận biết được một
số biểu hiện cụ thể, gọi tên được sự vật và hiện tượng, nhớ lại sự vật, hiện tượng.
- Thông hiểu: Là kết quả của quá trình nhận thức lý tính, là quá trình phản ánh gián
tiếp, độc lập và mang tính khái quát, nảy sinh trên cơ sở biết (nhận thức cảm tính). Hiểu
phản ánh được một số thuộc tính bản chất, nắm được khái niệm của sự vật, hiện tượng, bao
gồm việc chỉ ra nguyên nhân, ý nghĩa, cơ chế, chứng minh và giải thích tại sao, diễn đạt lại
cho người khác nghe... Hiểu có các mức độ: Hiểu một cách chung chung; Hiểu quá rộng
hoặc quá hẹp; Nắm được các biểu hiện đa dạng của khái niệm.
- Vận dụng: Khi đã nắm vững và thông hiểu sâu được bản chất, các thuộc tính trừu
tượng bên trong của khái niệm, có thể dùng các khái niệm để giải quyết được những vấn đề,
những tình huống phức tạp... Vận dụng là tiêu chí quan trọng nhất trong nhận thức. Vận
dụng có nhiều cấp độ: cấp độ trừu tượng và cụ thể hóa. Vận dụng trở thành tiêu chí xem xét
con người hiểu hay không hiểu. Hiểu thấp vận dụng ở mức thấp, hiểu cao ở mức độ cao.
Vận dụng có những biểu hiện sau: Vận dụng vào việc giải quyết các vấn đề của thực tiễn;
Tổng hợp lại, tạo ra cái khác; Phê phán, bình luận, đánh giá; Điều khiển hành vi của con
người.
Các mức độ: biết, hiểu và vận dụng của nhận thức có liên quan chặt chẽ với nhau, ảnh
hưởng qua lại với nhau. Nhận thức không đơn thuần là quá trình biết tiếp nhận đơn giản
những tri thức đã có mà là quá trình hiểu và tư duy tích cực để con người lựa chọn, vận
dụng hiểu biết giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra, biến đổi những tri thức kinh nghiệm xã
hội lịch sử, để tạo nên những tri thức mới cho bản thân và xã hội.
Trong đề tài này, chúng tôi khảo sát nhận thức của SVSP đối với các CMĐĐ để đánh
giá các em biết hay chưa, biết đúng hay sai, đầy đủ hay không đầy đủ về những nội dung
kiến thức nhất định của các chuẩn mực đạo đức.


nhân cách thì Kosacowski và Lompscher đều khẳng định thái độ là thuộc tính tâm lý bao
gồm niềm tin, hứng thú, thái độ xã hội.


Các tác giả Xô viết mặc dù có cách định nghĩa khác nhau nhưng đều chung một ý là:
thái độ là sự phản ánh ý thức, là thuộc tính cốt lõi của nhân cách và là một yếu tố định
hướng hành vi xã hội của con người.
- Trong Tâm lý học phương Tây, vấn đề thái độ được đặt ra lần đầu do hai nhà Tâm lý
học người Mỹ là V.I. Thomas và PH. Znanheski (1918) và được nghiên cứu mạnh mẽ vào
những năm 30, 50 của thế kỷ này. Họ xem thái độ như là một trong những thuộc tính quan
trọng của các vấn đề xã hội. Họ cho rằng: Thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với
một giá trị.
- Thái độ được hiểu là sự đáp ứng có tính cách đánh giá và đáp ứng thuộc lĩnh vực tình
cảm được đặt trên cơ sở việc áp dụng một số khái niệm có tính đánh giá và chính thái độ
làm nảy sinh động cơ hay các hành vi có chủ đích. Nếu vậy, thái độ nảy sinh bên trong của
con người trước sau đó mới biểu hiện ra bên ngoài và thái độ là sản phẩm của sự đánh giá
tâm lý và nhận thức về đối tượng xuất phát từ nhu cầu của chủ thể.
- Trong Tâm lý học xã hội thì quan niệm "thái độ" là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân
để phản ứng với một tình huống và một phức thể tình huống, thái độ vốn có xu hướng rõ rệt
hình thành qui luật nhất quán phương thức xử thế của mỗi cá nhân
- Nhà tâm lý học xã hội Hoa kỳ G.V. Onparte thì cho rằng: "Thái độ đó là trạng thái
thần kinh và tâm lý của sự sẵn sàng được tạo ra trên cơ sở kinh nghiệm, nó có ảnh hưởng và
điều khiển năng động đến những khách thể và tình huống gắn liền với cá nhân đó".
- Theo D.N. Uzanataze cho rằng: "Thái độ là một trạng thái toàn vẹn của chủ thể. Đó
là sự phản ứng cơ bản đầu tiên đối với các tác động của tình huống trong chủ thể phải đặt ra
và giải quyết tình huống"
Qua những khái niệm trên ta thấy rõ các tác giả đều khẳng định đến khía cạnh tâm lý
cá nhân trong thái độ. Các tác giả đều cho rằng thái độ là cái gì đó rất riêng của cá nhân như
là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân hay là sự sẵn sàng của cơ thể. Thế nhưng, thái độ không
chỉ đề cập đến khía cạnh tâm lý cá nhân mà phải được xem xét trong mối quan hệ với những

người cụ thể nào đó.
Theo nghĩa trên, đề tài này được thực hiện nhằm đo lường thái độ của sinh viên Sư
phạm đối với các chuẩn mực đạo đức. Chúng tôi phân tích thái độ của các em ở một số
những biểu hiện như: Có thích thú khi bàn về các chuẩn mực đạo đức không?; Có tán thành
học tập những chuẩn mực đạo đức hay không?; Đồng ý hay không đồng ý đối với những
quan niệm về các chuẩn mực đạo đức?; Thái độ của các em đối với các chuẩn mực đạo đức
là tích cực hay tiêu cực, đúng hay chưa đúng?; Các em có thực sự quan tâm đến các chuẩn
mực đạo đức hay không?; Và quan tâm ở mức độ nào?;...


1.2.1.3. Quan hệ giữa nhận thức và thái độ
Thái độ có liên quan chặt chẽ với nhận thức, thái độ chịu sự chi phối của nhận thức,
nhưng cùng lúc đó thái độ lại tác động ngược trở lại đến nhận thức. Thông thường nếu nhận
thức đúng đắn sẽ có thái độ tích cực, đúng đắn nhưng khi con người có thái độ tích cực đối
với một vấn đề cụ thể thì nhu cầu và hứng thú nhận thức của chủ thể sẽ được nâng lên. Lẽ dĩ
nhiên, đây chỉ là sự tác động xuôi chiều vì nhiều khi con người nhận thức đúng nhưng
không hẳn đã có thái độ tích cực và ngược lại.
Nhận thức và thái độ đều phản ánh hiện thực khách quan và mang tính chủ thể sâu sắc.
Tuy nhiên, giữa nhận thức và thái độ vẫn còn có những đặc điểm riêng. Trong khi nhận thức
phản ánh những thuộc tính và các mối quan hệ của bản thân thế giới, thái độ thể hiện mối
quan hệ giữa các sự vật hiện tượng với nhu cầu, động cơ của con người. Con người thường
có thái độ tích cực khi có những đối tượng nào đó làm thỏa mãn nhu cầu, hoặc ngược lại,
con người có thái độ tiêu cực khi có những đối tượng gây trở ngại cho sự thỏa mãn nhu cầu.
Nhận thức và thái độ là hai yếu tố tâm lý cơ bản tạo nên cấu trúc của biểu tượng, hành
vi tương ứng với những đối tượng được nhận thức. Trước khi con người có hành vi đáp lại
một tác nhân kích thích nào đó, người ta phải nhận thức, và phân tích sâu sắc nhằm nhận
thức được ý nghĩa, bản chất của kích thích, trên cơ sở đó mà có một phản ứng, một thái độ
đáp lại một cách thích hợp. Vì vậy, ta có thể nói muốn hình thành thái độ, con người phải có
nhận thức đúng.
Thái độ thể hiện mối quan hệ với nhu cầu, nguyện vọng đối với đối tượng. Nếu con

hành động của mỗi cá nhân trong tất cả các quan hệ xã hội, để từ đó đánh giá con người có
hay không có đạo đức.
Trên thực tế, tồn tại xã hội (lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất,...) và ý thức xã hội
(hệ tư tưởng, triết học, pháp lý, đạo đức, nghệ thuật,...) là hai bộ phận của một xã hội. Con
người là một thực thể xã hội, bao giờ cũng sống trong cộng đồng xã hội nhất định. Bản chất
con người do các mối quan hệ xã hội qui định. Ở con người có hai đặc tính: Tính xã hội và
tính tự giác, hai đặc tính này luôn qui định và chế ước lẫn nhau trong hoạt động và trong các
mối quan hệ khác nhau của con người. Trong quá trình quan hệ qua lại với nhau và với xã
hội con người đã đưa ra yêu cầu cho bản thân, nó được diễn đạt bằng những mệnh đề hay
một thuật ngữ nào đó và được gọi là những chuẩn mực đạo đức. Hệ thống những chuẩn mực
được con người tự giác đề ra và tự giác tuân theo trong quá trình quan hệ với người khác và
với xã hội được gọi là đạo đức.
Đạo đức là hệ thống những chuẩn mực biểu hiện thái độ đánh giá quan hệ giữa lợi ích
của bản thân với lợi ích của người khác và của xã hội.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status