ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------
TRẦN THỊ MAI PHƢƠNG
TƢ DUY NGHỆ THUẬT TRONG
HỒI KÍ VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------
Trần Thị Mai Phƣơng
TƢ DUY NGHỆ THUẬT TRONG
HỒI KÍ VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62.22.34.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS ĐOÀN ĐỨC PHƢƠNG
Trần Thị Mai Phƣơng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................1
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................4
3. Mục đích nghiên cứu .............................................................................................7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................................7
5. Phƣơng pháp nghiên cứu......................................................................................8
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án .......................................................10
7. Cấu trúc của luận án ...........................................................................................12
Chƣơng 1 ..................................................................................................................13
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ...............................................................13
1.1. Tƣ duy nghệ thuật và tƣ duy nghệ thuật trong hồi kí ..................................13
1.1.1. Tư duy nghệ thuật ..........................................................................................13
1.1.2. Tư duy nghệ thuật trong hồi kí ......................................................................15
1.2. Tình hình sáng tác hồi kí văn học từ 1986 đến nay.......................................20
1.2.1. Vài nét về hồi kí văn học trước 1986 .............................................................20
1.2.2. Sự phát triển của hồi kí văn học từ 1986 đến nay ........................................23
1.3. Tình hình nghiên cứu hồi kí văn học từ 1986 đến nay..................................28
1.3.1. Phê bình, nghiên cứu tác phẩm hồi kí của những tác giả tiêu biểu ...........28
1.3.2. Nghiên cứu hồi kí của một thời kì, một giai đoạn hoặc một nhóm tác giả ở
Việt Nam, trong đó có giai đoạn từ 1986 đến nay ..................................................32
1.3.3. Nghiên cứu hồi kí văn học từ 1986 đến nay như những dẫn chứng để làm
sáng tỏ đặc trưng thể loại hồi kí hoặc kí trong lịch sử văn học .............................36
* Tiểu kết chƣơng 1 .................................................................................................38
Chƣơng 2 ...................................................................................................................39
TƢ DUY NGHỆ THUẬT TRONG HỒI KÍ VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN
NHÌN TỪ CÁC PHƢƠNG THỨC TRẦN THUẬT NỔI BẬT.........................111
4.1. Kết cấu đa dạng ..............................................................................................111
4.1.1. Kết cấu phân mảnh ......................................................................................112
4.1.2. Kết cấu trùng phức .......................................................................................114
4.1.3. Kết cấu xoắn kép ..........................................................................................116
4.2. Ngƣời trần thuật và giọng điệu trần thuật ..................................................120
4.2.1. Người trần thuật ...........................................................................................120
4.2.2. Giọng điệu trần thuật ...................................................................................125
4.3. Xu hƣớng giao thoa thể loại trong lối viết ...................................................137
4.3.1. Sự giao thoa giữa hồi kí với bút kí, nhật kí, chân dung văn học và tản văn ....138
4.3.2. Sự giao thoa hồi kí với tự truyện .................................................................141
4.3.3. Sự giao thoa hồi kí với tiểu thuyết ...............................................................144
* Tiểu kết chƣơng 4 ...............................................................................................146
KẾT LUẬN ............................................................................................................147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN .....................................................................................................152
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................153
PHỤ LỤC ...............................................................................................................169
(một số hình ảnh) ...................................................................................................169
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. Cb
Chủ biên
2. ĐHSP
Đại học Sư phạm
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Công cuộc Đổi mới ở Việt Nam cho đến nay đã trải qua một quãng
thời gian tròn 30 năm (1986 - 2016). Trong 30 năm đó (nếu theo quan niệm
truyền thống là đã trải qua một nửa “lục thập hoa giáp” hay một nửa “vận
hội” 60 năm - một chu kì phát triển), công cuộc Đổi mới rõ ràng đã tạo ra một
sự thay đổi, phát triển có tính bước ngoặt, căn bản, hết sức to lớn đến toàn bộ
đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,… của đất nước ta so với trước đó.
Vì vậy, như nhiều người nhận thấy, dường như đã đến lúc cần có sự tổng kết
những thành tựu, diện mạo - đặc điểm, rút kinh nghiệm và bài học của chặng
đường 30 năm nêu trên để có đường hướng cho sự phát triển đất nước một
cách toàn diện trong thời gian tiếp theo. Trên thực tế, gần đây đã có rất nhiều
hoạt động, việc làm trong nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp,… được tiến
hành để thực hiện nhiệm vụ, yêu cầu và cả hứng thú đó. Việc nghiên cứu văn
học Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Đã có nhiều hoạt động lớn nhỏ
(toạ đàm, hội thảo, seminar, diễn đàn, lễ kỉ niệm, meeting,…), nhiều công
trình nghiên cứu, bài viết, kỉ yếu… đã và đang được thực hiện để tổng kết và
đánh giá thành tựu, đặc điểm của văn học Việt Nam qua 30 năm Đổi mới. Đề
tài nghiên cứu của luận án, có thể nói, cũng nằm trong chuỗi các sự kiện, hoạt
động nghiên cứu đó và cũng mong muốn góp một phần nhỏ bé vào việc hiện
thực hoá, cụ thể hoá mục tiêu đã nêu khi chọn đối tượng khảo sát và nghiên
cứu là một thể loại của văn học Việt Nam (là hồi kí văn học - tức là các hồi kí
của nhà văn, viết về đời văn là chủ yếu) trong giai đoạn “từ 1986 đến nay”.
Sự lựa chọn này tự nó đã hàm nghĩa luận án sẽ thiên về mặt văn học sử (mặc
dù nghiên cứu “tư duy nghệ thuật”) đáp ứng nhiệm vụ, yêu cầu nghiên cứu
thuộc chuyên ngành văn học Việt Nam (hiện đại).
1
mẽ của nó có đơn thuần chỉ là sự “a dua” theo trào lưu hay thực sự là nhu cầu
tự thân của người viết? Bối cảnh lịch sử xã hội văn hoá nào đã tạo tiền đề cho
sự phát triển mạnh mẽ đó? Và quan trọng nhất là: Cái gì đóng vai trò cốt lõi
tạo nên hiện tượng này? Cái gì đã chi phối việc viết hồi kí và quy định diện
mạo, đặc điểm của chúng?... Đó là những câu hỏi nhất thiết phải được giải
đáp đối với người nghiên cứu lí thuyết và lịch sử văn học Việt Nam. Không
có điều kiện và tham vọng khảo sát và nghiên cứu toàn bộ hồi kí từ 1986 đến
nay mà chỉ quan tâm đến hồi kí văn học (do các nhà văn viết về chính kí ức
của họ là chủ yếu), nhưng đề tài với tư cách là một “nghiên cứu trường hợp”
(case-studies) cũng có có ý nghĩa góp phần lí giải các câu hỏi nêu trên
1.3. Trong các hướng tiếp cận các thể loại văn học, chúng tôi quan tâm
đến hướng tiếp cận “tư duy nghệ thuật” (của hồi kí văn học Việt Nam từ 1986
đến nay) bởi đây là khái niệm công cụ cốt lõi, toàn diện, có chiều sâu và cơ sở
lí luận vững chắc và trải qua thử thách lâu dài trong thực tiễn nghiên cứu văn
học. Nó đã được sử dụng một cách có hiệu quả các tác giả và đặc biệt là các
thể loại (thơ, tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn,…) trong những năm gần đây.
Nhiều công trình (KLTN, LvThS, LATS, sách chuyên khảo, bài báo, bài tạp
chí,…) đã đi theo hướng này và gặt hái được nhiều thành công đáng chú ý.
Hướng nghiên cứu này đã cho phép chỉ ra được những đặc trưng cơ bản nhất
của một thể loại văn học nói riêng cho đến một hiện tượng văn học nói chung
(như: tác giả, tác phẩm, thể loại, trào lưu, khuynh hướng, giai đoạn, thời
kì,…) từ thế giới quan, nhân sinh quan, quan điểm nghệ thuật cho đến các
phương diện nội dung (hình tượng nghệ thuật, chủ đề, cảm hứng,…) và
phương thức nghệ thuật (nghệ thuật tự sự, nghệ thuật trữ tình,…) phản ánh
chính tư duy nghệ thuật đó. Vậy tư duy nghệ thuật của thể loại hồi kí văn học
Việt Nam từ 1986 đến nay có những đặc điểm gì? Đặc điểm đó có gì giống và
khác với các thể loại khác cùng thời và với bản thân thể loại hồi kí văn học
Việt Nam ở các giai đoạn trước đó hay không? Xu hướng phát triển của nó ra
3
4
Còn “hồi kí văn học” được chúng tôi quan niệm là hồi kí của các nhà
văn hoặc các nhà phê bình văn học với tư cách là chủ thể viết, chủ thể trần
thuật (khu biệt với các loại hồi kí của các chính trị gia, tướng lĩnh, học giả,
nhà báo, ca sĩ, diễn viên, cầu thủ bóng đá,… chúng đơn thuần được gọi là
“hồi kí” hoặc có khi được định danh là “hồi kí cách mạng”, “hồi kí chiến
trường”, “hồi kí lịch sử”, “hồi kí chánh/chính trị”,… hoặc có khi được gọi
chệch đi là “hồi ức” để đảm bảo không bị xem là đang viết một thể loại liên
quan đến văn học nghiêm túc hoặc viết cái vốn được xem là “đặc quyền” của
người nổi tiếng, yếu nhân). Khái niệm này được chúng tôi kế thừa từ các công
trình trước đây như: Nguyễn Văn Dân [30], Đỗ Hải Ninh [150], Phạm Thị
Lan Anh [2], Nguyễn Thị Thanh Thuý [200], Nguyễn Quang Hưng [82] [83],
Lê Thị Lệ Thuỷ [201],… hoặc từ chính quan niệm của các nhà văn như Anh
Thơ, Vũ Ngọc Phan, Tô Hoài, Ma Văn Kháng,… Do chủ thể viết là như vậy
(vì thế các hồi kí này còn được gọi là “hồi kí các nhà văn”), nên các tác phẩm
hồi kí văn học sẽ có cơ sở để đảm bảo có liên quan đến văn học, có “tính văn
học” ở cả nội dung và hình thức, hay nói khác đi là có “tính chuyên nghiệp”
về lĩnh vực văn học. Về nội dung, hồi kí đó phải chủ yếu viết về cuộc đời nhà
văn, nhà lí luận phê bình văn học đó hoặc những vấn đề, đối tượng có liên
quan đến họ (viết về bạn văn, về bức tranh văn học - nghệ thuật trong quá
khứ, về đời sống văn học - nghệ thuật,…). Đó là hồi kí của những “người
trong cuộc” viết về kinh nghiệm, sự trải nghiệm của bản thân. Nói khác đi,
hồi kí đó gián tiếp hoặc trực tiếp liên quan đến các vấn đề văn học (tác giả,
tác phẩm văn học, thời đại văn học, trào lưu - khuynh hướng văn học, tiếp
nhận văn học, các vấn đề lí luận - phê bình văn học,v.v…). Về hình thức, hồi
kí văn học phải được viết bằng các phương thức, thủ pháp, ngôn ngữ mang
đậm chất văn học dù tự phát hay tự giác. Những hồi kí do các chính trị gia,
tướng lĩnh, nghệ sĩ, người lao động,… sở dĩ không được xem là “hồi kí văn
học,v.v…) (chúng tôi sẽ trở lại vấn đề phân loại kĩ hơn ở chương 1 - phần Nội
dung). Theo đó, chúng tôi sẽ tập trung vào một số hồi kí tiêu biểu như: Những
6
năm tháng ấy (Vũ Ngọc Phan), Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu hú, Bên
dòng chia cắt (Anh Thơ), Nửa đêm sực tỉnh (Lưu Trọng Lư), Cát bụi chân ai,
Chiều chiều (Tô Hoài), Nhớ lại một thời (Tố Hữu), Nhớ lại (Đào Xuân Quý),
Ba phút sự thật, Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào (Phùng Quán), Hồi kí
song đôi (Huy Cận), Từ U Minh đến Cần Thơ, Ở chiến khu 9, 20 năm giữa
lòng đô thị, Bình an (Sơn Nam), Bóng ngày qua (Quách Tấn), Núi Mộng
gương Hồ (Mộng Tuyết), Một thời để mất, Rừng xưa xanh lá (Bùi Ngọc Tấn),
Tầm xuân (Đặng Anh Đào), Cô bé nhìn mưa (Đặng Thị Hạnh), Hồi kí bà
Tùng Long (Lê Thị Bạch Vân), Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương
(Ma Văn Kháng), Hồi kí Phạm Cao Củng (Phạm Cao Củng),… trong khi vẫn
tham khảo những tác phẩm còn lại ở các mức độ khác nhau nhằm phục vụ cho
nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu của luận án.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu tổng quát của luận án là khảo sát và chỉ ra các đặc
điểm, đặc trưng, diễn biến của tư duy nghệ thuật trong hồi kí văn học từ 1986
đến nay. Mục đích nghiên cứu cụ thể là:
a. Làm rõ biểu hiện của tư duy nghệ thuật trong hồi kí văn học từ 1986
đến nay từ các phương diện: quan niệm sáng tác, nhận thức về thể loại; hình
tượng nghệ thuật; phương thức trần thuật qua đó khái quát được đặc trưng thể
loại hồi kí.
b. Nhận diện đặc điểm, quá trình phát triển và đánh giá vị trí, đóng góp
của thể loại hồi kí đối với nền văn học Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay.
c. Phác hoạ, dự đoán xu hướng phát triển của hồi kí trong văn học Việt
Nam trong tương lai góp phần tư vấn cho việc định hướng sáng tác và tiếp
nhận chúng trong đời sống văn học đương đại.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp văn học sử
Phương pháp của bộ môn văn học sử là phương pháp tiếp cận các hiện
tượng văn học sử (tác giả, tác phẩm, thể loại, trào lưu,…) bằng việc đặt chúng
8
vào bối cảnh lịch sử văn hoá xã hội đương thời với quan điểm “lịch sử - cụ
thể” và đặt trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học mà nó quy thuộc.
Trong phương pháp lớn này, chúng tôi đặc biệt phương pháp cụ thể hơn là
phương pháp văn hoá - lịch sử nhằm nghiên cứu các hiện tượng văn học trong
bối cảnh văn hoá - lịch sử cụ thể (đặc biệt là vấn đề tiểu sử, cuộc đời cũng
như hoàn cảnh ra đời của các tác phẩm văn học). Nhìn chung, phương pháp
này giúp phục dựng, trình hiện lại các hiện tượng văn học sử một cách tương
đối đầy đủ và rõ ràng, logic. Vì vậy, nó sẽ được dùng để dựng lại tiến trình
phát triển của hồi kí văn học từ 1986 đến nay với tư cách một thể loại văn học
quan trọng cũng như để lí giải các đặc điểm tư duy nghệ thuật của nó như một
hiện tượng văn học sử.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thi pháp thể loại
Phương pháp nghiên cứu thi pháp thể loại là phương pháp khảo sát và
khái quát những hiện tượng nội dung nghệ thuật có tính ổn định, lặp đi lặp lại
thành phong cách, thi pháp của các hiện tượng văn học (như quan niệm nghệ
thuật về con người, không gian - thời gian nghệ thuật, bút pháp nghệ thuật,
hình thức mang tính quan niệm,…). Phương pháp nghiên cứu thi pháp thể loại
góp phần làm rõ những đặc điểm, đặc trưng thi pháp của hồi kí văn học từ
1986 đến nay, để từ đó nhận diện và khái quát hoá được đặc trưng về “tư duy
nghệ thuật” (trên các bình diện “mã quan niệm”, hình tượng nghệ thuật và
phương thức trần thuật) của thể loại hồi kí trong giai đoạn này. Phương pháp
này do đó rất quan trọng về mặt phương pháp luận (methodology) để nghiên
cứu hồi kí văn học từ 1986 đến nay.
tác như: phân tích, tổng hợp, thống kê, phân loại, mô tả, suy luận, đặt giả
thiết, v.v... nhằm thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Với mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án mong muốn có những đóng
góp chủ yếu sau:
10
Trước hết, dựa trên những thành tựu nghiên cứu lí thuyết về tư duy
nghệ thuật, về thể loại hồi kí, luận án đưa ra quan niệm riêng về tư duy nghệ
thuật (“mã tư duy”) trong thể loại hồi kí, một thể loại có những đặc trưng
riêng, độc đáo so với các thể loại khác như thơ hay tiểu thuyết, truyện ngắn
đặc biệt là sự liên hệ gần như trực tiếp của nó với bối cảnh thời đại và ý thức
hệ, ý thức nghệ thuật, yếu tố giới,... Do vậy, luận án sẽ đưa ra một công cụ
hữu hiệu để trước tiên khảo sát thể loại hồi kí văn học và sau đó là nghiên cứu
những thông điệp tư tưởng văn hoá đằng sau nó.
Thứ hai, luận án còn góp phần phác hoạ một cách tổng quát và bản chất
quá trình phát triển của hồi kí văn học trong suốt chiều dài lịch sử hình thành
và phát triển của nó từ thời trung đại cho đến hiện đại, trong đó tập trung vào
giai đoạn phát triển đỉnh cao của hồi kí văn học là giai đoạn từ 1986 đến nay
đặt trong bối cảnh văn hoá đương thời. Luận án do đó, có được cái nhìn lịch
sử và cái nhìn tổng quát đối với thể loại hồi kí.
Thứ ba, luận án lần đầu tiên chỉ ra những đặc trưng về tư duy nghệ
thuật trong hồi kí văn học từ 1986 đến nay qua các biểu hiện khác nhau như:
các “mã quan niệm” chủ yếu, các hình tượng nghệ thuật tiêu biểu và các
phương thức trần thuật nổi bật. Từ các biểu hiện này, có thể chỉ ra những gì
đã được các tác giả quan tâm, chú trọng và cố gắng chuyển tải thông điệp về
cuộc sống. Cũng từ những phân tích - tổng hợp về tư duy nghệ thuật trong hồi
kí tư duy nghệ thuật trong hồi kí văn học từ 1986 đến nay, luận án quay trở lại
khái quát và nền tảng cho việc tìm hiểu tư duy nghệ thuật trong hồi kí văn học
từ 1986 đến nay. Đó là vấn đề “tư duy nghệ thuật và tư duy nghệ thuật trong
hồi kí”, “tình hình sáng tác hồi kí văn học từ 1986 đến nay” và “tình hình
nghiên cứu hồi kí văn học từ 1986 đến nay”. Ba vấn đề được trình bày sẽ cho
người đọc một cái nhìn tổng thể, xuyên suốt về đối tượng nghiên cứu của luận
án trước khi đi vào những vấn đề cụ thể hơn.
1.1. Tƣ duy nghệ thuật và tƣ duy nghệ thuật trong hồi kí
1.1.1. Tư duy nghệ thuật
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (tập 4), tư duy (thought) là “sản
phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não, quá trình
phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, phán đoán,
lí luận,v.v… Tư duy xuất hiện trong quá trình sản xuất xã hội của con người.
Trong quá trình đó, con người so sánh các loại tài liệu thu được từ nhận thức
cảm tính hoặc các ý nghĩ với nhau, trải qua các quá trình khái quát hoá và
trừu tượng hoá, phân tích và tổng hợp để rút ra các khái niệm, phán đoán, giả
thuyết, lí luận,…” [77, tr.701]. Có thể thấy, tư duy là một sản phẩm hoạt động
trí óc bậc cao nhất của con người thể hiện sự tiến hoá sinh học và đặc biệt là
tiến hoá xã hội. Tư duy luôn là “sự phản ánh khái quát các thuộc tính, các mối
liên hệ cơ bản, phổ biến các quy luật không chỉ ở một sự vật riêng lẻ mà còn ở
một nhóm các sự vật nhất định” [77, tr.701]. Nói khác đi, tư duy phải mang
tính khái quát và mang tính phổ biến (trên một nhóm đối tượng). Cũng theo
Từ điển bách khoa Việt Nam, tư duy là kết quả hoạt động thực tiễn của con
người nhưng đồng thời cũng có tính độc lập tương đối với thực tiễn. Điều đó
thể hiện ở mấy khía cạnh: Thứ nhất, tư duy còn chịu ảnh hưởng bởi các tri
13
thức có trước hoặc cùng thời; thứ hai, tư duy có logic phát triển nội tại và vì
vậy nhiều khi tách rời khỏi thực tiễn (cần phải được cọ xát lại với thực tiễn để
kiểm nghiệm); thứ ba, tư duy có thể tác động ngược lại thực tiễn, cải tạo hoặc
tích hiện thực của nhà văn. Vì vậy, hình tượng nghệ thuật dù phản ánh hiện
thực khách quan nhưng có tính chủ quan, mang đậm dấu ấn, cá tính của chủ
thể nghệ sĩ. Do đó, tư duy nghệ thuật ở mỗi nhà văn, mỗi thời đại có những
đặc điểm riêng độc đáo, không lặp lại. Điều này tạo nên đặc trưng riêng của
tư duy nghệ thuật ở các lĩnh vực, các chủ thể khác nhau. Hình tượng nghệ
thuật tuy xuất phát từ cuộc sống, từ hiện thực, dùng nguyên mẫu từ hiện thực
nhưng không phải là sự sao chép, mô phỏng cơ giới, trực tiếp hiện thực cuộc
sống mà sự tái tạo có sáng tạo dựa trên sự hư cấu, tái cấu trúc lại bằng các
phương thức nghệ thuật. Như vậy, tư duy nghệ thuật luôn có tính sáng tạo,
tính cá thể. Chính tính sáng tạo, tính cá thể này đã tạo ra sản phẩm là tác
phẩm nghệ thuật có sức tác động, gợi mở sự cảm thụ nghệ thuật ở người đọc.
Người đọc tiếp thu và nhận diện ra tư duy nghệ thuật của nghệ sĩ là thông qua
sản phẩm nghệ thuật này mà mỗi người lại có sự cảm thụ riêng. Thành ra, tư
duy nghệ thuật của nghệ sĩ lại biến hoá không ngừng. Mặt khác, tư duy nghệ
thuật lại chịu sự chi phối của bối cảnh xã hội, của hoàn cảnh lịch sử và của
truyền thống văn hoá, nghệ thuật nên nó lại có những đặc điểm chung tạo nên
phong cách, kiểu tư duy của mỗi thời đại, mỗi thể loại. Đây là cơ sở để chúng
tôi đặt vấn đề tìm hiểu “tư duy nghệ thuật trong hồi kí Việt Nam từ 1986 đến
nay” dựa trên những khảo sát thực tiễn sáng tác.
1.1.2. Tư duy nghệ thuật trong hồi kí
Kí “là một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học...
có quan điểm thể loại là tôn trọng sự thật khách quan của đời sống, không hư
cấu. Nhà văn viết kí luôn luôn chú ý đảm bảo cho tính xác thực của hiện thực
đời sống được phản ánh trong tác phẩm. Kí thường không có cốt truyện có
tính hư cấu. Sự việc và con người trong kí phải xác thực hoàn toàn, có địa chỉ
hẳn hoi. Đó là vì kí dựng lại những sự thật đời sống cá biệt một cách sinh
15
động, chứ không xây dựng các hình tượng mang tính khái quát. Tính khái
chất của kí là phản ánh sự thật (khách quan) hay có tính chủ quan (tự biểu
hiện), quyết định mức độ hư cấu (tuỳ theo mục đích viết, bối cảnh viết,…), nó
cũng cho phép giải thích các loại kí giả tưởng như kiểu kí huyền ảo, kí tưởng
tượng,... Với tư cách là “loại hình diễn ngôn” kí thực ra mang đậm tính chủ
quan (do sự tương tác giữa các yếu tố: quyền lực, tri thức,… tạo nên hành
động viết kí) nhưng lại mang một cái “lốt”, cái “vỏ” là phản ánh sự thật; hoặc
giả nó luôn muốn hướng tới “phản ánh” sự thật nhưng không bao giờ thoát
khỏi sự chi phối của những nhân tố chủ quan và khách quan khiến cho mục
đích đó không bao giờ đạt được ở mức độ tuyệt đối. Kí cũng như các loại văn
bản diễn ngôn khác là sản phẩm được tạo ra dựa trên sự tương tác giữa mục
đích, động cơ, ý chí của quyền lực, khả năng của tri thức,… Nguyễn Thị
Ngọc Minh trong LATS Kí như một loại hình diễn ngôn đã chỉ ra một số mã
nghệ thuật của loại hình kí là: mã thể loại với tư cách là “đặc trưng của văn
học kí” (bao gồm các mã nhỏ hơn là: mã sự thật - ngôn ngữ sự thật (cách thức
kí dùng các loại phương thức, phương tiện - ngôn từ nghệ thuật để tạo ra ấn
tượng về “sự thật”) mã nghệ thuật - lớp tu từ của sự thật và “mã tư tưởng hệ”
(tức ảnh hưởng của tư tưởng hệ đến cách viết kí hay cách tạo diễn ngôn kí)
[130, tr.35-120]. Như vậy, sự thật trong kí cũng chỉ là một cái “mã” chứ
không phải chân lí khách quan, và cái mã đó lại chịu ảnh hưởng lớn bởi “tư
tưởng hệ” và đằng sau đó là hàng loạt những tác nhân khác. Nguyễn Thị Ngọc
Minh không khái quát tất cả những mã trên bằng một cái tên chung là mã gì,
nhưng theo chúng tôi có thể gọi chúng là những “mã quan niệm”, bởi những
cái mã đó hàm chứa các quan niệm nghệ thuật về việc viết kí (nói khác đi là
quan niệm nghệ thuật về loại hình). Mặc dù còn có điểm cần phải tiếp tục
thảo luận (như liệu có nên có một sự hoài nghi thường trực, tuyệt đối đối với
17
sự thật trong hồi kí như thế hay không? Và còn có những “mã” khác nữa hay