ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI THỊ THOA
NHU CẦU ĐƯỢC TRỢ GIÚP TÂM LÝ CỦA HỌC SINH
TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG HUYỆN ĐAN PHƯỢNG – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
CHUYÊN NGHÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGÔ THU DUNG
TS. BÙI THỊ THÚY HẰNG
HÀ NỘI - 2012
1
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1
SLC
Số lực chọn
7
THPT
Trung học phổ thông
8
TLHĐ
Tâm lý học đường
9
TVTL
Tư vấn tâm lý
10 TVTLHĐ
Tư vấn tâm lý học đường
3
2.2. Quy trình nghiên cứu ...........................................................................
2.3. Các phương pháp nghiên cứu ..............................................................
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu ......................................................
4
1
2
3
3
3
4
4
4
5
5
5
8
13
13
18
22
25
28
28
34
36
37
39
40
40
2. Khuyến nghị ............................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................
PHỤ LỤC
5
43
46
47
37
37
69
73
79
79
81
83
88
92
94
94
96
98
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Tình trạng nghèo nàn, lạc hậu dần dần được khắc phục. Đời sống vật chất,
tinh thần của mọi người, mọi nhà đang từng bước được cải thiện. Song xã hội
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
học và trung học cơ sở là 19,46% theo điều tra năm 2005 của Bệnh viện Tâm
thần Ban ngày Mai Hương). Hậu quả là ngày càng có nhiều học sinh gặp
không ít khó khăn trong học tập, tu dưỡng đạo đức, xây dựng lý tưởng sống
cho mình cũng như xác định cách thức ứng xử cho phù hợp trong các mối
quan hệ xung quanh. Vì vậy, những học sinh này rất cần được sự trợ giúp của
các nhà chuyên môn, của thầy cô giáo và cha mẹ.
Đứng trước thực trạng trên cho thấy rất cần có những hoạt động trợ giúp tâm
lý học đường cho học sinh. Việc xây dựng các hoạt động trợ giúp tâm lý cho học
sinh trong nhà trường sẽ giúp cho giáo viên và học sinh hiểu biết rõ hơn về
những vấn đề liên quan tới sự hình thành và phát triển nhân cách của các em, để
giúp đỡ và hướng cho các em phát triển một cách đúng đắn, lành mạnh, hiểu về
bản thân và người khác tốt hơn. Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta, các hoạt động trợ
giúp tâm lý trong trường học còn chưa được thực hiện một cách phổ biến; một số
trường phổ thông ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.
HCM) có lập các phòng tư vấn nhưng hoạt động chưa có hiệu quả cao. Riêng ở
huyện Đan Phượng – thành phố Hà Nội, hiện nay chưa có trường phổ thông nào
trên địa bàn huyện thành lập phòng tham vấn, hỗ trợ tâm lý cho học sinh; tổ chức
hoạt động trợ giúp tâm lý cho học sinh tại các trường phổ thông còn rất ít. Các
em chưa được biết, chưa được tiếp cận nhiều với các hoạt động trợ giúp tâm lý.
Vì vậy việc tìm hiểu nhu cầu trợ giúp tâm lý trong trường học của của học sinh
là rất cần thiết, trên cơ sở đó đánh giá nhu cầu trợ giúp tâm lý theo các mức độ
khác nhau để từ đó xác định phương hướng tổ chức các hoạt động trợ giúp tâm
lý nhằm đáp ứng nhu cầu của các em.
Từ lý luận và thực tiễn trên chúng tôi chọn đề tài: “Nhu cầu được trợ giúp
tâm lý của học sinh trong một số trường trung học phổ thông huyện Đan
- Phần lớn khách thể vẫn có nhận thức chưa đầy đủ về dịch vụ trợ giúp tâm lý
học đường.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
-Tìm hiểu cơ sở lý luận về nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học
sinh trung học phổ thông.
-Nghiên cứu thực trạng nhu cầu trợ giúp tâm lý học đường của học sinh trung
học phổ thông.
-Đề xuất một số kiến nghị về việc triển khai các hoạt động trợ giúp tâm lý học
đường tại cơ sở.
3
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
6. Phạm vi nghiên cứu
-Về địa bàn nghiên cứu: Trường THPT Đan Phượng – thành phố Hà Nội
Trường THPT Hồng Thái – thành phố Hà Nội
-Về thời gian nghiên cứu: đề tài được tiến hành trong khoảng thời gian từ
tháng 04/2011 đến 05/2012
7. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu và thực hiện luận văn này, chúng tôi lựa chọn những phương
pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
nối những đặc điểm tính cách của mỗi cá nhân với một nghề nghiệp. Frank
Parsons đã hình dung ra công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp có hệ thống
trong trường học. Nguyên tắc của ông trong công tác hướng dẫn tư vấn nghề
đã ảnh hưởng sâu sắc đến những lĩnh vực rộng lớn hơn của công tác tham
vấn. Mục đích chính của Parsons đối với công tác hướng dẫn tư vấn nghề
được thể hiện trong 3 quá trình:
(1) Thấu hiểu một cách rõ ràng về bản thân, về khả năng thích hoài bão,
nguồn lực cũng như những hạn chế của cá nhân đối với nghề, động lực thúc
đẩy cá nhân chọn nghề.
(2) Kiến thức về những yêu cầu, điều kiện của thành công, những thuận
lợi và khó khăn, sự đền bù; những cơ hội và những triển vọng phát triển trong
giới hạn khác nhau của công việc.
(3) Nguyên nhân thực sự trong mối liên hệ của hai nhóm trong thực tế.
5
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Sau này, mặc dù công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp trong trường
học được phát triển, song nhiều người đã tán thành việc cần có một cách tiếp
cận rộng hơn với tham vấn trong trường học. Những người này cho rằng,
những chuyên gia tư vấn hướng nghiệp không nên chỉ tập trung quan tâm về
nghành nghề mà nên chú ý đến sự khác biệt lớn trong những nhu cầu về tâm
lý và giáo dục của học sinh. Nói cách khác, những chuyên gia tư vấn hướng
(assessment and placement intensive) sang “đánh giá và can thiệp sâu đối với
những nhóm có nguy cơ ở trường phổ thông” (preferential assessment,
interventions and at least secondary prevention for at risk groups). Những
thay đổi này đã làm cho nỗ lực đáp ứng nhu cầu của sinh viên, học sinh cũng
như phụ huynh học sinh, giáo viên và cộng đồng ngày được nâng cao.
Đến những năm của thập niên 80, 90, nhu cầu về việc làm rõ những đặc
tính và vai trò của nhà tham vấn tâm lý học đường được xuất hiện với sự
“chín muồi” của những vấn đề pháp lý liên quan.
Đến năm 1997, các tiêu chuẩn quốc gia dành cho các hoạt động tham
vấn, hỗ trợ tâm lý học đường (National Standards for School Counseling
Programs) xuất hiện. Kể từ đó, nghành tham vấn Tâm lý học đường được xem
như chính thức ra đời.
Hiện nay, Hiệp hội các nhà tham vấn Tâm lý học đường Hoa Kỳ
(ASCA) được xem như là nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho các chương trình
tham vấn, hỗ trợ tâm lý học đường của hầu hết các nước trên thế giới. ASCA
hiện là một phân hội của ACA với hơn 23.000 hội viên trên toàn thế giới.
Ngày nay, các dịch vụ tham vấn, hỗ trợ tâm lý học đường đã trở nên
phổ biến và không thể thiếu được trong các trường học, các cơ sở đào tạo ở
Anh, Pháp, Nga, Đức…. và nhiều quốc gia khác trên thế giới.
Ở Nga, hoạt động trợ giúp tâm lý xuất hiện muộn hơn vào khoảng
những năm 80 của thế kỷ XX cùng với những thực nghiệm tâm lý nhằm ứng
dụng Tâm lý học vào các trường học của thành phố Mátxcơva. Tại đây, chính
sự xuất hiện nhiều chương trình, nhiều phương pháp dạy học khác nhau, các
cơ sở đào tạo mới ra đời và sự xuất hiện của các giá trị mới như tự do tư duy,
tính tích cực…. đã thúc đẩy sự phát triển của loại hình dịch vụ vừa ra đời này.
7
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
về tâm lý học đường ở nước ta.Trong những năm qua, sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động giáo dục và đào tạo
trong nhà trường, gia đình và xã hội. Khi đời sống kinh tế được nâng cao đã
làm cho học sinh, sinh viên có điều kiện phát triển về thể lực, trí lực, về kỹ
năng sống… Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi quan trọng do sự phát triển
8
kinh tế - xã hội mang lại thì nó cũng có những thách thức. Có thể thấy, trong
thập niên gần đây,có khá nhiều học sinh, sinh viên trong các trường học vẫn
đang phải đối mặt với các vấn đề tâm sinh lý trong tiến trình phát triển con
người và vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình hội nhập. Thực tế cho thấy,
chưa bao giờ học sinh phổ thông lại phải chịu một áp lực học tập lớn như hiện
nay bởi những kì vọng của gia đình và bối cảnh cạnh tranh gắt gao của cơ chế
thị trường. Những áp lực này đã tạo nên những khó khăn tâm lý rất lớn và các
em cần tới sự trợ giúp. Trong nghiên cứu “Một số yếu tố ảnh hưởng đển công
tác hướng nghiệp cho học sinh trong các trường trung học phổ thông hiện
nay”(Hội thảo Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh hội nhập WTO. Hội tâm lí
học – giáo dục học 7/2007) tác giả Phạm Mạnh Hà đưa ra nhận định, gần 80%
trẻ có rối nhiễu tâm lý có căn nguyên từ học đường. Khi khảo sát thực trạng lo
âu của học sinh trung học phổ thông ở Hà Nội năm 2006 người ta thấy cứ 10
trẻ đến tư vấn và trị liệu rối nhiễu tâm lý thì có 7 đến 8 trẻ có căn nguyên liên
quan tới vấn đề học đường.Trên nhiều phương tiện truyền thông đại chúng
người ta cũng cảnh bảo hiện tượng tự tử hiện nay của học sinh sinh viên cũng
xuất phát từ một trong số lý do liên quan tới học tập của các em. Chính vì
vậy, thông tư số 9971/BGD – ĐT, Bộ giáo dục đào tạo đã gửi các cơ sở đào
tạo và trường học về việc “triển khai công tác tư vấn cho học sinh – sinh
viên”, đồng thời Bộ giáo dục cũng phát động việc xây dựng “ngôi trường thân
thiện, học sinh tích cực” trong trường học. Điều này chứng tỏ rằng, các cấp
lãnh đạo nghành giáo dục bước đầu đã có những hoạt động quan tâm đến việc
phát triển và cung cấp các dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường cho học sinh,
- Năm 2003, lần đầu tiên, hội thảo “Nhu cầu tư vấn học đường tại thành phố
Hồ Chí Minh” do Viện nghiên cứu Giáo dục - Đại học sư phạm thành phố Hồ
Chí Minh tổ chức.
- Năm 2004, Trung tâm hỗ trợ tư vấn tâm lý (CACP) thuộc trường Đại học
khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) được thành lập và hoạt động
tham vấn tâm lý học đường được xem là một trong những lĩnh vực hoạt động
chính của trung tâm.
-Năm 2005, hội thảo “Kinh nghiệm bước đầu thực hiện mô hình tham vấn trong
trường học” do Văn phòng tư vấn trẻ em thành phố Hồ Chí Minh tổ chức.
- Hội nghị toàn quốc về “Tư vấn tâm lý, giáo dục, thực tiễn và định hướng
phát triển” do Hội khoa học tâm lý giáo dục thành phố Hồ Chí Minh tổ chức
năm 2006
- Năm 2007, hội thảo khoa học “Hỗ trợ tâm lý cho học sinh sinh viên” do Hội
khoa học tâm lý Đồng Nai tổ chức.
- Hội thảo “Tâm lý học đường triển khai và ứng dụng thực tiễn vào nhà
trường Việt Nam” do trường Đại học sự phạm Hà Nội và Viện nghiên cứu sư
phạm tiên hành, năm 2008
10
- Hội thảo khoa học quốc tế “Nhu cầu định hướng và đào tạo tâm lý học
đường tại Việt Nam” do nhiều cơ quan tổ chức nghiên cứu và đào tạo, tổ chức
năm 2099
- Gần đây nhất là “Hội nghị quốc tế lần thứ 2 về tâm lý học đường ở Việt
Nam, thúc đẩy nghiên cứu và thực hành tâm lý học đường tại Việt Nam, do 8
cơ sở nghiên cứu và đào tạo đại học ở Việt Nam (Viện Tâm lý học, trường
Đại học khoa học xã hội và nhân văn – ĐHQG Hà Nội, trường Đại học giáo
dục – ĐHQG Hà Nội,….) cùng 5 trường đại học của Hoa Kỳ tổ chức tháng 01
năm 2011 tại Huế.
Ngoài những cuộc hội thảo, tọa đàm về tâm lý học đường, những cơ
Nghiên cứu “Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh cuối
THCS và THPT thành phố Nam Định” của tác giả Nguyễn Thị Minh Hằng,
Nguyễn Thu Trang, cho thấy có đến 84,7% số học sinh được hỏi cho rằng,
các hoạt động trợ giúp tâm lý học đường là rất cần thiết và có 69,8% các em
cho biết nếu có các hoạt động này ở trường thì các em sẽ tham gia vào các
hoạt động trợ giúp tâm lý học đường nói chung và sẵn sàng đến phòng tâm lý
học đường khi bản thân có những khó khăn tâm lý.
Ngoài những công trình nghiên cứu, các luận văn, các nghiên cứu về nhu
cầu tư vấn tâm lý… ở các cơ quan, tổ chức nghiên cứu về tâm lý thì tại khoa
tâm lý học trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia
Hà Nội cũng còn có các khóa luận tốt nghiệp, luận văn khác của sinh viên,
học viên cao học nghiên cứu về những khó khăn, rối nhiễu tâm lý mà học sinh
thường gặp phải như: Khóa luận tốt nghiệp: “Tìm hiểu một số nguyên nhân
tâm lý của hiện tượng kém thích nghi học đường ở học sinh lớp 6” của
Nguyễn Thị Thúy (2002); “Bước đầu phát hiện và đánh giá rối nhiễu tăng
động giảm chú ý của học sinh THCS” của Trần Quang Minh (2002); “Bước
đầu tìm hiểu về rối nhiễu lo âu, trầm cảm của học sinh THPT” của Lê Thị Hà
(2003); “Tìm hiểu những rối nhiễu hành vi và một số yếu tố liên quan đến rối
nhiễu hành vi ở trẻ vị thành niên” của Nguyễn Thị Ánh Nguyệt (2004)…
Những nghiên cứu trên đây đã phần nào cho thấy những khó khăn, rối
nhiễu tâm lý mà học sinh hay gặp phải là rất đa dạng. Học sinh ở bất kì cấp
học nào cũng đều có nguy cơ mắc phải những rối nhiễu tâm lý. Điều này
chứng tỏ rằng, hoạt động trợ giúp tâm lý học đường là rất cần thiết. Với
những hiệu quả mà dịch vụ mang lại, chắc chắn sẽ góp phần giúp các em
giải quyết các khó khăn tâm lý, hạn chế tối đa những rối nhiễu tâm lý mà
các em có khả năng gặp phải, đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất
và tinh thần.
Như vậy, tham vấn tâm lý học đường tại Việt Nam vẫn là một trong
những vấn đề mang tính thời sự cao, thu hút sự quan tâm không chỉ của các
12
nghiên cứu của họ cho thấy các thực nghiệm đã chỉ ra rằng các nhà tâm lý học
13
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
hành vi nghiên cứu khá rõ và kỹ lưỡng về nhu cầu, đặc biệt là những nhu cầu
sinh lý. Điểm hạn chế của họ là quan niệm đồng nhất nhu cầu của con người
và nhu cầu ở con vật. Thiếu sót này do các thực nghiệm mà các nhà tâm lý
học hành vi dựa vào để đi đến kết luận thường là thực nghiệm trên động vật.
Clark Hull (1952) với thuyết xung năng theo hướng tiếp cận sinh học
cho rằng: nhu cầu sinh lý chi phối đời sống con người, thúc đẩy hoạt động của
con người.
ng không phủ định sự có mặt của những nhu cầu, động cơ khác
nhưng theo ông, chúng kết hợp và bị chi phối bởi nhu cầu thể chất. Về bản
chất, thuyết xung năng đã sinh vật hóa nhu cầu của con người, xem nhu cầu
như là xung năng mang tính sinh vật, nảy sinh từ sự thiếu hụt thức ăn, nước
uống, không khí… qua đó phủ nhận tính xã hội, bản chất xã hội của nhu cầu,
quy gán nhu cầu nội tâm và nhu cầu xã hội đều do yếu tố sinh vật tạo ra.
Một trong những học thuyết về tâm lý có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong
nhiều lĩnh vực cuộc sống và có giá trị thực tiễn cho đến ngày hôm nay là
thuyết Phân tâm học. Nó gắn liền với tên tuổi của Sigmund Freud (1856 –
cho rằng nhu cầu tạo ra cái tự nhiên trong con người. Những nhu cầu đó là: 1.
Nhu cầu quan hệ giữa người và người; 2. Nhu cầu tồn tại “cái tâm” con
người; 3. Nhu cầu về sự bền vững và hài hòa; 4. Nhu cầu đồng nhất bản thân
và xã hội với dân tộc, với giai cấp, với tôn giáo; 5. Nhu cầu nhận thức, nghiên
cứu. Những nhu cầu này là thành phần tạo nên nhân cách [1, tr.70]
Tâm lý học nhân văn ra đời như là một khuynh hướng đối lập với tâm lý
học hành vi và Phân tâm học. Trường phái tâm lý học nhân văn là sự tổng hợp
nhiều khuynh hướng mới và nhiều trường phái tư tưởng khác nhau với các đại
diện tiêu biểu như: A. Maslow, C. Rogers, G. Allport... trong đó “Thuyết thứ
bậc nhu cầu” của A. Maslow (1908 – 1970) có tầm ảnh hưởng rất lớn trong
nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục. Trong lý thuyết này,
ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự thứ bậc từ
cấp thiết đến ít cấp thiết hơn như sau:
15
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
=>nhu cầu tham gia các quan hệ
liên cá nhân, giúp người khác tự
khẳng định
=>nhu cầu tự hoàn thiện, tự
khẳng định
triển mạnh mẽ, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm cơ sở phương pháp luận của
tâm lý học. Các nhà tâm lý học Liên xô khi nghiên cứu con người, đời sống
tâm lý con người khẳng định: nhu cầu là yếu tố bên trong, quan trọng đầu tiên
thúc đẩy hoạt động của con người. Đó chính là điểm con người khác hẳn với
con vật. Mọi nhu cầu của con người (kể cả những nhu cầu sơ đẳng) đều có
bản chất xã hội.
D.N.Uznetze – người đầu tiên trong Tâm lý học Xô viết nghiên cứu về
nhu cầu.
ng khám phá ra mối quan hệ giữa nhu cầu và hành vi. Tương ứng
với mỗi kiểu hành vi là một nhu cầu. ng cho rằng, không có gì đặc trưng cho
một cơ thể sống hơn sự có mặt của nó ở nhu cầu. Nhu cầu, đó là cội nguồn
của tính tích cực và với ý nghĩa này thì khái niệm nhu cầu rất rộng… Nhu cầu
là một thuộc tính tâm lý đặc trưng giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy
hành vi.
ng quan niệm rằng: nhu cầu là yếu tố quyết định tạo ra tính tích
cực, nó xác định xu hướng, tính chất hành vi. Và ông cũng cho rằng, dựa vào
nhu cầu của con người để phân loại hành vi của con người.
Nghiên cứu về nhu cầu, X.L.Rubinstein khẳng định, con người có nhu
cầu sinh vật, nhưng bản chất của con người là sản phẩm của xã hội vì thế phải
xem xét đồng thời các vấn đề cơ bản của con người với nhân cách. Nhu cầu
mang tính tích cực, thúc đẩy con người hoạt động tìm kiếm cách thức, phương
tiện, đối tượng thỏa mãn nó. Sự hình thành nhu cầu cụ thể có sự tham gia của
ý thức và trải qua các giai đoạn:
Ý hướng là bước khởi đầu của nhu cầu. Chủ thể mới xuất hiện trạng
thái thiếu thốn của cơ thể, chưa có ý thức đầy đủ về đối tượng và khả
năng thỏa mãn nó.
A.N. Leonchiev, cuộc sống là hệ thống các hoạt động thay thế nhau. Mặt khác
nếu nhìn nhận khởi thủy nhu cầu làm nảy sinh hoạt động thì sẽ không giải
thích được nguồn gốc của nhu cầu. Bởi vì nhu cầu của con người về cơ bản có
nguồn gốc từ thế giới khách quan, nó nảy sinh thông qua hoạt động của mỗi
người. Tất nhiên đến lượt mình, nhu cầu lại phát huy tính tích cực trong hoạt
động thỏa mãn nhu cầu. Luận điểm này đáp ứng được quan niệm mác xít về
nhu cầu, cho rằng nhu cầu con người cũng được sản xuất ra. Đó là luận điểm
có ý nghĩa đối với tâm lý học.
1.2.2.Khái niệm nhu cầu
Có nhiều quan niệm khác nhau về nhu cầu, tiêu biểu là các quan niệm
mà chúng ta đã xem xét trong phần “Một số lý thuyết về nghiên cứu về nhu
cầu”. Vậy, nhu cầu là gì?
18
Trong từ điển Tâm lý học (Nguyễn Khắc Viện chủ biên): Nhu cầu trong
tiếng Anh là “need”, trong tiếng Pháp là “besoin” có thể được hiểu như sau:
Nhu cầu là điều cần thiết để đảm bảo tồn tại và phát triển của con người.
Được thỏa mãn thì dễ chịu, thiếu hụt thì khó khăn, căng thẳng, ấm ức. Có nhu
cầu của con người, có nhu cầu chung của tập thể, khi hòa hợp, khi mâu
thuẫn; có nhu cầu cơ bản, thiết yếu, có nhu cầu thứ yếu, giả tạo. Nhu cầu do
trình độ phát triển của xã hội mà biến đổi.[33, tr.266]. Cho nên, cần xác định
rõ những tiêu chuẩn sinh lý, xã hội, tâm lý để phân biệt những nhu cầu xác
đáng và những ham muốn, đòi hỏi không quan trọng.
Theo Lê Khanh, Trần Trọng Thủy, Phạm Minh Hạc trong cuốn Tâm lý
học, cho rằng: Nhu cầu là đòi hỏi ở môi trường xung quanh những cái cần
thiết (không thể thiếu) cho sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân.
Theo tác giả Trần Hiệp trong cuốn Tâm lý học xã hội, cho rằng: Nhu cầu
là một trạng thái tâm lý xuất hiện khi cá nhân cảm thấy cần phải có điều kiện
Như vậy, trên cơ sở tìm hiểu, phân tích các khái niệm khác nhau về nhu
cầu và trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi sử dụng định nghĩa của Nguyễn
Quang
ẩn “nhu cầu là trạng thái tâm lý của con người, biểu hiện mối quan
hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người
thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển với tư cách là một nhân
cách”.[33]
1.2.2.1. Một số đặc điểm cơ bản của nhu cầu
- Tính đối tượng của nhu cầu: Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng cụ thể. Đối
tượng của nhu cầu có thể là nhu cầu vật chất hay nhu cầu tinh thần (chức
năng). Khi đối tượng được phản ánh cụ thể, rõ ràng và có phương thức thỏa
mãn thì nó trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động.
- Tính nội dung của nhu cầu: Nhu cầu luôn có nội dung cụ thể. Nội dung của
nhu cầu do những điều kiện và phương thức thỏa mãn nó quy định. Phương
thức thỏa mãn nhu cầu phụ thuộc vào sự phát triển, phong tục tập quán,
truyền thống của mỗi xã hội; phụ thuộc vào trạng thái tâm lý riêng, vào khả
năng hoạt động của chủ thể.
- Tính ổn định của nhu cầu: Trong xu thế vận động, nhu cầu có thể xuất hiện
lặp lại (thông thường ở mức độ cao hơn) khi đòi hỏi sự gây ra nhu cầu tái
thiết. Ở cấp độ tâm lý, nhu cầu có tính ổn định.
- Tính tích cực của nhu cầu: Nhu cầu bao giờ cũng mang tính tích cực. Nó
thúc đẩy cá nhân tiến hành hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình.
Chính thông qua hoạt động mà tâm lý, ý thức, nhân cách của con người mới
được nảy sinh, hình thành.
- Tính thỏa mãn của nhu cầu: Nhu cầu là những đòi hỏi của con người cần
được thỏa mãn. Khi được thỏa mãn, nhu cầu sẽ thúc đẩy cá nhân hăng say
20
21