BỘ GIÁO DỤC VÀ đÀO TẠO TRƯỜNG đẠI
HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-----
----
PHAN đÌNH HÀ
GIẢI PHÁP đẨY MẠNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TRÊN đỊA BÀN HUYỆN THANH CHƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60.34.05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN TUẤN SƠN
HÀ NỘI - 2011
LỜI CAM đOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ luận văn của một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn
gốc.
Hà Nội, ngày 06 tháng 11 năm 2011
Tác giả
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
cảm ơn
i Lời
ii Mục lục
iii Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng
v
vi
1
MỞ ðẦU
1
1.1
Tính cấp thiết của đề tài
1
1.2
10
2.3
Cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới
27
3
ðẶC ðIỂM ðỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
45
3.1
ðặc điểm của địa bàn nghiên cứu
45
3.2
Phương pháp nghiên cứu
59
4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1.3
Kết quả bước đầu tổ chức thực hiện Kế hoạch thực hiện Chương
trình mục têu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 –
2020
4.2
63
Những thuận lơi và khó khăn trong xây dựng nông thôn mới ở
huyện Thanh Chương thời gian qua
76
4.2.1
Thuận lợi
76
4.2.2
Những khó khăn trong việc xây dựng nông thôn mới ở địa
phương
4.3
79
5.2
Kiến nghị
96
PHỤ LỤC
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
……………………………
101
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
XHCN
Xã hội chủ nghĩa BCH
Ban chấp hành NTM
Nông
thôn mới UBND
Ủy ban
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
……………………………
5
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
2.1
Kết quả hoạt động đào tạo trong phong trào Saemaul Udong
33
3.1
Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai từ năm 2008-2010
49
3.2
Tổng hợp các chỉ tiêu phát triển KT-XH
75
4.5
Phân loại đội ngũ cán bộ cấp huyện và xã năm 2010
82
4.6
Tổng hợp tình hình hoạt động của doanh nghiệp trên địa
bàn
huyện Thanh Chương
84
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
……………………………
6
1. MỞ đẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp, do lịch sử quá trình đấu tranh dựng
nước và giữ nước nên phần lớn dân cư nước ta sống quần tụ theo từng
dòng họ và theo phạm vi làng, xã. Cùng với văn minh lúa nước, làng (bản,
thôn, xóm…) đã trở thành nét văn hóa riêng của người Việt Nam từ muôn
đời nay. đến nay, tuy quá trình đô thị hóa đã diễn ra khá mạnh mẽ nhưng
2
vùng, địa phương khó khăn, ít tài nguyên khoáng sản và không có vị trí địa lý
thuận lợi thì vẫn phát triển chậm, đời sống của nhân dân vẫn còn nhiều khó
khăn, phân cực giàu nghèo ngày càng sâu sắc, nhất là ở nông thôn vùng sâu,
vùng xa. Một thực tế đang diễn ra là do nông thôn chậm phát triển nên áp
lực di dân từ nông thôn ra thành thị ngày càng lớn làm ảnh hưởng đến quá
trình ổn định và phát triển của các đô thị.
Trước thực trạng nêu trên, đảng và Nhà nước ta đã có nhiều
chủ trương, giải pháp để hạn chế những tác động têu cực của kinh tế thị
trường và hội nhập như triển khai thực hiện chương trình đầu tư cho các xã
đặc biệt khó khăn (Chương trình 135) và đầu tư cho các huyện nghèo
theo Nghị quyết
30a/2008/NQ-CP, ngày 27/12/2008 của Chính phủ… Các địa phương cũng đã
có nhiều cố gắng để xây dựng nông thôn mới nhưng nông thôn nước ta có
phạm vi rất rộng lớn, kinh tế của nông thôn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp
nên nhìn chung nông thôn nước ta còn rất nghèo. Cùng với đặc điểm địa
hình phức tạp, nhiều sông suối chia cắt và cách lập làng theo tập quán có từ
lâu đời nên nông thôn ta phát triển còn lộn xộn, mỗi nơi làm theo một cách,
chưa theo một chuẩn mực thống nhất nào.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về “Nông nghiệp, nông
dân và nông thôn”, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành “Bộ tiêu chí Quốc gia
về nông thôn mới” (Quyết định số 491/Qđ-TTg ngày 16/4/2009) và “Chương
trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới” tại Quyết định số 800/QđTTg ngày 06/4/2010 nhằm thống nhất chỉ đạo việc xây dựng nông thôn mới
trên cả nước. Tuy thời gian triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông
thôn mới chưa lâu nhưng các địa phương, nhất là cấp cơ sở đã bộc lộ nhiều
lúng túng, vướng mắc trong quá trình chỉ đạo thực hiện.
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1
chung
Mục
têu
Trên cơ sở đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và mô hình nông
thôn mới ở huyện Thanh Chương thời gian qua đề xuất các giải pháp chủ yếu
đẩy mạnh quá trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương thời gian tới.
1.2.2 Mục têu cụ
thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình nông thôn mới
và xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay.
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
……………………………
5
- đánh giá thực trạng mô hình nông thôn mới và quá trình xây
dựng nông thôn mới ở huyện Thanh Chương thời gian qua.
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
……………………………
6
7
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN đỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận của xây dựng nông thôn mới
2.1.1 Khái niệm về nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới
2.1.1.1 Khái niệm nông thôn mới
đã có một số diễn giải và phân tích về khái niệm thế nào là nông thôn
mới. Nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn chứ không phải là thị tứ;
đó là nông thôn mới chứ không phải nông thôn truyền thống. Nếu so sánh
giữa nông thôn mới và nông thôn truyền thống, thì nông thôn mới phải bao
hàm cơ cấu và chức năng mới (Cù Ngọc Hưởng, 2006).
Ngày 04 tháng 6 năm 2010 Thủ Tướng Chính phủ ban hành Quyết định
số 800/Qđ-TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020. Tại quyết định này, mục têu chung
của Chương trình được xác định là: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ
chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp,
dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông
thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái
được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần
của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, nông thôn mới là nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội
dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất, tnh thần
được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ
vững.
2.1.1.2 Khái niệm xây dựng nông thôn mới:
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
Sản xuất nông nghiệp cần diện tích lớn, nhất là ngành trồng trọt
như sản xuất lương thực, cây công nghiệp và trồng rừng. Do đó, nông thôn là
nơi diễn ra phần lớn các hoạt động sản xuất nông nghiệp của các quốc gia.
“Có thể nói nông nghiệp là chức năng tự nhiên của nông thôn. Chức năng cơ
bản của nông thôn là sản xuất dồi dào các sản phẩm nông nghiệp chất lượng
cao. Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông
thôn mới bao gồm cơ cấu các nghành nghề mới, các điều kiện sản xuất
nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và
xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại” (Cù Ngọc Hưởng, 2006).
2.1.3.2 Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống
Trải qua lịch sử phát triển hàng ngàn năm, các làng xóm ở nông thôn
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
……………………………
10
thường được hình thành dựa trên những cộng đồng có cùng phong tục, tập
quán, họ tộc. Người dân trong các làng xóm thường cư xử với nhau dựa trên
quan hệ huyết thống và phong tục, tập quán. “Cũng chính văn hoá quê
hương đã sản sinh ra những sản phẩm văn hoá tinh thần quý báu như lòng
kính lão yêu trẻ, giúp nhau canh gác bảo vệ, giản dị tiết kiệm, thật thà
đáng tin, yêu quý quê hương.vv.., tất cả được sản sinh trong hoàn cảnh xã
hội nông thôn đặc thù. Các truyền thống văn hoá quý báu này đòi hỏi phải
được giữ gìn và phát triển trong một hoàn cảnh đặc thù. Môi trường thành
thị là nơi có tính mở cao, con người cũng có tính năng động cao, vì thế văn
hoá quê hương ở đây sẽ không còn tính kế tục. Do vậy, chỉ có nông thôn với
đặc điểm sản xuất nông nghiệp và tụ cư theo dân tộc, dòng tộc mới là môi
trường thích hợp nhất để giữ gìn và kế tục văn hoá quê hương. Ngoài ra,
các cảnh quan nông thôn với những đặc trưng riêng đã hình thành nên màu
cực của chính tầng lớp nông dân. Hiển nhiên nói người nông dân ở đây
không phải chỉ đơn thuần là cá thể nông dân, mà phải được hiểu là các tổ
chức nông dân” (Cù Ngọc Hưởng, 2006).
2.1.5 Nguồn gốc động lực xây dựng nông thôn mới
2.1.5.1 động lực từ đô thị hóa
Nông thôn là một phần của các quốc gia, do đó, không thể giải quyết
các vấn đề của nông thôn nếu như tác riêng nó với các khu vực khác của
quốc gia. Trong các hoạt động kinh tế - xã hội của nông thôn bao giờ cũng
có mối liên hệ mật thiết với đô thị và ngược lại. Chính vì vậy, “xây dựng nông
thôn mới nếu chỉ dựa vào nguồn đầu tư từ nhà nước hay chỉ tiến hành trong
nội bộ nông thôn sẽ không tạo ra được động lực cũng như tính linh hoạt,
mà cần phải đặt nó trong bối cảnh phát triển thành thị và nông thôn đồng
hành với nhau, dựa trên những quan điểm hệ thống. Thực tế, các vấn đề về
nông nghiệp cần phải được giải quyết thông qua phát triển công nghiệp,
các vấn đề về nông dân phải giải quyết thông qua phi nông hóa, phát triển
nông thôn phải song hành cùng phát triển thành thị” (Cù Ngọc Hưởng, 2006).
2.1.5.2 động lực từ công nghiệp hóa
“Quá trình đi lên hiện đại hóa của một quốc gia cũng chính là quá trình
chuyển dịch từ nông nghiệp truyền thống sang công nghiệp hiện đại, đồng
thời cũng là quá trình người nông dân tự do chuyển đổi thân phận của mình.
Trong quá trình này, nguồn lực lao động sẽ chuyển dịch không ngừng từ nông
nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp, từ nông thôn sang thành thị, đó cũng
chính là quá trình phi nông hóa người nông dân. Giải phóng thân phận phi
nông hóa của nông dân là yêu cầu để phát triển nông thôn, đồng thời cũng là
nhu cầu tất yếu của chính bản thân người nông dân” (Cù Ngọc Hưởng, 2006).
Việc lao động nông nghiệp chuyển dịch sang các lĩnh vực phi nông
xã hội hóa cũng như tham gia vào gia công sản xuất nông sản phẩm, tổ
chức đào tạo xã viên để nâng cao tố chất cho người nông dân..vv..trong tất
cả các quá trình này, tổ chức hợp tác nông dân phát huy vai trò không thể
thay thế (Cù Ngọc Hưởng,
2006).
2.2 Quan điểm của đảng về xây dựng nông thôn
mới
2.2.1 Các quan điểm của đảng về xây dựng NTM trước đại hội
VI
Từ ngày thành lập đến nay, đảng ta luôn khẳng định tầm quan
trọng của vấn đề Nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
- đại hội đảng lần thứ III (năm 1960): Trong bối cảnh đất nước ta
đang tạm bị chia cắt thành 2 miền, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước đang ngày càng ác liệt, đại hội đảng toàn quốc lần thứ III đã xác
định: đưa miền Bắc từ nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu cá thể về tư liệu
sản xuất tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, dựa trên sở hữu toàn dân và
sở hữu tập thể... từ tình trạng kinh tế rời rạc và lạc hậu, xây dựng thành
một nền kinh tế cân đối và hiện đại. Chủ trương của đảng là: “...xây dựng
một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại, kết hợp công nghiệp
với nông nghiệp và lấy công n ghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
……………………………
10
công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp
và công nghiệp nhẹ...” (Văn kiện đại hội, Ban chấp hànhTrung ương đảng
Lao động Việt Nam, xuất bản tháng 9 – 1960, tr.182-183).