Thuật ngữ Địa lí - Pdf 51

+ Dòng biển (hải lưu) là hiện tượng chuyển động của lớp nước biển trên mặt, tạo
thành các dòng chảy trong các biển và đại dương. Có nhiều nguyên nhân sinh ra
các dòng biển, quan trọng nhất là hoạt động của các loại gió thường xuyên như:
Tín Phong, gió Tây ôn đới. Sự xuất hiện của các dòng biển còn do một số
nguyên nhân nữa như: sự chênh lệch về nhiệt độ, độ mặn, tỉ trọng của nước giữa
các biển….
+ Dung nham là măcma nóng chảy, lỏng, từ các lớp đất sâu phun trào ra ngoài
qua các khe nứt của vỏ Trái Đất, qua miệng các núi lửa. Khi nguội dung nham
tạo thành các lớp đá phún xuất (đá riôlit, đá badan...).
+ Đá là vật liệu có độ cứng ở nhiều mức độ khác nhau, tạo nên lớp vỏ rắn của
Trái Đất. Đá có thể được cấu tạo do một loại khoáng thuần nhất như: đá hoa (do
canxit tạo thành) hoặc do nhiều loại khoáng như: granit (do phenxpat, thạch anh
và mica tạo thành). Cũng có loại đá được cấu tạo do sự gắn kết nhiều khối nhỏ
của các loại đá khác như: đá cuội kết, đá dăm kết v.v...
Tuỳ theo nguồn gốc đá được phân ra 3 nhóm: đá măcma, đá trầm tích và đá
biến chất.
+ Đá măcma được hình thành do quá trình đông đặc và nguội lạnh của khối
măcma nằm sâu trong lòng đất. Đặc điểm của loại đá măcma là có tinh thể hình
thành trong quá trình kết tinh. Đá măcma lại phân ra hai loại là đá phún xuất
(khi măcma phun trào ra ngoài mặt đất) và đá xâm nhập (khi măcma chưa lên tới
mặt đất, còn nằm xen trong các lớp gần mặt đất).
+ Đá trầm tích được hình thành do sự tích tụ các vật liệu trầm lắng ở các đáy
biển, đáy hồ v.v.... Đặc điểm của đá trầm tích là có các lớp song song, nhiều khi
khác nhau về màu sắc, về tính chất thô, mịn (tuỳ theo sự trầm lắng của các loại
vật liệu khác nhau, qua các thời kỳ).
+ Đá biến chất được hình thành do quá trình nóng chảy và tái kết tinh của các
loại măcma hoặc trầm tích bị vùi trong các lớp đất sâu, chịu áp lực lớn, nhiệt độ
cao, hoặc nằm gần kề các lò măcma nóng chảy. Đặc điểm của đá biến chất là
vừa có cấu trúc tinh thể, vừa có cấu trúc phân lớp.
1
+ Đá gốc là lớp đá nguyên vẹn, chưa bị phong hóa, nằm ở tầng dưới cùng của

0
C chứa được tối đa 9g hơi nước, nhưng ở 20
0
C lại chứa
được tới 17g hơi nước. Khi không khí ở một nhiệt độ nhất định đã chứa lượng
hơi nước tối đa thì nó đã bão hoà. Có hai loại độ ẩm: độ ẩm tuyệt đối và độ ẩm
tương đối
+ Độ cao tuyệt đối là khoảng cách đo theo chiều thẳng đứng từ một điểm ở trên
cao so với mực nước biển.
2
+ Độ ẩm không khí là khả năng chứa một lượng hơi nước nào đó của không
khí, được tính bằng gam trong 1m
3
không khí.
+ Độ ẩm tương đối là tỉ lệ % giữa lượng hơi nước thực tế chứa trong không khí
so với lượng hơi nước bão hòa ở cùng nhiệt độ. Ví dụ: ở nhiệt độ 20
0
C, trong
1m
3
không khí hiện nay có 12g hơi nước. Nếu so với lượng hơi nước bão hoà
trong 1m
3
không khí ở nhiệt độ đó là 17g thì độ ẩm tương đối là 12/17*100
=70,6%.
+ Độ ẩm tuyệt đối của không khí là lượng hơi nước chứa trong 1m
3
không khí
tính bằng gam ở nhiệt độ nhất định, trong một thời điểm nhất định. VD: độ ẩm
tuyệt đối của không khí lúc 14h hôm nay là 12g/m

3
hơn mực nước biển). Tùy theo tỉ lệ bản đồ và mức độ chi tiết trong quá trình đo
vẽ, các đường bình độ có thể biểu hiện những độ cao cách nhau từ vài mét đến
vài trăm mét. Dựa vào các đường bình độ vẽ trên bản đồ, người ta có thể nhận ra
các loại địa hình như : đồi, gò, thung lũng và cả độ cao cũng như độ dốc của
chúng.
+ Đường hội tụ nhiệt đới (dải hội tụ nhiệt đới) là đường tiếp xúc, nơi gặp gỡ của
hai khối khí nhiệt đới (ở vùng giữa hai chí tuyến, một từ bán cầu Bắc xuống và
một từ bán cầu Nam lên. Hướng di chuyển của các khối khí là hướng của tín
phong bán cầu Bắc và tín phong bán cầu Nam. Đường hội tụ nhiệt đới cũng là
nơi thường xảy ra các trung tâm bão nhiệt đới. Đường hội tụ nhiệt đới không có
vị trí cố định, mà thường di chuyển tuỳ theo thời gian trong mùa. Chính vì vậy
mà bão ở nước ta thường xảy ra vào các tháng đầu mùa hạ. Càng về cuối mùa
hạ, bão di chuyển xa dần về phía nam.
+ Đất là vật thể tự nhiên hoàn toàn độc lập, được hình thành do tác động tổng
hợp của các nhân tố: đá mẹ, khí hậu, sinh vật, tuổi và địa hình địa phương.
(V.V.Đôcusaep 1886)
+ Đất là lớp tơi xốp trên bề mặt lục địa, có khả năng cho thu hoạch thực vật.
Đặc trưng cơ bản của đất là độ phì nhiêu". (V.R.Uyliam)
+ Đất feralit là loại đất hình thành ở vùng khí hậu nhiệt đới ẩm dưới tác dụng
của thảm thực vật thường xanh.
+ Đất glây vùng cực là đất hình thành trong điều kiện thừa nước và nhiệt độ
thấp, hoạt động của vi sinh vật trong các tầng đất chậm chạp. Sự thừa ẩm tạo
điều kiện cho sự phân giải kỵ khí là chủ yếu dẫn tới hình thành tầng than bùn
với sự có mặt của mùn thô chua, giàu vật chất hòa tan trong nước
+ Đất thảo nguyên ôn đới là loại đất giàu mùn, được hình thành ở vùng khí hậu
ôn đới khô hạn, dưới tác dụng chủ yếu của các loại cây chịu hạn.
+ Đỉnh núi là chỗ cao nhất của một ngọn núi.
+ Đứt gãy là những vận động làm cho các lớp đá bị gãy.
4


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status