VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ PHÚ DƯỠNG
TƯ TƯỞNG DUNG THÔNG NHO, PHẬT, ĐẠO CỦA
NGUYỄN BỈNH KHIÊM, PHÙNG KHẮC KHOAN VÀ
NGUYỄN DỮ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ PHÚ DƯỠNG
TƯ TƯỞNG DUNG THÔNG NHO, PHẬT, ĐẠO CỦA
NGUYỄN BỈNH KHIÊM, PHÙNG KHẮC KHOAN VÀ
NGUYỄN DỮ
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 9.22.90.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN NGUYÊN VIỆT
khảo cứu và những vấn đề đặt ra cho luận án..............................................36
Chương 2. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG DUNG THÔNG TAM
GIÁO CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM, PHÙNG KHẮC KHOAN VÀ
NGUYỄN DỮ...................................................................................................39
2.1. Khái niệm về tam giáo và dung thông tam giáo.................................... 39
2.1.1. Khái niệm “tam giáo”............................................................................ 39
2.1.2. Khái niệm về dung thông tam giáo........................................................40
2.2. Những điều kiện và tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng dung
thông tam giáo ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn
Dữ......................................................................................................................46
2.2.1. Bối cảnh lịch sử và tình hình kinh tế, chính trị - xã hội và văn hóa
Đại Việt thế kỷ XVI...........................................................................................46
2.2.2. Những tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng dung thông tam
giáo ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ..................50
2.2.2.1. Sự du nhập của tam giáo vào Việt Nam............................................. 50
2.2.2.2. Mối quan hệ tam giáo ở Việt Nam trước thế kỷ XVI......................... 58
Chương 3. NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM TƯ TƯỞNG DUNG THÔNG
TAM GIÁO CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM, PHÙNG KHẮC KHOAN
VÀ NGUYỄN DỮ............................................................................................80
3.1. Vài nét về thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng
Khắc Khoan và Nguyễn Dữ............................................................................80
3.1.1. Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm..................................80
3.1.2. Vài nét về thân thế và sự nghiệp của Phùng Khắc Khoan...................84
3.1.3.Vài nét về thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Dữ..................................86
3.2. Thế giới quan trong tư tưởng dung thông tam giáo của Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ..................................................88
3.2.1. Quan niệm về “đạo trời”........................................................................88
3.2.2. Quan niệm về “đạo người”....................................................................95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................153
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) là ba học thuyết có nguồn gốc từ Trung Quốc và
Ấn Độ, được truyền bá vào Việt Nam từ rất sớm. Trong suốt chiều dài lịch sử của
dân tộc Việt Nam, các tôn giáo này không chỉ có sự tiếp biến với nhau mà còn với
các yếu tố bản địa để hình thành nên các tư tưởng triết học, chính trị - xã hội và đạo
đức của Việt Nam. Tuy các học thuyết trên có vị thế khác nhau trong từng giai đoạn
lịch sử cụ thể, song chính quá trình tiếp biến nói trên đã tạo nên mối quan hệ tam
giáo với tính chất không đồng nhất với mối quan hệ tam giáo ở Trung Quốc và các
nước đồng văn khác của khu vực.
Từ trước tới nay, giới nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam đã bàn nhiều đến
các vấn đề về mối quan hệ tam giáo. Có người khẳng định cho rằng, tam giáo luôn bổ
sung cho nhau, tạo nên xu hướng tam giáo thống nhất; số khác cho rằng, tam giáo xét
cho cùng về phương diện đạo đức, là cùng chung nguồn gốc và tâm thế, họ dùng cụm
từ Tam giáo đồng nguyên (cùng nguồn gốc); số thứ ba cho rằng, trong lịch sử tư tưởng
Việt Nam có hiện tượng Tam giáo hòa đồng, Tam giáo hội nhập, bởi lẽ ở ba học thuyết
ấy có một mục đích và nhiệm vụ chung trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến
đời sống tôn giáo phức tạp, nếu thiếu sự hòa đồng và hội nhập sẽ dẫn đến những hậu
quả khôn lường như xung đột tư tưởng, tín nhiệm, v.v..
Thế kỷ XVI mở ra một giai đoạn lịch sử hết sức phức tạp với sự suy yếu của
nhà Lê Sơ, dẫn đến tình trạng chiến tranh và cát cứ. Tư tưởng đức trị, thống nhất
của Nho giáo Khổng Mạnh trở nên có vấn đề khi trải qua một thế kỷ trị vì của nhà
Lê Sơ lấy Nho giáo làm bệ đỡ hệ tư tưởng bị nhà Mạc lật đổ và kế theo đó là diễn
biến trong ba thế kỷ khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam. Để có đủ cơ sở
lý giải thời cuộc mà không phải lấy học thuyết duy nhất theo quan điểm chính thống
là Nho giáo, các nhà tư tưởng, mà chủ yếu là nho sĩ đã tìm đến Phật và Đạo, làm
cứu di sản tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án:
Luận án phân tích một cách có hệ thống các quan điểm về dung thông Nho,
Phật, Đạo trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn
2
Dữ; làm rõ những giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng dung thông Nho,
Phật, Đạo Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Luận án tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, tổng quan các công trình nghiên cứu về Nho, Phật, Đạo và các
công trình nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ.
Thứ hai, trình bày khái quát về quá trình du nhập và phát triển của Nho,
Phật, Đạo và sự dung thông Nho, Phật, Đạo trong các giai đoạn trước thế kỷ XVI.
Thứ ba, luận án làm rõ những những quan điểm về dung thông tam giáo của
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ. Làm rõ một số đặc điểm
chủ yếu của dung thông Nho, Phật, Đạo trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ.
Thứ tư, luận án bước đầu nêu những giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử về
quan điểm dung thông Nho, Phật, Đạo trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án tập trung nghiên cứu là các quan điểm dung thông Nho, Phật, Đạo
trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận nghiên cứu của luận án
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa
nghiên cứu và giảng dạy môn lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XVI nói chung, tư
tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ nói riêng.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4
chương, 12 tiết.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo là ba học thuyết có sức lan tỏa và ảnh hưởng
mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của nhiều nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam
Á, trong đó có nước ta. Các học thuyết này đã trải qua một quá trình tiếp biến lâu dài
trong lịch sử nước ta, hình thành nên các mối quan hệ khác nhau tùy thuộc vào điều
kiện văn hóa bản địa và lịch sử cụ thể. Đó là mối quan hệ đồng nguyên, thống nhất, hòa
đồng, hội nhập, v.v.. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chú
trọng đến những công trình liên quan đến tư tưởng chính trị - xã hội của Nho giáo, Phật
giáo, Đạo giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam trước thế kỷ XVI; mối quan hệ theo
hướng dung thông tam giáo trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc
Khoan và Nguyễn Dữ thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII. Trên cơ sở đó, luận án tiếp tục
làm rõ những vấn đề còn bỏ ngỏ về mối quan hệ dung thông tam giáo trong tư tưởng
của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ.
1.1. Các công trình nghiên cứu về Nho, Phật, Đạo và mối quan hệ giữa
Nho, Phật, Đạo
Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về Nho, Phật, Đạo
Nghiên cứu về tam giáo (Nho, Phật, Đạo) đã có nhiều tác giả với nhiều công
trình nghiên cứu về ba tôn giáo này. Tiêu biểu như cuốn sách Học thuyết chính trị xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam, và bài Quan niệm của Nho
giáo về xã hội lý tưởng trên Tạp chí Triết học số 3, 3/2001, bài Tư tưởng về đạo trị
Triết học số 12, năm 2002 của Minh Anh; Tư tưởng lễ và chính danh của Nho giáo
trên Tạp chí Triết học số 5, 2003 của Ngọc Anh; Mấy vấn đề Nho giáo Việt Nam thế
kỷ XVI và XVII, Tạp chí Triết học số 9 (184)/2006 của Nguyễn Đức Sự; Thế giới
quan triết học của các nhà nho trong xã hội phong kiến Việt Nam, Tạp chí Triết học,
số 2 (237), 2/2011 của Phạm Thị Loan; Góp phần tìm hiểu Khổng giáo ở Việt Nam,
Nghiên cứu tôn giáo số 11(137), 2014 của Lê Quốc Tuấn; Sự phát triển của tư
tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam từ đầu công nguyên đến cuối thế kỷ XIV, Tạp chí
Khoa học xã hội Việt Nam, số 9(94) năm 2015 của Nguyễn Hoài Văn. Điểm chung
của các công trình này là tập trung bàn về vai trò của Nho giáo trong đời sống chính
trị - xã hội Việt Nam trong lịch sử với tư cách là bệ đỡ hệ tư tưởng cho các triều đại
phong kiến, đồng thời chỉ ra những giá trị và hạn chế của nó trong đường lối trị
nước an dân trong lịch sử.
6
Các công trình nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam như công trình Phật giáo
Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XVIII của Trần Văn Giáp, do Tuệ Sỹ dịch, Nxb
Ban tu thư viện Đại học Vạn Hạnh, 1968. Công trình này tác giả đã dựa trên những
tài liệu của những người đi trước để trình bày một cách toàn bộ về Phật giáo Việt
Nam từ thuở xưa. Trong phần 1, tác giả nói về những điểm thuộc về khởi nguyên
của đạo Phật tại Việt Nam. Phần 2 tường thuật sự tích của một vài nhà chiêm bái,
viết theo hồi ký của Nghĩa Tịnh, những nhà chiêm bái này gốc Trung Hoa hay
Trung Á đã dừng chân trên đất Bắc Kỳ. Họ đã từng lãnh sứ mạng truyền bá Phật
giáo và đi thỉnh kinh tại Ấn Độ.
Công trình Việt Nam Phật giáo sử lược của Hòa Thượng Mật Thể, do Nxb
Tôn Giáo, năm 1970. Trong công trình này tác giả khi viết về Phật giáo đã chia làm
hai phần: phần Tự luận và phần Lịch sử. Phần Tự luận chia làm bốn chương, phần
Lịch sử chia làm mười chương. Trong phần Tự luận, tác giả đã điểm qua đôi nét về
nguồn gốc Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Trung Quốc. Theo tác giả thì Phật giáo có
nguồn gốc từ Ấn Độ truyền vào Trung Quốc và sang Việt Nam nên chúng ta cần
Trong đó tác giả đã chia lịch sử Phật giáo Việt Nam ra làm năm thời kỳ lớn: Thời kỳ
thứ nhất, từ khởi nguyên cho đến khi Lý Bôn xưng đế lập nên Nhà nước Vạn Xuân.
Thời kỳ thứ hai, bắt đầu từ lúc dòng thiền Pháp Vân ra đời cho đến thời vua Lý Thái
Tông. Thời kỳ thứ ba, từ thời vua Lý Thánh Tông đến vua Trần Thánh Tông. Thời
kỳ thứ tư, từ vua Trần Nhân Tông đến chúa Nguyễn Phúc Ánh. Thời kỳ thứ năm, từ
chúa Nguyễn Phúc Ánh đến khi vua Bảo Đại thoái vị năm 1945. Mỗi một thời kỳ có
một nét đặc trưng và một quá trình phát triển tất yếu của nó.
Ngoài các công trình nghiên cứu về Phật giáo nói trên còn có các bài viết
về Phật giáo đăng trên các tạp chí như: bài Tìm hiểu một số đặc điểm của Phật giáo
trong hệ thống tôn giáo Việt Nam của Nguyễn Tất Đạt trên Nghiên cứu tôn giáo số 3
năm 2008 đã nêu ba đặc điểm của Phật giáo Việt Nam: một là, Phật giáo du nhập
vào Việt Nam rất sớm bằng con đường giao lưu thương mại hòa bình; hai là, Phật
giáo là tôn giáo có ảnh hưởng lớn đến lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc;
ba là, Phật giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình hình thành các tôn giáo nội
sinh ở Việt Nam. Ngoài ra còn có các công trình của các tác giả như Thế giới quan,
nhân sinh quan đạo Phật và sự ảnh hưởng của nó tới xã hội Việt Nam, của Mai
Xuân Hội; cuốn Lược khảo tư tưởng Thiền Trúc Lâm Việt Nam và cuốn Đại cương
triết học Phật giáo Việt Nam, tập 1 của Nguyễn Hùng Hậu; Ảnh hưởng của đạo đức
8
phật giáo trong đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam, luận án tiến sĩ triết học của Tạ
Chí Hồng; Nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến lối sống con người Việt
Nam của Nguyễn Minh Nhựt; Vai trò của Phật giáo ở Việt Nam, của Phạm Văn Sinh;
Ảnh hưởng của những tư tưởng Triết học Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần
dân tộc Việt Nam, của Lê Hữu Tuấn; cuốn Lịch sử triết học phương Đông của Nguyễn
Đăng Thục. Các công trình này tập trung phân tích ảnh hưởng của Phật giáo đến đời
sống văn hóa tinh thần con người Việt Nam trong lịch sử, chỉ ra những mặt tích cực
cũng như hạn chế của sự ảnh hưởng đó trong đời sống đương đại.
trong văn học Phật giáo thời Lý - Trần, trên tạp chí Hán Nôm số 2(51) năm 2002, tác
giả viết: các nhà nghiên cứu đã thừa nhận dân tộc ta vốn có tinh thần dân chủ và sống
phóng khoáng nên từ đầu khi Tam giáo vào Việt Nam, cha ông ta đã biết tự mở cửa đón
nhận những tinh hoa của hệ tư tưởng ấy, chọn lọc, dung hợp và biến chúng thành cái
của mình, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh sống của mình, phục vụ cho mình. Sự
kết hợp giữa Phật và Thánh (Nho), hay là sự kết hợp giữa Phật với Lão – Trang một
cách uyển chuyển để đi đến sự thống nhất Tam giáo đồng nguyên.
Bài Về quá trình Nho giáo du nhập vào Việt Nam (từ đầu công nguyên đến thế
kỷ XIX) của Doãn Chính và Nguyễn Sinh Kế trên tạp chí Triết học, số 9 (160), tháng 9
năm 2004. Các tác giả đã đưa ra một số nhận định về quá trình du nhập của Nho giáo
vào Việt Nam: một là, du nhập vào Việt Nam từ đầu công nguyên, song phải trải qua
một thời gian khá dài, Nho giáo mới bén rễ được vào đời sống chính trị và tinh thần
của xã hội; hai là, Nho giáo du nhập vào Việt Nam là Hán Nho và Tống Nho, khi du
nhập vào Việt Nam nó đã được cải biến cho phù hợp với truyền thống của dân tộc cũng
như nhu cầu của đất nước để trở thành nhân tố của chính trong nền văn hóa và hệ tư
tưởng chính thống ở Việt Nam; ba là, Nho giáo du nhập vào Việt Nam trong sự phát
triển đồng hành, tác động qua lại với Phật giáo và Đạo giáo.
Tiếp tục quan niệm “Tam giáo đồng nguyên” của Nguyễn Tài Thư, trong bài
Lại bàn về tam giáo đồng nguyên, trên tạp chí Hán Nôm số 5(66) năm 2004, của Lê
Văn Quán cho rằng người truyền bá tư tưởng “Tam giáo nhất chí” ở Giao Châu là
Mâu Tử, trước tác của ông có Lý hoặc luận. Ông cho rằng Chân nhân của Đạo giáo
và Tam hoàng Ngũ đế của Nho gia cùng phối với nhau, giáo nghĩa của Phật giáo
cũng có chỗ chung với học thuyết Nho, Đạo.
10
Bài Về mối quan hệ tam giáo trong tư tưởng Nguyễn Trãi của Trần Nguyên
Việt trên tạp chí Triết học, số 7 (170), tháng 7 năm 2005. Tác giả viết Nguyễn Trãi
Bài Biện chứng của tư tưởng dung hoà trong văn hoá - tôn giáo Việt Nam:
lịch sử và hiện tại trên tạp chí Triết học, số 2 (177), tháng 2 năm 2006 và bài Vua
Lý Nhân Tông với Tam giáo, trên Tạp chí Triết học, số 10 (233), tháng 10/2010 của
Lê Thị Lan. Tác giả đã nhấn mạnh tư tưởng dung hoà (hoà hợp với tự nhiên; dung
hoà với xã hội; dung hoà với con người) và coi đó như là một nguyên tắc tồn tại
của người Việt Nam, nguyên tắc này đã được hình thành từ rất sớm trong lịch sử và
ngày nay theo tiến trình phát triển của dân tộc thì nó càng được bổ sung thêm nhiều
nội dung mới. Trong suốt thời kỳ lịch sử cổ - trung đại Việt Nam, và trong thời kỳ
cận - hiện đại, khi được bổ sung thêm những giá trị nhân văn mới mẻ, tiến bộ của
phương Tây. Tư tưởng dung hoà này đã vận động và tạo ra một diện mạo văn hoá
Việt, làm nên một tổng thể các yếu tố văn hoá - tôn giáo (Nho, Đạo, Phật) và các
yếu tố bản địa.
Trong bài Thử bàn về thời điểm du nhập cùng tính chất, vai trò của Nho học
Việt Nam thời Bắc thuộc, trên tạp chí Hán Nôm, Số 1-2005, tác giả Trần Nghĩa cũng
đề cập tới các vấn đề như Nho học Trung Quốc truyền vào Việt Nam từ lúc nào?
Tính chất của Nho học Việt Nam thời Bắc thuộc; Vai trò của Nho học Việt Nam thời
Bắc thuộc. Ngoài ra tác giả Trần Nghĩa còn có bài: Quá trình hội nhập Nho - Phật Lão hay sự hình thành tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên” ở Việt Nam, trên Tạp chí
Triết học, số 1 (244), tháng 1 năm 2010, trong đó có viết: Nho – Phật – Lão hội
nhập là hiện tượng tư tưởng chung ở các nước Đông Á thời Trung đại. Bài viết này
khảo cứu quá trình hội nhập Nho – Phật – Lão hay sự hình thành tư tưởng “tam
giáo đồng nguyên” ở Việt Nam. Đây là một quá trình gồm ba bước: một là, tam
giáo đỉnh lập; hai là, tam giáo dung hợp; và ba là, tam giáo đồng nguyên. Chính
việc tam giáo “cầu đồng tồn dị” để xích lại gần nhau trong tiến trình lịch sử của
chúng đã kết thành một mạng lưới tạo nên sức mạnh vì mục đích nhân văn, vì cuộc
sống con người.
Hoàng Ngọc Hiến có bài Tìm hiểu minh triết tam giáo trong văn hóa Việt
Nam trên Tạp chí sông Hương, số 253 tháng 3 năm 2010, có viết: Tâm thế “xuất
nhập” thoải mái trong tam giáo là điều đáng suy nghĩ có liên quan đến tín ngưỡng,
đức tin của người Việt. Phải chăng ngay trong đức tin người Việt cũng thích sự
2015, tác giả có viết: trọng tâm quan hệ Phật giáo và Nho giáo là vấn đề hiếu hạnh
được ghi rõ ở điều 9 và 10 của sách Lý hoặc Luận.
Trong Tham luận tại Hội thảo quốc tế về Nho giáo tại Việt Nam do Học viện
Harvard Yenching (Hoa Kỳ) phối hợp với Viện nghiên cứu Hán Nôm Việt
13
Nam tổ chức tháng 12 năm 2004, Nguyễn Kim Sơn có bài Xu hướng hội nhập tam
giáo trong tư tưởng Việt Nam thế kỷ XVIII, trong bài viết này tác giả dùng Hội nhập
tam giáo chỉ tính khuynh hướng của vận động, sự điều chỉnh tư tưởng của Nho,
Phật, Đạo diễn ra ở một thời điểm cụ thể, có chủ thể và mục đích xác định. Dưới
góc nhìn hạn định và trong phạm vi các hoạt động tư tưởng của nhà Nho, tác giả coi
một sự biến thiên của Nho học là hội nhập Tam giáo. Đó là sự điều chỉnh của Nho
học nhưng chưa bao quát các trước thuật của Phật giáo và Đạo gia có liên quan tới
vấn đề này. Trong bài Cơ chế kết hợp tư tưởng Tam giáo của Trịnh Tuệ trong Tam
giáo nhất nguyên thuyết của Nguyễn Kim Sơn trên tạp chí Khoa học Xã hội và
Nhân văn, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tháng 12 năm 2016. Tác
giả bài viết thông qua việc phân tích cơ chế kết hợp tư tưởng Tam giáo của Trịnh
Tuệ trên các phương diện động cơ, mục tiêu, chỗ dựa kinh điển, tâm tính học, v.v.,
để chỉ ra đặc điểm của việc hội nhập tam giáo thế kỷ XVIII nói riêng và của lịch sử
tư tưởng Việt Nam nói chung.
1.2. Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ dung thông giữa Nho, Phật,
Đạo trong tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ
1.2.1. Các công trình nghiên cứu về tư tưởng dung thông giữa Nho, Phật,
Đạo trong di sản tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm
Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về Nguyên Bỉnh Khiêm nói chung
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), “cây đại thụ tỏa bóng gần suốt cả thế kỷ
XVI” (Đinh Gia Khánh) nên không có gì khó hiểu khi ông được rất nhiều thế hệ
độc giả, nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu. Ngay từ thời trung đại, cuộc đời và thơ
văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được Đinh Thì Trung, Vũ Khâm Lân, Lê Quý Đôn,
Lê Trí Viễn, Lê Trọng Khánh, Phạm Văn Diêu, Bùi Văn Nguyên, Đinh Gia Khánh,
Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Huệ Chi, Bùi Duy Tân.
Trong công trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà thơ triết lý của Lê Trọng Khánh và
Lê Anh Trà, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1957. Trong công trình này các tác giả đã tập
trung tìm hiểu một số khía cạnh nội dung triết học qua thơ văn của Nguyễn Bỉnh
Khiêm. Triết học Nguyễn Bỉnh Khiêm gồm có một vũ trụ duy vật và biện chứng thô
sơ, một quan niệm nhân sinh theo lẽ tự nhiên, thể hiện bằng chữ “Nhân” có nhiều
yếu tố nhân văn tích cực. Đây là một trong những cuốn sách dài hơi, dày hơn 200
trang viết về một nhà thơ cổ mà sau nhiều năm đọc lại, nhiều ý tưởng trong đó vẫn
còn nguyên giá trị. Trong công trình này các tác giả đã đề cập một cách sâu sắc đến
15
nhiều vấn đề cốt yếu trong tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Bỉnh Khiêm, chỉ ra
những điểm gì là không hợp thời và những điểm gì là tiến bộ trong tư tưởng
Nguyễn Bỉnh Khiêm. Công trình đã khai thác đầy đủ những giá trị về nội dung và
hình thức còn tồn tại trong văn thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Trong các cuốn Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Lê Quý Đôn,
do Nxb Xây dựng xuất bản và cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm
Văn Sử Địa do Nxb Văn Sử Địa xuất bản, đều dành những trang trân trọng viết về
Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trong Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam chỉ nghiên cứu về
văn học chữ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Việc nghiên cứu phần thơ Nôm một
cách công phu đã cho thấy sự đóng góp của Nguyễn Bỉnh Khiêm cho sự phát triển
của thơ Nôm dân tộc được đánh giá cao, nó trở thành nguồn tư liệu tham khảo quan
trọng. Còn trong công trình Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam đã có một quan điểm
toàn diện hơn và khoa học hơn khi nghiên cứu cả phần thơ chữ Hán của Nguyễn
Bỉnh Khiêm. Những trang viết về cuộc đời và sự nghiệp của Trạng Trình, các tác
giả Nguyễn Đổng Chi và Văn Tân đã mang lại cho người đọc một hình ảnh chân
thực hơn về nhà thơ lớn của dân tộc Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Trong công trình Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1, do Nguyễn Tài Thư chủ
từ năm 1535 đến năm Nhâm Dần, niên hiệu Quang Hòa thứ hai (1542) triều Mạc Phúc
Hải. Chặng thứ ba là chặng ông xin về nghỉ ở quê nhà, từ cuối năm 1542 cho đến lúc
mất, năm 1585”. Trong Phần thứ hai của tập chuyên luận này tác giả chủ yếu tập trung
phân tích các giá trị văn học trong thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, văn chương ưu
thời mẫn thế. Trước hết tác giả giới thiệu quan niệm lý học của Nguyễn Bỉnh Khiêm,
một quan niệm tích cực về cuộc sống “Nguyễn Bỉnh Khiêm chắc hẳn đã đọc rất kỹ các
loại kinh, như kinh Phật, kinh Thái Huyền, Kinh Dịch, nhưng qua thơ văn ông để lại, ít
thấy ông bàn đến các vấn đề thế giới quan, bản thể luận, mà chỉ chuyên chú đến các
vấn đề nhân sinh quan”.
Tác giả Lê Nguyễn Lưu với công trình Nguồn suối nho học và thơ ca Bạch
vân cư sĩ, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1999. Với công trình này tác giả cũng cho chúng ta
biết thêm về khía cạnh tư duy của nhà thơ sống trong một thời đại Nho học độc tôn.
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tiếp thu và vận dụng những tri thức cổ điển như thế nào để
đứng vững trước sóng gió lịch sử, được các tầng lớp phong kiến và nhân dân kính
trọng. Tác giả của cuốn sách này cũng đã nhận xét về Nguyễn Bỉnh Khiêm: là một
con người sống bình dị chất phác giữa nông thôn mà vẫn mang phong thái siêu
17
thoát. Nguyễn Bỉnh Khiêm thấm nhuần ba nguồn suối tâm linh Nho học, Đạo học
và Phật học, phối hợp với những truyền thống dân tộc. Những nguồn suối chảy
khác dòng ấy trong các thế kỷ XV – XVII đã hợp lưu một cách khá trọn vẹn, nhuần
nhuyễn, điều động nếp sống đặc thù của giới “kẻ sĩ” Việt Nam đương thời.
Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử phát triển văn
hóa dân tộc, do Viện Khoa học xã hội và Sở văn hóa thông tin thành phố Hồ Chí
Minh – Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm phối hợp tổ chức năm 1991, nhân kỷ niệm
500 năm sinh danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1991). Kỷ yếu đã tập
hợp được 28 bài viết có chiều sâu, với nhiều tư liệu có giá trị về Nguyễn Bỉnh
Khiêm của nhiều tác giả. Các bài viết của các tác giả được phân loại thành ba phần:
trong công trình này đã đánh giá Nguyễn Bỉnh Khiêm trong một cái nhìn tổng thể
nhưng cũng hết sức cụ thể và sinh động, nghiên cứu ông với tư cách một nhà tư
tưởng trong mối dung hòa với một nhà thơ sắc sảo. Cuốn sách là một công trình mở
ra nhiều hướng nghiên cứu mới có triển vọng trong việc tìm hiểu con người và sự
nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Trong công trình Bạch vân quốc ngữ thi tập và Trạng trình Nguyễn Bỉnh
Khiêm do Nguyễn Quân biên soạn và chú thích, Nxb Sống mới, Sài Gòn, 1974.
Công trình đã đề cập đến cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm, những nội dung tư tưởng
chứa đựng trong tập thơ thể hiện lối xử thế tinh tế của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong
bối cảnh xã hội Đại Việt hết sức phức tạp đương thời. Công trình này Nguyễn Quân
đã đề cập đến năm phần: Thân thế và sự nghiệp tác giả; Thêm mấy nghi vấn về tác
giả; Xã hội thời tác giả tác phẩm; Đây bạch – Vân quốc – ngữ thi tập; Giá trị Bạch –
Vân quốc – ngữ thi tập.
Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu có các bài Triết lý và thơ Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Tạp chí Triết học, số 01 năm 1986; Về xu hướng Tam giáo đồng nguyên
trong Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh, Tạp chí Triết học số 4 năm 1986; Triết lý
nhàn dật và tự tại trong sách Nguyễn Bỉnh Khiêm - danh nhân văn hóa đã tập trung
bàn khá thú vị về lối sống nhàn, tự tại của nhà hiền triết Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Công trình Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân am thi tập của Nguyễn Khuê.
Đây là một công trình nghiên cứu có giá trị mới mẻ. Trong công trình này tác giả
khi nghiên cứu về thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tập trung vào bốn phần: tác
giả đã trình bày những nét đại cương về hoàn cảnh lịch sử, về cuộc đời, về những
tác phẩm chữ Hán, tác phẩm chữ Nôm, Sấm ký; tác giả tập trung vào khai thác tình
19