BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
------o0o-----
LUẬN VĂN THẠC SĨ
GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG RỬA TIỀN QUA
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng
VŨ THỊ DIỆU HỒNG
Hà Nội - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
------o0o-----
LUẬN VĂN THẠC SĨ
GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG RỬA TIỀN QUA
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM
Ngành: Tài chính – Ngân hàng – Bảo hiểm
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
rửa tiền, Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, đã giúp đỡ nhiệt tình trong việc cung cấp
số liệu cần thiết cho đề tài tác giả đang nghiên cứu.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, các đồng nghiệp làm việc
tại Ngân hàng HSBC Việt Nam, chi nhánh Hà Nội, nơi tác giả đang công tác, đã tạo
điều kiện, hỗ trợ nhiệt tình giúp tác giả có cái nhìn chính xác hơn về thực tiễn và
cung cấp số liệu cần thiết cho đề tài.
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành về sự khuyến khích, quan
tâm và tạo điều kiện của những người thân trong gia đình, cũng như các bạn cùng
lớp cao học K22B, đã tạo động lực to lớn để tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu
này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 04 năm 2017
Tác giả luận văn
Vũ Thị Diệu Hồng
5
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT
TIẾNG ANH
TIẾNG VIỆT
The Asian development
KYC
force on money
laundering
Federal bereau of
investigation
International monetary
fund
Know your customer
NHNN
NHTM
PEP
Political exposure
persons
TTCK
UAR
Unusual activity report
WB
World bank
khách hàng
Lực lượng đặc nhiệm tài
chính về chống rửa tiền
Cục điều tra liên bang Hoa
động của nó đến nền kinh tế xã hội. Bên cạnh đó cũng đưa ra được quy trình và các
phương thức rửa tiền hiện nay và các kinh nghiệm quý báu từ một số quốc gia đã
đạt được những thành công nhất định trong cuộc chiến chống rửa tiền này.
Thứ hai, luận văn đã phân tích được thực trạng rửa tiền và công tác phòng
chống rửa tiền tại Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng tại Việt Nam nói
riêng trong thời gian vừa qua. Thông qua đó, luận văn đưa ra được những tồn tại
đang diễn ra trong công tác phòng chống rửa tiền cần phải giải quyết triệt để trong
thời gian tới.
Cuối cùng, luận văn đã dựa vào tình hình thực tế và những tồn tại đã tìm hiểu
kĩ bên trên để đưa ra các nhóm giải pháp dành cho các đối tượng khác nhau trong
công cuộc phòng chống rửa tiền đó là: Nhà nước, Ngân hàng nhà nước và ngân
hàng thương mại.
Những điểm mới của đề tài tác giả đã nghiên cứu là:
- Luận văn đưa ra những vấn đề lý luận và thực tiễn về rửa tiền và phòng
chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng của Việt Nam
- Thông qua việc nghiên cứu kĩ thực trạng hoạt động phòng chống rửa tiền của
hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung và ngân hàng HSBC Việt Nam nói riêng,
tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động phòng chống
rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam qua ba nhóm đối tượng cụ thể ở ba vị trí
khác nhau trong cuộc chiến chống rửa tiền này.
8
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động ngân hàng ngày nay, trước xu thế hội nhập kinh tế thế giới, không
những chịu áp lực về kinh tế mà còn chịu áp lực ngày càng gia tăng của các tội
phạm liên quan đến hoạt động ngân hàng, trong đó nổi bật nhất là tội phạm rửa tiền.
chống hoạt động rửa tiền để chung sức với Nhà nước trong cuộc chiến đấu này. Với
mong muốn đóng góp các ý kiến vào cuộc đấu tranh chống rửa tiền đầy gian khó
này, nhằm từng bước làm ổn định kinh tế xã hội, làm trong sạch hệ thống tài chính
của nước nhà, tác giả mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG
RỬA TIỀN QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM”
2. Tình hình nghiên cứu
Thời gian gần đây, Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về rửa tiền
tại một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Có thể kể đến
các công trình nghiên cứu như:
- Luận văn Cử nhân kinh tế: “Rửa tiền và chống rửa tiền – hiện tượng, giải
pháp của các nước trên thế giới và Việt Nam” năm 2003 của tác giả: Nguyễn Thị
Thu Trang, Đại học Ngoại Thương Hà Nội.
Luận văn này đã phân tích được về hiện tượng rửa tiền và hoạt động phòng
chống rửa tiền của một số nước trên thế giới trong khoảng thời gian mà hành vi rửa
tiền và hoạt động phòng chống rửa tiền chưa thực sự phổ biến và được nhiều người
biết đến tại Việt Nam. Đó là một ưu điểm rất lớn của luận văn. Từ việc phân tích
bản chất vấn đề, nghiên cứu thực trạng hoạt động, tác giả đã cố gắng phân tích từ
các giải pháp của các nước phát triển trên thế giới, ứng dụng vào Việt Nam. Tuy
nhiên, các giải pháp chưa thực sự hiệu quả và cụ thể với nền kinh tế Việt Nam nói
chung và hệ thống ngân hàng tại Việt Nam nói riêng.
-
Luận văn Cử nhân kinh tế: “Hoạt động phòng chống rửa tiền ở Mỹ và bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam” năm 2010 của tác giả: Nguyễn Thị Kim Oanh, Đại học
Ngoại Thương Hà Nội.
Luận văn này đã nêu rõ được thực trạng về hoạt động phòng chống rửa tiền ở
Mỹ, qua đó đưa ra được các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Nhưng luận văn
chưa nêu rõ được các bài học kinh nghiệm có tính ứng dụng cao cho ngành ngân
hàng mà chỉ nói chung chung về bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nói chung
tác giả nhận thấy đề tài của mình không trùng lặp với các kết quả nghiên cứu khác.
Hơn nữa, qua việc nghiên cứu thông qua thực tế phòng chống rửa tiền của ngân
hàng TNHH MTV HSBC Việt Nam nơi tác giả đang công tác, tác giả muốn đưa ra
những bài học và giải pháp thiết thực cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam
trong thời gian tới.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
11
Trên cơ sở những lý luận cơ bản về rửa tiền và phòng chống rửa tiền, luận văn
nhằm mục tiêu phân tích thực trạng hoạt động phòng chống rửa tiền qua hệ thống
ngân hàng Việt Nam để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt
động này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: hoạt động phòng chống rửa tiền qua hệ thống
ngân hàng tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: nghiên cứu tại hệ thống ngân hàng Việt Nam từ
năm 2013 đến năm 2016.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm
tận dụng được hết các tính ưu việt của từng loại phương pháp. Cụ thể là phương
pháp thống kê, phân tích, phương pháp tổng hợp dữ liệu thứ cấp...
6. Kết cấu của luận văn
Đề tài nghiên cứu được trình bày thành 3 phần:
-
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ RỬA TIỀN VÀ PHÒNG CHỐNG
RỬA TIỀN QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
1.1.
Tổng quan về rửa tiền:
Trước khi đi sâu về tìm hiểu các biện pháp phòng chống rửa tiền, chúng ta cần
tìm hiểu thế nào là rửa tiền và tại sao chúng ta lại cần phòng chống rửa tiền. Vì thế
trong phân mục này tác giả sẽ cố gắng đưa ra cho bạn đọc một cái nhìn khái quát
nhất về thế nào là rửa tiền, đặc điểm của hoạt động rửa tiền và những hậu quả mà
nạn rửa tiền mang lại.
1.1.1. Định nghĩa về hoạt động rửa tiền.
Rửa tiền là khâu cuối cùng và quan trọng nhất trong những hoạt động phạm
pháp nhằm đem lại những lợi nhuận kếch xù. Tội phạm tài chính bao gồm nhưng
không giới hạn: Hối lộ và tham nhũng, rửa tiền, tài trợ khủng bố, tội phạm có tổ
chức, buôn người, tài trợ vũ khí hủy diệt hàng loạt, trốn thuế và buôn bán bất hợp
pháp như ma túy. Dấu hiệu rửa tiền đã có từ 4000 năm trước Công Nguyên: các
thương nhân Trung quốc đã che giấu tài sản thực có của mình để tránh bị phát hiện
và sung công. Tuy nhiên phải đến tận thế kỷ XX thì thuật ngữ “rửa tiền” mới được
sử dụng rộng rãi. Lần đầu tiên xuất hiện trên báo chí Mỹ vào năm 1973 trong vụ bê
bối tài chính Watergate nổi tiếng nước Mỹ, nhưng phải đợi 5 năm sau đó thuật ngữ
“rửa tiền” mới chính thức được sử dụng trong một số văn bản pháp lý của tòa án
Mỹ. Thuật ngữ này trở nên phổ biến trong những năm gần đây bởi tính phổ biến và
ảnh hưởng sâu rộng của chúng.
Rửa tiền được hiểu một cách chung nhất là hành vi phạm tội hoặc cố tình
phạm tội để che giấu hoặc ngụy trang thông tin xác định của các khoản thu có được
một cách phi pháp, để chúng tỏ ra là có nguồn gốc hợp pháp. Rửa tiền là cách thức
tiến hành xử lý các khoản thu được từ hoạt động bất chính hay tiền “bẩn” thông qua
một loạt các giao dịch, bằng cách này tiền sẽ được “rửa sạch” để trông có vẻ là các
-
tài sản có được từ hành vi phạm tội, hoặc
Có được, chiếm hữu hoặc sử dụng tài sản khi tại thời điểm tiếp nhận nó đã biết rằng
tài sản này có được từ hành vi phạm tội.”
Theo Tổ chức chống rửa tiền quốc tế - FATF (Finance Action Task Force):
Rửa tiền là việc giúp đỡ đối tượng phạm pháp lẩn tránh sự trừng phạt của pháp luật;
việc có ý che giấu nguồn gốc, bản chất, việc cất giấu, di chuyển hay chuyển quyền
sở hữu tài sản phạm pháp; việc cố ý mua, sở hữu hay sử dụng tài sản phạm pháp.
Theo Mục 1 Điều 3 của Nghị định số 74/2005/NĐ-CP Ngày 07/06/2005 của
Chính Phủ về phòng, chống rửa tiền: “Rửa tiền là hành vi của cá nhân, tổ chức tìm
cách hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có thông qua các hoạt động:
Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào một giao dịch liên quan đến tiền, tài sản do
phạm tội mà có;
Thu nhận, chiếm giữ, chuyển dịch, chuyển đổi, chuyển nhượng, vận chuyển, sử
dụng, vận chuyển qua biên giới tiền, tài sản do phạm tội mà có;
Đầu tư vào một dự án, một công trình, góp vốn vào một doanh nghiệp hoặc tìm
cách khác che đậy, ngụy trang hoặc cản trở việc xác minh nguồn gốc, bản chất thực
15
sự hoặc vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản do phạm
tội mà có”.
Vậy chúng ta có thể đặt câu hỏi: Những đối tượng nào tham gia vào hành vi
rửa tiền này? Câu trả lời đơn giản nhất là bọn tội phạm. Nhưng trên thực tế, câu trả
cũng bị trở thành tội phạm rửa tiền. Đối tượng cuối cùng bị coi như tội phạm rửa
tiền chính là những người lên kế hoạch giúp bọn tội phạm đưa ra các phương thức,
kich bản rửa tiền; cho dù họ không hề tham gia vào kế hoạch đó. Ví dụ như một kế
toán, một nhân viên ngân hàng, một tư vấn tài chính có thể gợi ý cho bọn rửa tiền
một ý tưởng để trốn thuế thì chính những người này cũng bị coi là tội phạm rửa
tiền.
Rửa tiền là “chuyển trốn tư bản” hay còn gọi là “vốn bay” (flight capital).
Flight capital là vốn được rút một cách cấp tốc khỏi một nước. Rửa tiền còn được
hiểu là “tiền nóng”, là tiền được chuyển từ một địa điểm này đến một địa điểm khác
có thể do sự lo ngại về các chính sách của chính phủ, hoặc do sự mất lòng tin vào
chính phủ khi tại nước đó xảy ra những biến động về kinh tế, chính trị. Liên quan
trực tiếp việc rửa tiền, đó là Smurfing (Smurf). Smurf là những nhân vật giúp
chuyển tiền từ một tổ chức này sang tổ chức khác, hoặc từ quốc gia này sang quốc
gia khác. Hoạt động của các Smurf thường liên quan đến người cầm đầu, gọi là
Papa Smurf, người trực tiếp chỉ đạo các Smurf gửi tiền thu được từ buôn bán ma túy
tại các ngân hàng với số lượng nhỏ hơn số lượng tối thiểu mà các tổ chức tài chính
được yêu cầu phải báo cáo.
Vậy lại một câu hỏi nữa được đặt ra là lý do gì khiến bọn tội phạm cần phải
rửa tiền? Theo thống kê trên thực tế có ba loại tội phạm cơ bản. Thứ nhất là tội
phạm vì tình hay vì danh dự, thứ hai là tội phạm phá hoại mang tính bạo lực và cuối
cùng là tội phạm kinh tế. Thực tế đa số là tội phạm kinh tế, chúng phạm tội vì tiền.
Đối tượng này có hai lý do để phạm tội: một là do bị kích động, tức là chúng muốn
chứng minh rằng chúng có thể làm được việc đó và bỏ trốn ngay sau khi phạm tội;
hai là vì cho rằng nếu phạm tội thì sẽ có nhiều tiền hơn là bằng cách nỗ lực kiếm
tiền đàng hoàng theo đúng pháp luật. Sau khi kiếm được tiền thông qua việc phạm
tội, bọn chúng sẽ có ba mục đích sử dụng tiền: trực tiếp đưa vào một vụ phạm tội
khác, gửi tiết kiệm để chứng minh nguồn gốc sạch của đồng tiền và trực tiếp đưa
tiền sạch vào các kế hoạch đầu tư hợp lệ. Hoạt động rửa tiền không chỉ xảy ra ở các
quốc gia có Luật Bí mật ngân hàng; có những quy định về tài chính, luật pháp lỏng
lẻo; các quan chức, nhân viên của các tổ chức tín dụng dễ bị mua chuộc… mà rửa
này càng ngày càng đa dạng ngành nghề như luật sư, người giao dịch chứng khoán,
người mua bán bất động sản, cố vấn thuế, kế toán,… Càng ngày cỗ máy này càng
biến tướng và xâm nhập vào nhiều lĩnh vực kinh doanh, ngành nghề có uy tín trong
xã hội như các ngân hàng lớn, các hiệp hội thể thao, các cơ quan văn hóa, thậm chí
18
là các tổ chức từ thiện. Việc đó khiến cho việc nhận biết và phát hiện hành vi phạm
tội càng ngày càng trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.
Bên cạnh đó, các nước trên thế giới trong những năm gần đây tham gia hội
nhập với tốc độ nhanh chóng, tiến độ mở cửa kinh tế đã tăng vọt trong thời gian
ngắn. Các thị trường tài chính đặc biệt là thị trường vốn trở nên thông thoáng hơn,
nên số lượng tiền lưu hành toàn cầu đã tăng từ 6.800 tỷ USD năm 1990 lên đến
19.900 tỷ USD năm 2005. Có thể thấy càng xuất hiện nhiều loại hình tài chính thì
càng có nhiều cơ hội cho bọn tội phạm rửa tiền hợp thức hóa nguồn gốc cho những
đồng tiền phi pháp.
Một khía cạnh nữa là sự cạnh tranh thu hút vốn giữa các quốc gia và các công
ty phát hành chứng khoán, các ngân hàng và các định chế tài chính trung gian khác
ngày càng trở nên căng thẳng và khó khăn. Hậu quả sẽ có những công ty chứng
khoán hoặc ngân hàng sẵn sàng nhận những số tiền lớn mà bọn tội phạm cần rửa mà
không cần quan tâm đến nguồn gốc của chúng có hợp pháp hay không.
Ngày nay chúng ta đang sống và làm việc trong một thế giới vô cùng hiện đại
và công nghệ thông tin được phát triển vượt bậc. Mạng Internet phát triển không
ngừng là cơ hội rất lớn cho các giao dịch qua mạng phát triển theo. Rất nhiều trang
web thương mại cho phép con người tiến hành giao dịch và thanh toán mà không
cần phải cung cấp các thông tin cá nhân. Điều này càng dẫn đến việc các cơ quan
chức năng khó lòng tìm ra dấu vết của bọn tội phạm. Có thể thấy được việc rửa tiền
qua mạng Internet đang diễn ra dễ dàng và phổ biến mà ít khi để lại dấu vết.
Nói tóm lại, nạn rửa tiền đang ngày càng lan rộng trên phạm vi toàn thế giới,
tối thiểu cần có giấy tờ chứng minh nguồn gốc. Ngoài ra còn có các thủ đoạn khác
như mua các hàng hóa xa xỉ đắt tiền, chuyển lậu tiền ra nước ngoài...
- Giai đoạn 2: Phân loại (chia nhỏ) (layering): Quá trình này chia tách nguồn
tiền bất hợp pháp khỏi nguồn gốc của nó bằng cách sử dụng một loạt các giao dịch
tài chính để làm "trong sạch" đồng tiền một cách hợp pháp. Tại thời điểm này, các
khoản tiền, chứng khoán hoặc hợp đồng bảo hiểm được chuyển đổi hoặc chuyển
sang các tổ chức khác nhằm tiếp tục tách chúng ra khỏi nguồn gốc phạm tội. Những
khoản tiền này cũng có thể được chuyển đi dưới bất kỳ một dạng công cụ có thể
chuyển nhượng cho người khác để lấy tiền như séc, lệnh chuyển tiền… ở nhiều
nước và vùng lãnh thổ khác nhau. Hàng ngàn thao tác nghiệp vụ được thực hiện làm
cho đồng tiền được chuyển dịch khắp nơi, quay vòng nhiều lần để xóa đi dấu vết tội
20
phạm, cắt đứt một cách giả tạo mối liên hệ giữa tổ chức tội phạm và tài sản. Những
kẻ rửa tiền cũng có thể ngụy trang việc chuyển tiền dưới hình thức thanh toán tiền
cho hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc chuyển kinh phí vào một công ty trá hình. Bọn rửa
tiền cũng thường cố gắng che giấu đầu mối của số tiền lớn qua các hoạt động phạm
pháp muốn rửa những số tiền lớn thường tìm đến các quốc gia có hệ thống luật
doanh nghiệp thông thoáng, hệ thống pháp luật về bảo mật ngân hàng ít khắc khe
hoặc những quy định về phòng chống rửa tiền còn lỏng lẻo để thành lập các công ty
phục vụ cho hoạt động rửa tiền Các sòng bạc cũng trở thành nơi lý tưởng để rửa tiền
vì tại một số nước việc kinh doanh sòng bạc không bị cấm, các sòng bạc lại có thể
chấp nhận tiền mặt sử dụng nhiều. Khi thắng bạc, bọn tội phạm dễ ràng rút séc tại
các ngân hàng của sòng bạc đó và số tiền thắng bạc cũng có thể được coi là hợp
pháp.
- Giai đoạn 3: Hòa nhập (Intergration): Đây là giai đoạn cuối cùng trong quy
trình “rửa tiền”. Tiền bẩn được hòa nhập vào trong nền kinh tế chính thống. Sau khi
tiền “bẩn” trở nên tương đối “sạch” thì bọn tội phạm bắt đầu đầu tư một cách hợp
quan tâm đến nguồn gốc lấy những đồng tiền hoặc thẻ casino được sử dụng chung
tại các điểm đó. Bọn tội phạm có thể dùng cách này để chuyển những đồng tiền phi
pháp của chúng sang thẻ như vậy rồi dùng ngay những thẻ ấy để đổi thuốc phiện ,
ma túy với những tên trùm mua bán ma túy hoặc chờ một thời gian sau đổi thành
các séc tại chính sòng bạc đó, và số séc này có thể được coi là hợp pháp.
-
Rửa tiền qua các công ty bình phong, công ty vỏ bọc (shell companies and trust):
Các công ty bình phong và các công ty vỏ bọc là các thực thể hợp pháp thường
được thành lập cho các mục đích kinh doanh hoàn toàn hợp pháp. Nhưng các thực
thể này được phép giấu các thông tin về quyền sở hữu, các thông tin chi tiết về tình
hình tài chính do đó mà tội phạm đã tận dụng được hình thức kinh doanh này để rửa
tiền. Công ty “bình phong” là một thực thể được thành lập hợp pháp, nhưng hoạt
động của công ty không nhằm thực hiện các chức năng vốn có mà nhằm mục đích
rửa các nguồn tiền bất chính. Công ty “vỏ bọc” là một thực thể được thành lập hợp
pháp tại một quốc gia nhưng hoạt động chính của chúng lại được tiến hành tại quốc
gia hoặc vùng lãnh thổ khác.Tội phạm sử dụng các công ty này để trộn lẫn các
nguồn tiền phi pháp với tiền hợp pháp của công ty hoặc sử dụng công ty để chuyển
tiền qua lại với nhau nhằm tách số tiền có được từ hoạt động bất hợp pháp ra xa nơi
chúng thực hiện hành vi phạm tội và nhằm gây khó khăn cho các cơ quan thực thi
pháp luật trong việc dựng lại các giao dịch tài chính hoặc thu hồi tài sản phạm tội.
-
Rửa tiền qua thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán (TTCK) là một trong
những thị trường có tốc độ phát triển khó dự đoán, dễ đi từ sự phát triển quá nóng
sang đóng băng. Do vậy, nhiều ý kiến cho rằng, thị trường luôn có luồng tiền lớn đổ
vào, đây là kẽ hỡ để tội phạm lợi dụng rửa tiền. Đối với TTCK, mỗi ngày, khách
đường hàng không. Đặc biệt việc chuyển tiền tại các khu vực biên giới giữa các
nước diễn ra rất nhiều. Thực tế cho thấy tại các khu vực cửa khẩu còn xuất hiện
những đường hầm để chuyển tiền, rất thuận tiện cho việc qua mặt các cơ quan chức
năng.
-
Rửa tiền qua kênh chuyển tiền “chợ đen” (informal transfer value systems): Đây là
một kênh chuyển tiền đã có từ rất lâu và chủ yếu dựa vào lòng tin cũng như uy tín
của các bên. Lúc ban đầu, đây là một hình thức chuyển tiền hợp pháp phục vụ
23
những cộng đồng nhỏ thường xuyên giao dịch với nhau. Một số kênh chuyển tiền
được coi là trung tâm chuyển tiền như Phoe Kuen của Thái Lan, Hundi ở Nam Á,
Fei Chi’en của Trung Quốc. Bọn tội phạm rửa tiền thường xuyên dùng kênh này để
rửa, chuyển tiền, tài sản phạm tội vì chúng ít minh bạch, chi phí cho các phi vụ này
thường rất thấp và hình thức này thì xuất hiện ơ những nơi mà công cụ tài chính
hiện đại chưa có, hoặc là khó sử dụng. Thực tế chỉ cần trong vài giờ đồng hồ là một
giao dịch được thực hiện thành công.
-
Rửa tiền qua hệ thống thanh toán trực tuyến: Cùng với sự bùng nổ mang tính toàn
cầu của mạng Internet, việc phát triển những dịch vụ thanh toán mới và tân tiến đã
đáp ứng được nhu cầu thanh toán nhanh chóng và thuận tiện cho các thương gia.
Tuy nhiên bọn tội phạm tranh thủ những kẽ hở của pháp luật tại một số nước để
lách luật, tiến hành rửa tiền xuyên quốc gia. Trong giai đoạn thứ hai là giai đoạn
phân loại, chia nhỏ thì đây chính là hình thức thuận tiện nhất. Thực tế có rất nhiều
nhà cung cấp các dịch vụ thanh toán trực tuyến không để lộ các thông tin cá nhân
chỉ cho phép thanh toán giữa các ngân hàng nội địa với nhau mà không tiếp nhận
thanh toán trực tiếp giữa các ngân hàng quốc tế với nhau nếu như ngân hàng đó
không có chi nhánh hay đại lý ở nước kia. Chính điều này cũng gây trở ngại đôi chỗ
cho bọn tội phạm muốn tiến hành rửa tiền xuyên lục địa. Nhưng trong những năm
gần đây, kiểu thanh toán truyền thống đã được chuyển đổi sang kiểu thanh toán điện
tử cùng với sự phát triển như vũ bão của hệ thống Internet Banking tại các ngân
hàng đã mang đến cho bọn tội phạm nhiều cơ hội hơn trong việc rửa tiền. Các ngân
hàng trên toàn thế giới với những thay đổi chóng mặt về công nghệ đã có thể dễ
dàng kết nối với nhau, khách hàng có thể truy cập vào tài khoản qua mạng, điều này
cũng giúp cho tội phạm có cơ hội thực hiện các giao dịch rửa tiền dễ dàng hơn.
1.1.3. Hậu quả của vấn nạn rửa tiền
Rửa tiền không chỉ là vấn đề của các thị trường tài chính hàng đầu thế giới mà
ngay cả các quốc gia đang trong quá trình hội nhập vào hệ thống tài chính quốc tế
cũng không tránh khỏi. Đặc biệt khi các thị trường mới nổi mở cửa nền kinh tế và
lĩnh vực tài chính thì họ dể dàng trở thành mục tiêu của các hoạt động rửa tiền. Nói
cách khác rửa tiền là hành động gây vẩn đục nền kinh tế. Rửa tiền có thể tàn phá
thành quả kinh tế của một quốc gia. Bằng những thủ đoạn tinh vi, các băng đảng tội
phạm tìm cách hợp pháp hóa tiền và tài sản có nguồn gốc từ tội phạm của mình những đồng tiền bất chính một "nguồn gốc sạch sẽ". Những hoạt động này đã gây
ra những ảnh hưởng tiêu cực cho nền kinh tế vĩ mô nói chung và lĩnh vực tài chính
25
nói riêng. Dưới đây, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu những hậu quả cụ thể của nạn rửa
tiền:
1.1.3.1.
Các thị trường kinh tế mới nổi rất dễ bị tổn thương