BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG
ĐỖ THỊ LAM
DẠY HỌC CA KHÚC CỦA NHẠC SĨ ĐỖ NHUẬN
CHO HỌC SINH TRUNG CẤP THANH NHẠC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA THỂ THAO
VÀ DU LỊCH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ÂM NHẠC
Khóa 7 (2016 - 2018)
Hà Nội, 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG
ĐỖ THỊ LAM
DẠY HỌC CA KHÚC CỦA NHẠC SĨ ĐỖ NHUẬN
CHO HỌC SINH TRUNG CẤP THANH NHẠC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA THỂ THAO
VÀ DU LỊCH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc
Mã số: 8140111
Giảng viên
HS
Học sinh
KTĐG
Kiểm tra đánh giá
NGƯT
Nhà giáo ưu tú
NSND
Nghệ sĩ nhân dân
Nxb
Nhà xuất bản
PGS
Phó giáo sư
PPDH
Phương pháp dạy học
Thanh Hóa ...................................................................................................... 20
1.3.1. Đôi nét về nhà trường............................................................................ 20
1.3.2. Sơ lược về Khoa Âm nhạc và Tổ Thanh nhạc ...................................... 22
1.3.3. Khả năng của học sinh Trung cấp Thanh nhạc ..................................... 24
1.3.4. Nội dung chương trình môn Thanh nhạc hệ Trung cấp ........................ 25
1.3.5. Thực trạng dạy học Thanh nhạc ............................................................ 27
Tiểu kết ............................................................................................................ 30
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM SÁNG TÁC CA KHÚC CỦA NHẠC SĨ
ĐỖ NHUẬN .................................................................................................... 32
2.1. Cuộc đời và sáng tác của nhạc sĩ Đỗ Nhuận ............................................ 32
2.1.1. Đôi nét về cuộc đời ............................................................................... 32
2.1.2. Sự nghiệp sáng tác ................................................................................ 34
2.2. Đặc điểm âm nhạc trong ca khúc ................................................................ 39
2.2.1. Cấu trúc, hình thức ................................................................................ 40
2.2.2. Điệu thức ............................................................................................... 47
2.2.3. Giai điệu, tiết tấu ................................................................................... 52
Tiểu kết ............................................................................................................ 60
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HÁT CA KHÚC CỦA NHẠC SĨ
ĐỖ NHUẬN .................................................................................................... 62
3.1. Khẩu hình và hơi thở ................................................................................ 62
3.1.1. Khẩu hình .............................................................................................. 62
3.1.2. Hơi thở ................................................................................................... 65
3.2. Rèn luyện một số kỹ thuật thanh nhạc cơ bản ......................................... 68
3.2.1. Kỹ thuật legato ...................................................................................... 68
3.2.2. Kỹ thuật staccato ................................................................................... 72
3.2.3. Kỹ thuật hát nhanh ................................................................................ 74
3.2.4. Hát luyến, láy ........................................................................................ 76
3.2.5. Vấn đề phát âm nhả chữ ........................................................................ 80
hát đã làm nên nét độc đáo cho phong cách của Đỗ Nhuận đã tạo nên ấn
tượng sâu đậm cho người nghe. Trải qua những chặng đường lịch sử, nhiều
ca khúc của Đỗ Nhuận đã trở thành bài ca đi cùng năm tháng như: Hành
quân xa, Du kích ca, Chiến thắng Điện Biên, Áo mùa đông, Việt Nam quê
hương tôi, Du kích sông Thao, Trống hội tòng quân, Hát mừng các cụ dân
quân, Đường bốn mùa xuân...
Để biểu diễn thành công các bài hát của Đỗ Nhuận, ngoài nắm được kỹ
thuật hát của âm nhạc phương Tây, người ca sĩ phải biết vận dụng kỹ thuật hát
của dân ca Việt Nam (như luyến láy, các từ đệm...) phải mềm mại, rõ tính
chất của từng thể loại, đặc biệt là lối hát rõ lời, bởi trong ca khúc của ông âm
hưởng dân ca rất đậm nét. Vì thế, việc nghiên cứu kỹ thuật hát và cách thể
hiện ca khúc của Đỗ Nhuận là một vấn đề rất đáng được quan tâm.
2
Ca khúc của Đỗ Nhuận không chỉ được sử dụng rộng rãi trong những
chương trình biểu diễn nghệ thuật và đào tạo thanh nhạc tại trường
ĐHVHTT&DL Thanh Hóa. Tiền thân nhà trường là Trường TC Văn hóa
Nghệ thuật, nơi đây đã đào tạo ra nhiều thế hệ nghệ sĩ đáp ứng nhân lực cho
các đoàn văn công chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp, các nhà văn hóa trong
toàn tỉnh. Nhà trường có một bề dày đào tạo và tạo nguồn cho nhiều tài năng
nghệ thuật, đặc biệt là lĩnh vực thanh nhạc với nhiều ca sĩ nổi tiếng trong và
ngoài nước như: Hồ Quang Tám, Anh Thơ, Lê Anh Dũng, Minh Tuyến,
Phương Linh, Hoàng Thủy...
Là một GV trẻ trong khoa Thanh nhạc của Trường ĐHVHTT&DL
Thanh Hóa, tôi thấy rằng; chương trình giảng dạy cho hệ Trung cấp Thanh
nhạc hiện nay có khá nhiều bài hát của nhạc sĩ Đỗ Nhuận được lựa chọn là
một nội dung bên cạnh nhiều ca khúc Việt Nam khác. Tuy nhiên, khi dạy học
hát các bài của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, một số GV chỉ quan tâm đến kỹ thuật thanh
nhạc mà ít chú trọng đến tìm hiểu đặc điểm âm nhạc, chất liệu dân ca được sử
Lịch sử Nghệ thuật thanh nhạc phương Tây của Hồ Mộ La, Nxb từ điển
Bách khoa (2005). Tác giả nghiên cứu nghệ thuật thanh nhạc từ thời Trung cổ
cho đến thế kỷ XIX. Trong từng giai đoạn, tác giả đều giới thiệu đặc điểm âm
nhạc của từng thời kỳ, quá trình phát triển kỹ thuật sáng tác và những nghệ sĩ
nổi tiếng của nền âm nhạc phương Tây.
Các sách và giáo trình nêu trên là những tư liệu quý, rất hữu ích cho
luận văn của chúng tôi tham khảo, tuy nhiên trong đó không bàn riêng đến
dạy học ca khúc của một nhạc sĩ cụ thể:
Năm 2011, Trần Ngọc Lan xuất bản cuốn Phương pháp hát tốt tiếng
Việt trong nghệ thuật ca hát, Nxb Giáo dục Việt Nam, trong cuốn này tác giả
đã đi sâu phân tích những đặc điểm của tiếng Việt trong nghệ thuật hát dân
tộc và nghệ thuật hát mới, luận án mang tính lý luận về sự phối hợp của hai
phạm trù ngôn ngữ và nghệ thuật ca hát. Mặc dù không nghiên cứu về dạy hát
ca khúc của Đỗ Nhuận nhưng đây cũng là công trình liên quan đến thanh
4
nhạc, nhất là cách phát âm nhả chữ trong tiếng Việt rất cần thiết để đề tài của
chúng tôi tham khảo.
Ngoài những công trình tiêu biểu trên còn có rất nhiều luận văn thạc sĩ,
về thanh nhạc như:
Phát âm tiếng Việt trong nghệ thuật ca hát luận án tiến sĩ của Võ Văn
Lý, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam năm 2011. Đề tài nghiên cứu sâu
về phương pháp phát âm ca từ trong nghệ thuật ca hát tiếng Việt trong dạy
học, đặc biệt là các quan điểm về hát tròn vành rõ chữ.
Nâng cao chất lượng giảng dạy ca khúc Việt Nam mang âm hưởng dân
ca Thanh Hóa của Bùi Thị Thu - Luận văn thạc sĩ Nghệ thuật Âm nhạc bảo
vệ tại Học Viện Âm nhạc Quốc Gia năm 2013. Luận văn tập trung vào nghiên
cứu điệu thức, cách thức diễn xướng của dân ca Thanh Hóa đồng thời hướng
dẫn SV vận dụng hát những bài hát mang âm hưởng dân ca với những dạng
pháp dạy học hát các aria tiêu biểu trên thế giới và có cả aria trong opera của
Đỗ Nhuận cho SV Đại học Thanh nhạc và ĐHSP Âm nhạc tại trường ĐHSP
Nghệ thuật TW. Luận văn đưa ra nhiều ý kiến sâu về kỹ thuật hát, đây cũng
chính là những vấn đề mà chúng tôi quan tâm.
Opera Cô Sao của nhạc sĩ Đỗ Nhuận trong dạy học Thanh nhạc tại
Trường ĐHSP Nghệ thuật TW của Đinh Khánh Cường, luận văn Cao học Lý
luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc Trường ĐHSP Nghệ thuật TW, 2014.
Trong luận văn nghiên cứu về các biện pháp dạy học hát các tiết mục đơn ca
trong opera của Đỗ Nhuận cho SV Đại học Thanh nhạc tại trường ĐHSP
NTTƯ. Luận văn nghiên cứu sơ qua về sự nghiệp của nhạc sĩ Đỗ Nhuận và có
những nghiên cứu sâu về kỹ thuật hát.
Mặc dù không nghiên cứu riêng về dạy học thanh nhạc ca khúc của Đỗ
Nhuận cho hệ TC chuyên nghiệp nhưng trong các luận văn nêu trên có những
vấn đề liên quan hữu ích, những đúc kết lý luận và kinh nghiệm thực tiễn là
nguồn tư liệu quý có ý nghĩa với đề tài của chúng tôi.
6
Tới nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đến phương pháp dạy
hát ca khúc của nhạc sĩ Đỗ Nhuận cho HS TC Trường ĐHVHTT&DL Thanh
Hóa. Do đó, đề tài của chúng tôi không trùng lặp với những đề tài khác.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tìm hiểu các phương pháp dạy học ca khúc của nhạc sĩ
Đỗ Nhuận để áp dụng cho HS hệ TC Thanh nhạc, Trường ĐHVHTT&DL
Thanh Hóa, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Thanh nhạc trong nhà
trường.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của đề tài và thực trạng dạy học ca khúc
của nhạc sĩ Đỗ Nhuận cho HSTC Thanh nhạc tại trường ĐHVHTT&DL
dạy và học tập thông qua thực nghiệm sư phạm.
6. Những đóng góp của luận văn
Luận văn hoàn thành sẽ đưa ra việc áp dụng kết hợp một số phương
pháp thanh nhạc cổ điển châu Âu và lối hát dân ca Việt Nam trong dạy hát ca
khúc của nhạc sĩ Đỗ Nhuận cho HSTC Thanh nhạc, trường ĐHVHTT&DL
Thanh Hóa.
Hy vọng luận văn sẽ trở thành tài liệu tham khảo cho những người quan
tâm đến những vấn đề luận văn đã đề cập.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu than khảo và Phụ lục, luận văn
gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Đặc điểm sáng tác ca khúc của nhạc sĩ Đỗ Nhuận
Chương 3: Phương pháp dạy học hát ca khúc của nhạc sĩ Đỗ Nhuận.
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Thanh nhạc
Trước sự đa dạng của các yếu tố tự nhiên và xã hội, con người ngày
càng có nhiều phương thức biểu đạt cảm xúc, tư tưởng, hình thành nên nhiều
loại hình nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật âm nhạc. Lịch sử âm nhạc của
nhân loại đã trải qua nhiều chặng đường phát triển với nhiều thể loại âm nhạc
phong phú. Tuy nhiên, khi phân loại dựa vào phương thức biểu diễn, nhiều
nhà nghiên cứu vẫn chia thành hai thể loại lớn là thanh nhạc và khí nhạc.
Trong cuốn sách Các thể loại âm nhạc do Lan Hương dịch “Thanh nhạc, tức
âm nhạc có lời ca, là loại hình lâu đời nhất của nghệ thuật âm nhạc” [6; tr.10].
Một khái niệm khác có nội hàm chứa đựng những dấu hiệu tương đồng được
khí đặc biệt để trình diễn thể loại thanh nhạc. Từ các khái niệm và hướng tiếp
cận trên, chúng tôi xem xét thanh nhạc là một môn nghệ thuật kết hợp giữa
âm nhạc và giọng hát của con người.
1.1.2. Dạy học và dạy học thanh nhạc
1.1.2.1. Dạy học
Nói đến dạy học, hầu hết mọi người đều liên tưởng đến hoạt động
truyền thụ kiến thức trên lớp học, trong nhà trường. Cách hiểu này mặc dù
không phản ánh đủ bản chất của dạy học nhưng đã định hình được hai yếu tố
cơ bản là người dạy và người học. Tác giả Nguyễn Như Ý, khái niệm về dạy
học là “dạy văn hóa, theo những chương trình nhất định: nghề dạy học” [37;
tr.515]. Theo chúng tôi, khái niệm này vẫn có nội hàm khá hẹp so với mục
tiêu của hoạt động dạy học diễn ra trong thực tiễn. Tác giả Hoàng Phê, Viện
Ngôn ngữ học đưa ra khái niệm “dạy” trước khái niệm dạy học. Theo đó,
“dạy” là “truyền thụ tri thức hoặc kỹ năng một cách ít nhiều có hệ thống, có
phương pháp. Ví dụ: dạy HS; dạy nghề cho người học việc...” [32; tr.244].
Cũng trong cuốn từ điển này, các tác giả khái niệm về dạy học: “Dạy để nâng
10
cao trình độ văn hóa và phẩm chất đạo đức theo chương trình nhất định” [32;
tr.244]. Dạy học là hoạt động chủ yếu, đặc trưng của nhà trường được diễn ra
theo một qui trình nhất định được gọi là qui trình dạy học. Dạy học không
đơn thuần chỉ là một tiến trình truyền thụ những khái niệm, những công thức,
những con số... Mục tiêu của dạy học là mang đến cho người học điều mà họ
muốn học. Xem xét hoạt động dạy học ở góc độ là một hiện tượng xã hội, tác
giả Đặng Thành Hưng nêu trong Dạy học hiện đại - lý luận - biện pháp - kỹ
thuật rằng: “Bản chất của dạy học chính là gây ảnh hưởng có chủ định đến
hành vi học tập và quá trình học tập của người khác, tạo ra môi trường và
những điều kiện để người học duy trì việc học, cải thiện hiệu quả, chất lượng
học tập, kiểm soát quá trình học tập của mình” [8; tr.35]. Như vậy, dạy học
người sáng tác muốn chuyển tải thông qua tác phẩm.
1.1.3. Phương pháp dạy học thanh nhạc
Từ các vấn đề về khái niệm dạy học thanh nhạc như chúng tôi đã trình
bày ở mục 1.1.2.2, phương pháp dạy học thanh nhạc có thể được hiểu là cách
thức, con đường, những biện pháp, kỹ thuật dạy học được GV áp dụng để
truyền đạt kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ thuật thanh nhạc cho người học.
Thông qua đó, GV đạt được mục tiêu dạy học trong một tiết học, học phần
hay toàn khóa học đối với các đối tượng người học cụ thể. Các phương pháp
dạy học (PPDH) được sử dụng trong quá trình dạy học nói chung và với âm
nhạc nói riêng rất phong phú. Tùy vào đặc điểm từng môn học, các PPDH
được sử dụng phổ biến cũng khác nhau. Thanh nhạc là môn học thực hành
và có tính nghệ thuật thuộc lĩnh vực âm nhạc nên các PPDH cũng nằm
trong nhóm các PPDH âm nhạc, bao gồm: Phương pháp trình bày tác
phẩm; phương pháp thực hành luyện tập; phương pháp dùng lời; Phương
pháp trực quan; phương pháp kiểm tra đánh giá. Đây là năm PPDH mà
người GV dạy thanh nhạc thường xuyên vận dụng trong mỗi tiết học.
Theo cách phân loại PPDH ở cuốn Phương pháp dạy học truyền thống
và đổi mới của tác giả Thái Duy Tuyên cho rằng phương pháp này thuộc vào
12
nhóm phương pháp biểu diễn. “Phương pháp biểu diễn là cách giới thiệu một
vấn đề nào đó dưới dạng trực quan qua thao tác...” [34; tr.83]. Người GV dạy
thanh nhạc sử dụng phương pháp này ở nhiều thời điểm khác nhau trong quá
trình dạy học trên lớp như: hát mẫu trong khi giới thiệu bài hát, hát mẫu trong
quá trình hướng dẫn biểu diễn tác phẩm... Phương pháp trình bày tác phẩm
được GV thực hiện có vai trò quan trọng không chỉ đối với ý nghĩa là hoạt
động thị phạm (trực quan) mà còn là yếu tố kích thích hoặc kìm hãm hứng thú
học tập của người học.Vì thế, dù ở thời điểm nào, hoạt động trình bày tác
phẩm của GV cũng cần được thể hiện một cách nghiêm túc, có tính nghệ
như: Kể chuyện, diễn giảng, đàm thoại... Trong dạy học thanh nhạc là phương
pháp diễn giảng và đàm thoại được sử dụng nhiều nhất bởi diễn giảng là
phương pháp dùng lời nói để giới thiệu tác phẩm, tài liệu, phương tiện học tập
hay phân tích tác phẩm, hướng dẫn, giải thích các vấn đề kỹ thuật, sắc thái,
cấu trúc... Đàm thoại là phương pháp dùng lời nhằm trao đổi thông tin về bài
học chủ yếu bằng hệ thống các câu hỏi được GV chuẩn bị từ trước hoặc phát
sinh trong quá trình dạy học. Phong cách ngôn ngữ và biểu cảm của GV khi
diễn giảng, đàm thoại có vai trò rất quan trọng quyết định hiệu quả dạy học,
các câu hỏi được GV đưa ra phải đảm bảo phù hợp với năng lực nhận thức của
HS. Việc sử dụng câu hỏi đóng, câu hỏi mở hay câu hỏi gợi mở gợi ý phụ thuộc
vào năng lực ngôn ngữ, năng lực dạy học và sự sáng tạo, linh hoạt của GV từ
quá trình chuẩn bị cũng như trong thời gian thực hiện bài giảng thanh nhạc.
Trực quan là PPDH giúp cho HS tiếp thu kiến thức, nhận biết các kỹ
thuật, thao tác thông qua các giác quan trực tiếp như tai nghe, mắt nhìn. Trong
khi hướng dẫn HS luyện tập, hoạt động thị phạm của GV cũng vừa là biểu
hiện của phương pháp thực hành đồng thời là phương pháp trực quan. Như
vậy, phương pháp trực quan chính là sự giới thiệu, làm mẫu của GV nhằm
giúp cho người học nghe, nhìn để hiểu được các yêu cầu, nhiệm vụ cần giải
quyết, nếu như phương pháp trình bày tác phẩm đòi hỏi GV hát toàn bộ bài
hát thì phương pháp trực quan có thể được áp dụng cho một nét nhạc, câu
14
nhạc hoặc toàn bộ tác phẩm. Khác với vai trò là người hướng dẫn cho HS
hoạt động trong phương pháp thực hành luyện tập, chủ thể của hoạt động ở
phương pháp trực quan chính là người GV, các hoạt động, thao tác (hát, đàn)
của GV chính là phương tiện trực quan tương tác trực tiếp với người học.
Kiểm tra đánh giá (KTĐG) trong giáo dục là yêu cầu tất yếu. Về bản
chất, KTĐG là một quá trình thu thập và xử lý thông tin có tính hệ thống,
thông qua đó GV nắm bắt được thực trạng, các diễn biến, nguyên nhân, khả
đề cập đến hai đặc điểm của ca khúc là: tác phẩm thanh nhạc và vai trò chính
của giai điệu. Cũng trong giáo trình này, tác giả tách riêng ca khúc và trường
ca, romance thành các thể loại nhỏ khác nhau trong thanh nhạc. Trong khi đó
trường ca hay romance thì giai điệu vẫn nắm giữ vai trò là một yếu tố ngôn
ngữ biểu đạt chính. Cuốn Âm nhạc Việt Nam, tiến trình và thành tựu của các
tác giả Tú Ngọc, Nguyễn Thị Nhung, Vũ Tự Lân, Nguyễn Ngọc Oánh, Thái
Phiên (2000), do Viện Âm nhạc xuất bản có đoạn viết: “... Xây dựng những
tác phẩm âm nhạc có quy mô lớn hơn ca khúc quần chúng và ca khúc trữ
tình... nâng cao chúng thành một tác phẩm thanh nhạc có quy mô lớn, mang
tính liên khúc... Những thể loại này được gọi là ca khúc hợp xướng và trường
ca” [27; tr.231-232]. Mặc dù đoạn văn trên không đưa ra khái niệm về ca
khúc, nhưng qua cách phân loại cũng đã chỉ ra rằng ca khúc bao gồm cả tác
phẩm thanh nhạc nhiều bè và có quy mô cấu trúc lớn. Chúng tôi cho rằng, hợp
xướng và trường ca là những tác phẩm chứa đựng nhiều yếu tố diễn đạt ngoài
giai điệu như: cấu trúc chương, phần tương phản; chức năng hỗ trợ và biểu
đạt của các bè... Vì vậy, cách cộng gộp chung vào một thể loại là chưa hợp lý.
Từ góc độ tiếp cận về quy mô - cấu trúc và vai trò các yếu tố cấu thành,
chúng tôi hiểu ca khúc là danh từ dùng để chỉ các tác phẩm thanh nhạc có cấu
trúc khá đơn giản, dễ nhớ, với giai điệu và ngôn ngữ văn học là hai yếu tố giữ
chức năng biểu đạt chính. Tùy thuộc vào cách lựa chọn tiêu chí, người ta tiếp
tục phân loại ca khúc thành nhiều loại khác nhau như: Dựa vào nội dung và
đặc điểm, tính chất giai điệu, chúng tôi phân chia ca khúc thành các thể loại
16
nhỏ gồm: hành khúc, chính ca, trữ tình, ngợi ca và ca khúc vui hoạt. Những ca
khúc thuộc thể loại hành khúc có nhịp độ vừa phải, phù hợp với nhịp đi, tính
chất mạnh mẽ, khúc chiết như: Hành quân xa - Đỗ Nhuận, Tiến quân ca Văn Cao, Bác đang cùng chúng cháu hành quân - Huy Thục, Năm anh em
trên một chiếc xe tăng - Doãn Nho... Thể loại chính ca có tính chất trang
nghiêm, nội dung ngợi ca truyền thống, hiệu triệu, thường được dùng trong
mạnh về số lượng, phong phú về nội dung phản ánh, chất lượng nghệ thuật
cũng đã và đang ngày càng nâng cao. Ngoài các yếu tố ngôn ngữ âm nhạc
được các nhạc sĩ sử dụng một cách điêu luyện, sáng tạo, ca khúc Việt Nam có
thể được xem là bức tranh toàn cảnh về diện mạo văn hóa, lịch sử của dân tộc.
Chính vì vậy, dạy học ca khúc Việt Nam trong môn thanh nhạc không chỉ
dừng lại ở việc truyền thụ những tri thức về lý thuyết, rèn luyện kỹ năng, kỹ
thuật mà còn có vai trò giáo dục văn hóa, đạo đức; lịch sử và thẩm mỹ.
1.2.1. Giáo dục văn hóa, đạo đức
Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam tác giả Đặng Đức Siêu cho rằng,
giá trị văn hóa là “thành quả mà một dân tộc hay một con người đạt được
trong quan hệ với thiên nhiên, với xã hội và trong sự phát triển của bản thân
mình” [33; tr.45]. Như vậy, văn hóa bao gồm thái độ, tính cách, đạo đức, tư
tưởng... của một con người, một dân tộc. Ca khúc Việt Nam cũng mang đặc
điểm chung của âm nhạc, đó là sự phản ánh nhận thức của người sáng tác
trong mối quan hệ tương tác với tự nhiên, xã hội và với chính bản thân. Bên
cạnh các yếu tố tiếp nhận từ âm nhạc phương Tây như cấu trúc, hòa âm... thì
yếu tố nội sinh (tư tưởng, đạo đức, chất liệu âm nhạc...) làm cho ca khúc Việt
Nam mang những đặc trưng riêng biệt, gần như phản ánh đầy đủ những giá trị
văn hóa của người Việt như: Tình yêu lao động; đức tính cần cù, chăm chỉ;
tinh thần đoàn kết tương thân tương ái, vì cộng đồng, vì dân tộc; lòng yêu
nước; tinh thần lạc quan... Chúng ta có thể tìm thấy hàng trăm tác phẩm về
chủ đề lao động. Qua bút pháp sáng tạo của người nhạc sĩ, hình ảnh người
công nhân, nông dân được miêu tả một cách sống động dưới nhiều góc độ
18
khác nhau. Nhưng, điểm chung của các ca khúc thuộc chủ đề này vẫn là tình
yêu lao động, ý chí quyết tâm cải tạo thiên nhiên, xây dựng đất nước. Ví dụ
như ca khúc Bài ca người thợ rừng của Phạm Tuyên đã phản ánh rất chân
thực những suy nghĩ, nguyện vọng và quyết tâm của những người thợ trong
con người Việt Nam hôm nay còn là niềm tin vào Đảng và ánh sáng của tư
tưởng Hồ Chí Minh. Một trong những sự khác biệt giữa ca khúc Việt Nam
với ca khúc ở các đất nước khác trên thế giới là chủ đề về lãnh tụ và Đảng.
Hàng trăm ca khúc thể hiện niềm tin yêu đối với Đảng và Bác Hồ đã tạo nên
sức lan tỏa mạnh mẽ trong mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam, có vai trò giáo
dục đạo đức cách mạng vô cùng hiệu quả, khích lệ bao lớp thanh niên phát
huy nhiệt tình sức trẻ, năng động, sáng tạo và dũng cảm trong xây dựng, bảo
vệ tổ quốc.
1.2.2. Giáo dục lịch sử
Cùng với văn học, âm nhạc Việt Nam mà đặc biệt là thể loại ca khúc có
thể được xem là bộ sử sống động, phản ánh chân thực cuộc sống và sự nghiệp
chiến đấu giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước của nhân dân ta từ trước đến
nay. Xuất phát từ lòng yêu nước, những sự kiện lịch sử của dân tộc đã trở
thành nguồn cảm hứng phong phú của các nhạc sĩ. Chẳng hạn, cuộc khởi
nghĩa của Hai Bà Trưng (năm 40) được gợi lại trong các ca khúc Người xưa
đâu tá, Hồn tử sĩ của Lưu Hữu Phước; không khí hào hùng, quyết tâm chống
giặc, hay những chiến tích và truyền thống anh hùng lịch sử trong Bạch Đằng
giang, Hội nghị Diên Hồng - Lưu Hữu Phước, Trên sông Bạch Đằng - Hoàng
Quý, Gò Đống Đa - Văn Cao... đều là những bài học giáo dục lịch sử quý
báu. Từ đó, thông qua âm nhạc, người học không những được củng cố thêm
kiến thức lịch sử mà còn tiếp nhận lịch sử bằng xúc cảm nghệ thuật, nâng cao
hơn tính bền vững của khả năng ghi nhớ.
Từ khi cả nước bước vào hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ, dòng ca khúc cách mạng đã trở thành vũ khí sắc bén, tinh tế
trong tuyên truyền, góp phần làm nên những thắng lợi vĩ đại. Những địa danh