“Tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị nhằm tăng cường quản trị chi phí xây lắp trong các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Sông Đà (FULL TEXT - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
---------------------

HOÀNG THỊ HUYỀN

TỔ CHỨC HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ CHI PHÍ XÂY LẮP TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC TỔNG CÔNG TY SÔNG ĐÀ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2018


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) ngày càng mở rộng và
cạnh tranh giữa các DN càng trở nên gay gắt. Khi đó, thông tin trở thành một
nguồn lực quan trọng đối với các DN nói riêng và đối với nền kinh tế xã hội nói
chung. Ngày nay, hệ thống thông tin được sử dụng nhằm cung cấp thông tin phục
vụ công tác quản trị cho đơn vị, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Hệ thống thông tin kế toán là một trong những thành phần quan trọng của hệ
thống thông tin hiện đại. Sự phát triển trong các lĩnh vực kế toán, công nghệ thông
tin và hệ thống thông tin đã mở rộng phạm vi và vai trò của hệ thống thông tin kế
toán. Hệ thống thông tin kế toán đóng vai trò quan trọng đối với công tác quản lý
và quá trình ra quyết định kinh doanh. Nó là một phần của hệ thống thông tin tổng
thể với mục đích chính là để tạo ra thông tin phục vụ cho việc ra quyết định kinh

dụng; chế tạo và cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị xây dựng; cung cấp dịch vụ
nhân lực, công nghệ xây dựng, kinh doanh bất động sản. Về mặt thực tiễn,TCT
Sông Đà nói riêng và ngành xây dựng nói chung trong những năm qua đã gặp
nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Trước tình hình đó, Bộ
trưởng Bộ Xây dựng đã ký Quyết định số 50/QĐ-BXD ngày 15 tháng 01 năm
2013 phê duyệt Đề án Tái cấu trúc TCT Sông Đà giai đoạn 2012-2015, tầm nhìn
đến năm 2020. Với mục tiêu bảo đảm Tổng công ty Sông Đà có cơ cấu hợp lý, tập
trung vào các lĩnh vực tổng thầu xây dựng và tổng thầu EPC các công trình trọng
điểm, phức tạp; đầu tư, sản xuất và kinh doanh điện năng; phát triển đô thị và nhà
ở; nâng cao sức cạnh tranh, bảo đảm hiệu quả sản xuất kinh doanh; phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng và thực hiện quy trình quản trị hiện đại
theo các thông lệ quốc tế
Bên cạnh các giải pháp về mặt tái cấu trúc DN của TCT, các DN thuộc
TCT Sông Đà cần tự nâng cao khả năng sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh
tranh của DN. Một trong những công cụ được sử dụng chủ yếu là kế toán quản trị.
Nhà quản trị cần các thông tin hữu ích cho việc lập kế hoạch và điều hành hoạt
động kinh doanh nói chung và quản trị chi phí nói riêng. Thông tin này được cung
cấp bởi hệ thống thông tin kế toán của DN. Từ đó đặt ra yêu cầu các DN phải tổ
chức HTTT KTQT nhằm phục vụ quản trị chi phí. Nghiên cứu thực trạng tổ chức
hệ thống thông tin kế toán quản trị trong các DN thuộc TCT Sông Đà, NCS nhận
thấy các DN đã có những kết quả nhất định trong việc tổ chức thu thập, xử lý và
cung cấp thông tin phục vụ quản trị chi phí xây lắp. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả
2


đạt được, tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị tại các DN còn một số hạn
chế nhất định về việc thu thập các thông tin tương lai, phương pháp sử dụng để
thu thập thông tin, công tác phân loại chi phí hướng tới nhu cầu thông tin của nhà
quản trị, việc vận dụng phương pháp xác định chi phí và phương pháp xử lý thông
tin, các phương pháp và nội dung phân tích thông tin chi phí, công tác cung cấp

sau:
Thứ nhất: Về khái niệm và đặc điểm của HTTT kế toán
Các công trình nghiên cứu về HTTT kế toán đều đưa ra các khái niệm về
HTTT kế toán. Theo Nancy A.Bagranoff và cộng sự (2005): “An accounting
information system is a collection of data and processing procedures that creates
needed information for its users” [81, tr5]. Theo Thái Phúc Huy và các cộng sự
(2012): “Kế toán dưới góc độ một hệ thống thông tin phải là tập hợp rất nhiều
thành phần có liên quan với nhau (con người, phương tiện, công nghệ, quy
trình…) tham gia vào quá trình vận hành của hệ thống thông tin kế toán để có
được thông tin đáp ứng yêu cầu của người sử dụng” [37, tr18]. Còn nhiều nghiên
cứu khác đã đưa ra các khái niệm về HTTT kế toán, các công trình nghiên cứu đều
thống nhất khái niệm về HTTT kế toán: “Là hệ thống thu thập, lưu trữ, xử lý và
cung cấp thông tin kế toán trong doanh nghiệp”. Căn cứ vào mục đích cung cấp
thông tin cho các đối tượng sử dụng mà HTTT kế toán bao gồm HTTT kế toán tài
chính và HHTT kế toán quản trị. Thông tin do HTTT kế toán tài chính cung cấp
được thu thập, lưu trữ và xử lý theo các quy định, chế độ, nguyên tắc và chuẩn
mực kế toán hiện hành. Thông tin do HTTT kế toán quản trị cung cấp nhằm mục
đích quản trị và điều hành trong nội bộ DN để dự báo các sự kiện kinh tế trong
tương lai và ảnh hưởng của chúng đến DN.
Thứ hai: Về vai trò và hiệu quả của HTTT kế toán
Vai trò của HTTT kế toán là đặc biệt quan trọng trong hoạt động của doanh
nghiệp. Các tác giả trên thế giới và trong nước luôn phát triển các nghiên cứu về
vai trò và hiệu quả của HTTT kế toán. Vai trò cơ bản của kế toán là cung cấp
thông tin cho các đối tượng sử dụng. Theo Nancy A.Bagranoff và cộng sự (2005):
“Kế toán là một hệ thống thông tin, tức là một quá trình thu thập, lưu trữ, xử lý và
phân phối thông tin” [81]. Tuy nhiên, ngày nay, HTTT kế toán liên quan đến các
dữ liệu và thông tin tài chính cũng như phi tài chính. Quan điểm của các tác giả về
HTTT kế toán như một hệ thống toàn doanh nghiệp, xem xét kế toán là trung tâm
xử lý, phân phối và cung cấp nhiều loại thông tin khác nhau. Các tác giả xem xét


hiệu quả của HTTTKT [84].
Vai trò của hệ thống kế toán còn tác giả Bubaker Shareia (2006) nghiên
cứu sâu hơn trong việc ra quyết định, lập kế hoạch và kiểm soát trong một đất
5


nước đang phát triển, trường hợp ở Libya. Nghiên cứu xem xét vai trò hiện tại và
tiềm năng của hệ thống thông tin kế toán trong việc đáp ứng nhu cầu phát triển
của các nước đang phát triển, đặc biệt tập trung vào Libya và những yếu tố về
pháp lý, kinh tế, chính trị, tôn giáo và bối cảnh xã hội riêng có của nó. Nghiên cứu
đã giúp nâng cao nhận thức về vai trò của kế toán và đóng góp của nó vào sự phát
triển kinh tế ở cấp vĩ mô và vi mô và là một điểm khởi đầu cho một sự khác biệt ở
các nước đang phát triển. Nghiên cứu đã tập trung vào sự phù hợp của hệ thống kế
toán trong việc đáp ứng nhu cầu phát triển, ít chú ý đến giải quyết như thế nào để
hệ thống này có thể được thực hiện hữu ích hơn trong việc ra quyết định, lập kế
hoạch và kiểm soát [56].
Theo Ammar Mohammed Hussein (2011) HTTT kế toán còn được coi như
công cụ chiến lược để nâng cao hiệu quả của DN, tác giả cho rằng: có mối quan
hệ rất lớn giữa việc sử dụng hệ thống thông tin kế toán và việc nâng cao hiệu quả
hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa [52]. Ngoài ra, còn rất nhiều công
trình khác như: Tác giả Ainon Ramli (2013) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến
việc sử dụng và sự hài lòng đối với HTTTKT, cũng như mối quan hệ giữa sự hài
lòng với tác động của nó đến tổ chức ở Malaysia [51]; tác giả Zsuzsanna
(2012)nghiên cứu về chức năng và vị trí của HTTT kế toán nói chung như [89];
tác giả Hongjiang Xu (2003) nghiên cứu các yếu tố thành công quan trọng đối với
chất lượng dữ liệu HTTT kế toán [67].
Các công trình nghiên cứu trong nước thống nhất quan điểm với các nghiên
cứu trên thế giới, xác định vai trò trọng tâm của HTTT kế toán trong quá trình thu
thập, lưu trữ, xử lý và cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng. Theo Thái
Phúc Huy và cộng sự (2012): Vai trò cung cấp thông tin, hỗ trợ việc điều hành

Nghiên cứu về các yếu tố cấu thành của HTTT kế toán, tác giả Hall, J.A. và
tác giả Bennett, P.E. (2011) đã xác định HTTT kế toán bao gồm ba thành phần: hệ
thống xử lý nghiệp vụ hàng ngày, hệ thống báo cáo tài chính và hệ thống báo cáo
quản trị [64]. Theo các tác giả Gelinas, U. và cộng sự (2011) HTTT kế toán bao
gồm 11 yếu tố cơ bản, gồm: Cơ sở dữ liệu, báo cáo, kiểm soát thông tin, hoạt động
kinh doanh, xử lý nghiệp vụ, ra quyết định quản trị, hệ thống phát triển các hoạt
động, truyền tải thông tin, các thủ tục và phương pháp kế toán. Theo nghiên cứu
này, các yếu tố thuộc về chức năng nhà quản trị nhiều hơn là HTTT kế toán, đây là
dòng lưu chuyển dữ liệu trong đơn vị hơn là các thành phần của HTTT kế toán
[59].

7


Ở nước ta, nghiên cứu về các thành phần của HTTT kế toán được các nhà
khoa học của các trường đại học về khối kinh tế biên soạn trong các giáo trình,
sách chuyên khảo và tài liệu giảng dạy. Theo tác giả Nguyễn Mạnh Toàn và
Huỳnh Thị Hồng Hạnh (2011), HTTT kế toán được nhìn nhận xuất phát từ quá
trình vận hành của hệ thống. Do vậy, HTTT kế toán bao gồm tối thiểu ba thành
phần: Con người, Thủ tục và Dữ liệu. Trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông
tin, thì HTTT kế toán bao gồm năm thành phần: Con người, thủ tục, dữ liệu, phần
cứng và phần mềm [24]. Theo Thái Phúc Huy và cộng sự (2012): HTTT kế toán là
một hệ thống con trong nhiều hệ thống con khác của HTTT quản lý, Do vậy,
HTTT kế toán có các thành phần cơ bản của một hệ thống thông tin nói chung.
Các thành phần của HTTTKT bao gồm: hệ thống thu nhận dữ liệu, hệ thống xử lý
thông tin, hệ thống lưu trữ thông tin và quản trị dự liệu, hệ thống kiểm soát thông
tin, hệ thống báo cáo và phân tích thông tin [37].
Nghiên cứu về các thành phần của HTTT kế toán ở nước ta còn được thể
hiện trong một số luận án tiến sĩ như tác giả Nguyễn Hữu Đồng (2012), Vũ Bá
Anh (2015), Huỳnh Thị Hồng Hạnh (2015), Lê Thị Hồng (2016). Tác giả Nguyễn

và hiệu quả đối với các công ty Tunisia [65].
Một khía cạnh khác về ứng dụng CNTT trong HTTT kế toán được các tác
giả đề cập đến là khai thác dữ liệu. Tác giả Mohd Shaari Abd Rahman (2008) đã
nghiên cứu về việc sử dụng các công nghệ khai thác dữ liệu trong HTTTKT ở
khu vực công. Từ góc nhìn của quá trình ra quyết định, cách tiếp cận công nghệ
khác nhau đã được nghiên cứu, tìm kiếm để xác định việc thực hiện của công
nghệ ảnh hưởng và hỗ trợ như thế nào quá trình ra quyết định, và hỗ trợ trong việc
cải thiện chất lượng của các quyết định [80]. Nghiên cứu về CNTT trong HTTT
kế toán, tác giả Zsuzsanna (2012) đã đề cập đến mối quan hệ giữa HTTTKT và
công nghệ thông tin. [89]
Ở Việt Nam, theo Thái Phúc Huy và cộng sự (2012): CNTT ảnh hưởng rất
lớn đến HTTT kế toán, các mức độ ứng dụng CNTT trong HTTT kế toán bao
gồm: xử lý bán thủ công, tự động hóa công tác kế toán và tự động hóa công tác
quản lý [37]. Nghiên cứu tiêu biểu về ứng dụng CNTT trong kế toán như nghiên
cứu của tác giả Vũ Bá Anh năm 2015. Nghiên cứu đã cung cấp một hệ thống nhận
thức đầy đủ, chỉnh thể về tổ chức HTTT kế toán trong DN sản xuất kinh doanh
trong điều kiện ứng dụng CNTT [45]. Ngoài ra, rất nhiều công trình nghiên cứu đã
khảo sát, phân tích thực trạng ứng dụng CNTT, từ đó đề xuất các giải pháp hợp lý

9


đối với từng đơn vị, lĩnh vực như nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Hữu Đồng
(2012) [22], Huỳnh Thị Hồng Hạnh (2015) [14].
Thứ năm: Về các nội dung của tổ chức HTTT kế toán
Các công trình nghiên cứu về tổ chức HTTT kế toán ở Việt Nam chủ yếu là
các luận án tiến sỹ và các bài báo khoa học. NCS nhận thấy các tác giả đều tập
trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng tổ chức thu nhận thông tin, thực trạng hệ
thống hóa và xử lý thông tin, thực trạng phân tích và cung cấp thông tin… để đề
xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức HTTT kế toán. Nội dung nghiên cứu

gồm: tổ chức con người, tổ chức dữ liệu kế toán, tổ chức thủ tục kế toán, tổ chức
hệ thống phần cứng, tổ chức phần mềm kế toán. Trong mỗi nội dung, tác giả đã
gắn kết yếu tố công nghệ thông tin với từng thành phần của hệ thống như việc
thực hiện các thủ tục kế toán [45].
Thứ sáu: Về phương pháp nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu trên thế giới và công trình nghiên cứu trong
nước sử dụng đa dạng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phỏng vấn,
điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực nghiệm, phương pháp nghiên cứu định lượng.
Ngoài ra, các nghiên cứu còn áp dụng các phương pháp riêng cụ thể đối với từng
vấn đề như Tác giả Ainon Ramli, 2013 sử dụng phương pháp tiếp cận tam giác
phương pháp bình phương tối thiểu riêng phần [51].
Các nghiên cứu trong nước là luận án tiến sỹ sử dụng kết hợp phương pháp
nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng. Các phương pháp
cụ thể được sử dụng như: so sánh, tổng hợp và phân tích; phương pháp hệ thống
hóa và tổng hợp…
2.1.2 Các công trình nghiên cứu về hệ thống thông tin kế toán quản trị
HTTT KTQT được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu. Bài
báo khoa học của hai tác giả Avi Rushinek và Sarah F.Rushiimek trên Tạp chí
Cybernetics and Systems. Nghiên cứu đã chỉ ra: Các hoạt động hàng ngày được
khám phá và liên quan đến việc lập kế hoạch (cả dài hạn và ngắn hạn), kiểm soát,
tổ chức và chỉ đạo các chức năng. Trong suốt quá trình trình bày, hệ thống thông
tin kế toán có liên quan như một thành phần chính và thường là trung tâm để
thành công. [54,tr276-277]. Nghiên cứu đã chỉ ra các chức năng của HTTT KTQT
bao gồm lập kế hoạch, kiểm soát, tổ chức chỉ đạo. Về chức năng của HTTT
KTQT, tác giả Đàm Bích Hà và cộng sự (2018) đã nghiên cứu về HTTT KTQT hỗ
trợ ra quyết định kinh doanh. Nghiên cứu đã đề cập đến tình hình ứng dụng hệ
thống thông tin hỗ trợ quyết định trong các tổ chức Việt Nam, từ đó đề xuất ba
11



vụ hoạt động kiểm soát, phân hệ thông tin phục vụ hoạt động ra quyết định. Nếu
12


xét dưới góc độ phương thức cung cấp thông tin, HTTT KTQT gồm: Phân hệ
thông tin được cung cấp theo phương thức thủ công, Phân hệ thông tin được cung
cấp theo phương thức bán thủ công, Phân hệ thông tin được cung cấp dựa trên nền
máy tính. Nếu xét dưới góc độ tiến trình cung cấp thông tin của hệ thống, HTTT
KTQT bao gồm: Phân hệ thu thập dữ liệu, phân hệ xử lý dữ liệu, phân hệ cung cấp
thông tin và phân hệ lưu trữ dữ liệu. Trên cơ sở đó, tác giả tập trung nghiên cứu
HTTT KTQT dưới góc độ tiến trình cung cấp thông tin của hệ thống để hoàn thiện
HTTT KTQT tại các DN chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Tác giả đánh giá cách
tiếp cận này là phù hợp với mô hình chung của hệ thống thông tin [40]
Nghiên cứu về cấu trúc HTTT KTQT còn được nghiên cứu dưới góc độ chi
tiết hơn, một số tác giả nghiên cứu về HTTT KTQT chi phí như tác giả Hồ Mỹ
Hạnh (2013) và tác giả Lê Thị Hồng (2016) [16]. Tác giả Hồ Mỹ Hạnh cho rằng
“HTTT KTQT chi phí là việc thu thập các dữ liệu về chi phí và xử lý các dữ liệu
này theo một trình tự để có thể cung cấp thông tin về chi phí nhằm xây dựng kế
hoạch chi phí, kiểm soát chi phí, từ đó đánh giá các hoạt động và ra quyết định
quản lý”. Trên cơ sở khái niệm trên tác giả đã xác định HTTT KTQT chi phí bao
gồm ba thành phần: HTTT dự toán chi phí, HTTT chi phí thực hiện và HTTT
kiểm soát chi phí [13, tr 32]. Tác giả Lê Thị Hồng cũng nghiên cứu các thành
phần của HTTT KTQT chi phí cho rằng: HTTT KTQT là một bộ phận của HTTT
kế toán trong đơn vị. Việc tiếp cận HTTT KTQT chi phí dưới góc độ các thành
phần cấu tạo nên hệ thống là phương pháp tiếp cận phù hợp. Trong điều kiện ứng
dụng CNTT, các thành phần của HTTT KTQT chi phí được xác định bao gồm:
Lưu đồ luân chuyển thông tin kế toán quản trị chi phí, Quy trình hoạt động của
HTTT KTQT chi phí; Các phương tiện kỹ thuật HTTT KTQT chi phí và Kiểm
soát nội bộ đối với HTTT KTQT chi phí [16].
Về nội dung tổ chức HTTT KTQT: Các nghiên cứu trong nước và trên thế

đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng ngành nghề, lĩnh vực nghiên cứu.
Nhận diện chi phí: Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến các cách nhận
diện chi phí khác nhau theo chức năng, theo nội dung kinh tế, theo mối quan hệ
với mức độ hoạt động, theo khả năng quy nạp của chi phí [12, 13]. Một số công
trình nghiên cứu bổ sung các cách phân loại khác như phân loại chi phí theo
quyền kiểm soát chi phí hay là phân loại chi phí để lựa chọn dự án đầu tư [41],
[5],23]. Ví dụ như: tác giả Trần Thị Dự (2013) với giải pháp Phân loại chi phí
theo mức độ hoạt động và theo đối tượng tập hợp chi phí làm cơ sở quản lý chi phí
và xây dựng hệ thống định mức và dự toán chi phí trong các doanh nghiệp chế
14


biến thức ăn chăn nuôi [38]. Tác giả Đinh Thị Kim Xuyến (2014) với giải pháp
Hoàn thiện phân loại chi phí theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp [7]. Tác giả
Nguyễn La Soa (2016) đề xuất giải pháp về Hoàn thiện nhận diện chi phí, trong
đó tập trung nhận diện chi phí theo cách ứng xử của chi phí, theo quyền kiểm soát
chi phí và nhận diện chi phí để lựa chọn dự án đầu tư [23].
Lập dự toán: Theo tác giả D.Richard Smith (1962), lập dự toán cần phục vụ
kiểm soát chi phí và đánh giá kết quả thực hiện. Để kiểm soát chi phí và đánh giá
kết quả thực hiện, dự toán chi phí cần được lập cho từng loại sản phẩm, từng bộ
phận và cho từng tháng, nhưng giới hạn trong phạm vi những khoản chi phí mà
nhà quản trị nội bộ có thể kiểm soát được [83]. Ở Việt Nam, các nghiên cứu đều
tập trung phân tích thực trạng xây dựng định mức và lập dự toán chi phí trong các
ngành nghề, lĩnh vực cụ thể để đề xuất các giải pháp cần thiết về xây dựng hệ
thống định mức và dự toán chi phí một cách khoa học và đồng bộ. Tác giả
Nguyễn Hoản (2012) đề xuất dự toán chi phí cần tách biệt chi phí biến đổi và chi
phí cố định nhằm mục đích phân tích chi phí [21, tr125-128]. Tác giả Trần Thị
Thu Hường (2014) đề xuất lập dự toán cho từng loại sản phẩm sản xuất để DN có
thể tính chi phí phát sinh cho nhiều mức hoạt động khác nhau phù hợp với những
biến động của thị trường [44, tr118-121]. Tác giả Nguyễn La Soa (2016) đã đề

tố sản xuất riêng biệt theo mô hình KTQT hiện đại nhằm đáp ứng các yêu cầu
cung cấp thông tin cho nhà quản trị” [12]. Một số nghiên cứu của tác giả Trần Thị
Dự và tác giả Đinh Thị Kim Xuyến và nhiều tác giả khác đã đề xuất giải pháp áp
dụng phương pháp ABC để tính giá phí của từng sản phẩm [7].
Kế toán trách nhiệm chi phí: Tác giả Z.Jun Lin và tác giả Zengbiao Yu
(2002) đã nghiên cứu về hệ thống kiểm soát chi phí trách nhiệm và chỉ ra rằng hệ
thống kiểm soát chi phí bằng trách nhiệm quản trị là công cụ kiểm soát chi phí
hiệu quả trong bối cảnh nền kinh tế mở cửa [90]. Các tác giả trong nước khi
nghiên cứu về việc áp dụng hệ thống kế toán trách nhiệm phục vụ đánh giá và
kiểm soát hoạt động của đơn vị, đã đề xuất giải pháp xây dựng các trung tâm trách
nhiệm bao gồm trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và
trung tâm đầu tư. Các nghiên cứu của các tác giả đề xuất giải pháp này bao gồm
Hoàng Văn Tưởng, Đinh Thị Kim Xuyến... [7,12]
Phân tích thông tin chi phí để kiểm soát chi phí và ra quyết định: Nghiên
cứu về phân tích thông tin chi phí phục vụ kiểm soát và ra quyết định của nhà
quản trị, các công trình tập trung vào phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng –
lợi nhuận và phân tích thông tin thích hợp phục vụ ra quyết định. Tác giả Nguyễn
16


Hoản (2012) cho rằng phân tích mối quan hệ CVP giúp các DN bánh kẹo xác định
được cơ cấu sản phẩm tiêu thụ nhằm tối đa hóa lợi nhuận và tính toán điểm hòa
vốn, điểm an toàn [21]. Tác giả Đào Thúy Hà (2015) đưa đưa ra giải pháp phân
tích CVP và định giá chuyển giao nội bộ trong các DN sản xuất thép ở Việt Nam
[5]. Khi nghiên cứu KTQT chi phí tại Tổng công ty xây dựng công trình giao
thông 8, tác giả Nguyễn La Soa (2016) đã đề xuất giải pháp ứng dụng mối quan hệ
giữa chi phí, doanh thu và lợi nhuận để đưa ra quyết định đặt giá dự thầu đảm bảo
mục tiêu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, quyết định lựa chọn phương
thức thi công để đảm bảo lợi thế cạnh tranh. Đồng thời, trong nghiên cứu tác giả
cũng đề xuất giải pháp phân tích biến động các khoản mục chi phí, phân tích

xây lắp nói chung và TCT Sông Đà nói riêng. Đối với loại hình doanh nghiệp xây
lắp, có nhiều nghiên cứu dưới góc độ khác nhau về kế toán, kiểm toán, phân tích,
tài chính, quản trị nhân sự, công tác quản lý vốn. TCT Sông Đà là một đơn vị trực
thuộc Bộ Xây dựng, kinh doanh đa ngành nghề, bao gồm nhiều doanh nghiệp
thành viên, hoạt động trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam. Các nghiên cứu về
TCT Sông Đà và các doanh nghiệp xây lắp thuộc TCT Sông Đà tập trung vào giải
pháp tái cấu trúc doanh nghiệp, tái cấu trúc tài chính tài chính, hoàn thiện công tác
thẩm định tài chính, giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả kinh doanh,…
- Về giải pháp huy động vốn: Tác giả Nguyễn Minh Quang (2011) cho
rằng: Nhu cầu vốn đặc biệt là huy động vốn từ nguồn phát hành trái phiếu của
TCT còn hạn chế. Nghiên cứu trong giai đoạn 2009-2011, tỷ trọng vốn huy động
từ việc phát hành trái phiếu ở TCT còn khá thấp, khoảng 10%. Do vậy, TCT cần
đẩy mạnh huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp [25].
- Về tái cấu trúc doanh nghiệp và tái cấu trúc tài chính: Theo tác giả Trần
Thị Hậu (2009): Các giải pháp tái cấu trúc về mô hình quản lý của TCT góp phần
tăng tính hiệu quả trong việc cung cấp thông tin giữa các bộ phận, nâng cao chất
lượng thông tin cung cấp cho Hội đồng quản trị, Ban giám đốc trong việc nhận
định, đánh giá các vấn đề phát sinh. [39]. Xuất phát từ những khó khăn trong sản
xuất kinh doanh mà các DN thuộc TCT Sông Đà, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ký
Quyết định số 50/Đ-BXD ngày 15 tháng 01 năm 2013 phê duyệt Đề án Tái cấu
trúc TCT Sông Đà giai đoạn 2012-2015, tầm nhìn đến năm 2020. Tác giả Lý
Quang Thái (2017) cho rằng: Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, trong sự
cần thiết của tái cấu trúc tổng thể TCT thì tái cấu trúc tài chính có ý nghĩa quan
trọng, góp phần nâng cao chất lượng công tác quản trị tài chính của TCT [18]

18


- Về công tác thẩm định tài chính: Quá trình đầu tư của TCT đã bộc lộ một
số hạn chế như đầu tư dàn trải trên nhiều lĩnh vực và một số lĩnh vực không có lợi



Trên cơ sở nghiên cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về
các vấn đề liên quan đến luận án, NCS nhận thấy các công trình này còn một số
vấn đề cơ bản như sau:
Về nội dung nghiên cứu: Các công trình nghiên cứu chủ yếu nghiên cứu
chung về HTTT kế toán, theo nhiều nội dung và khía cạnh khác nhau: Khái niệm
và đặc điểm của HTTT kế toán; vai trò và hiệu quả của HTTT kế toán, các yếu tố
ảnh hưởng đến HTTT kế toán; các thành phần của HTTT kế toán; ứng dụng công
nghệ thông tin trong HTTT kế toán; các nội dung của tổ chức HTTT kế toán và
phương pháp nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu về HTTT KTQT không
nhiều. Công trình nghiên cứu của tác giả Trần Thị Nhung nghiên cứu HTTT
KTQT dưới góc độ chung về mặt hoàn thiện hệ thống thông tin KTQT theo tiến
trình cung cấp thông tin gồm các phân hệ: Phân hệ thu thập thông tin, phân hệ xử
lý thông tin, phân hệ cung cấp thông tin và phân hệ lưu trữ thông tin. Nghiên cứu
đã thể hiện rõ quá trình cung cấp thông tin theo mô hình hệ thống, tuy nhiên
nghiên cứu chưa đề cập đến vấn đề kiểm soát nội bộ và quản trị trong hệ thống
thông tin. Công trình nghiên cứu của tác giả Hồ Mỹ Hạnh và tác giả Lê Thị Hồng
nghiên cứu cụ thể hơn về HTTT KTQT chi phí. Tác giả Hồ Mỹ Hạnh nghiên cứu
dưới góc độ tổ chức HTTT KTQT chi phí, bao gồm tổ chức ba hệ thống thông tin
con là tổ chức hệ thống thông tin dự toán, tổ chức hệ thống thông tin chi phí thực
hiện và tổ chức hệ thống thông tin về chi phí kiểm soát. Cách tiếp cận này chưa
thể hiện rõ được quá trình thu thập, xử lý và cung cấp thông tin theo mô hình hệ
thống thông tin. Tác giả Lê Thị Hồng nghiên cứu HTTT KTQT chi phí dưới góc
độ các thành phần cấu thành nên hệ thống, trong điều kiện ứng dụng công nghệ
thông tin, bao gồm: Lưu đồ luân chuyển thông tin KTQT chi phí, quy trình hoạt
động của HTTT KTQT chi phí, các phương tiện kỹ thuật HTTT KTQT chi phí,
kiểm soát nội bộ đối với HTTT KTQT chi phí. Nghiên cứu đã làm rõ các thành
phần cấu thành của HTTT kế toán phục vụ cho mục đích quản trị chi phí, mà
không nghiên cứu dưới góc độ tổ chức hệ thống nhằm xác định rõ các nội dung

dung tổ chức HTTT KTQT đều bám vào mục tiêu quản trị chi phí để làm rõ. NCS
cho rằng nội dung tổ chức HTTT kế toán được xác định theo quá trình xử lý thông
tin là hoàn toàn phù hợp. Thông tin kế toán sau khi thu nhận được sẽ tham gia vào
quá trình xử lý và cung cấp cho các đối tượng sử dụng. Tuy nhiên trong điều kiện
CNTT phát triển mạnh mẽ như hiện nay, mỗi nội dung của quá trình xử lý thông
tin đều gắn kết với CNTT.

21


- Bối cảnh nghiên cứu của luận án tập trung tại các DN thuộc TCT sông
Đà. Một số công trình nghiên cứu tại TCT Sông Đà về các vấn đề cấu trúc doanh
nghiệp, thẩm định tài chính…, tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu cụ thể và
chi tiết về tổ chức HTTT KTQT tại các DN thuộc TCT Sông Đà.
Theo quan điểm của tác giả thì nội dung nghiên cứu và lĩnh vực nghiên
cứu của luận án hoàn toàn phù hợp trong điều kiện HTTT KTQT ở các DN thuộc
TCT Sông Đà hiệu quả cung cấp thông tin đáp ứng yêu cầu nhà quản trị chưa
cao. Trong khi hiệu quả kinh doanh của các DN thuộc TCT Sông Đà ở mức
tương đối thấp so với các DN cùng ngành, danh mục đầu tư dàn trải, các giải
pháp về mặt tái cấu trúc tài chính và tái cấu trúc DN còn mang tính hình thức.
Tư đó, nhu cầu thông tin kế toán phục vụ cho mục đích quản trị chi phí trong các
DN ngày càng cao.
* Định hướng nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu tổ chức HTTT KTQT nhằm tăng cường quản trị chi
phí theo quá trình xử lý thông tin. Các nội dung được làm rõ bao gồm: Tổ chức hệ
thống thu nhận thông tin; tổ chức hệ thống xử lý thông tin; tổ chức hệ thống phân
tích thông tin; tổ chức hệ thống cung cấp thông tin; tổ chức hệ thống kiểm soát,
lưu trữ và bảo mật thông tin
Tổ chức hệ thống thu nhận thông tin KTQT: Luận án nghiên cứu hệ thống
thu nhận thông tin dưới góc độ tổ chức, nhằm làm rõ về mô hình thu thập thông

Từ mục tiêu tổng quát đó, các mục tiêu cụ thể được xác định là:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức HTTT KTQT nhằm
tăng cường quản trị chi phí trong doanh nghiệp
- Nghiên cứu, khảo sát thực trạng, từ đó phân tích, đánh giá mặt ưu điểm,
hạn chế còn tồn tại của tổ chức HTTT KTQT nhằm tăng cường quản trị chi phí
xây lắp trong các DN thuộc TCT Sông Đà
- Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện tổ chức HTTT KTQT nhằm tăng
cường quản trị chi phí xây lắp trong các DN thuộc TCT Sông Đà.
Trên cơ sở xác định mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể, luận án đặt ra
các câu hỏi nghiên cứu như sau:
(i) Nhà quản lý cần các thông tin gì để thực hiện chức năng quản trị chi
phí?
(ii) Các nội dung cơ bản của tổ chức HTTT KTQT trong mỗi DN là gì?
(iii) Những vấn đề tồn tại trong tổ chức HTTT KTQT trong các DN thuộc
TCT Sông Đà nhằm tăng cường quản trị chi phí xây lắp?
23


(iv) Tổ chức HTTT KTQT trong các DN thuộc TCT Sông Đà cần được
hoàn thiện các nội dung nào để tăng cường quản trị chi phí xây lắp?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là: tổ chức hệ thống thông tin kế toán
quản trị nhằm tăng cường quản trị chi phí xây lắp trong các DN nói chung và các
DN thuộc TCT Sông Đà nói riêng. Với đối tượng này, luận án đi sâu nghiên cứu
các vấn đề:
- Nghiên cứu nội dung cơ bản của tổ chức HTTT KTQT nhằm tăng cường
quản trị chi phí trong các DN.
- Nghiên cứu thực trạng tổ chức HTTT KTQT theo quá trình cung cấp
thông tin; cùng với việc đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức HTTT KTQT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status