Biểu tượng lũy tre giếng nước sân đình trong cấu trúc làng truyền thống châu thổ sông hồng (luận văn thạc sỹ) - Pdf 52

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------

VŨ THỊ HẰNG

BIểU TƢợNG LŨY TRE – GIếNG NƢớC – SÂN ĐÌNH
TRONG CấU TRÚC LÀNG TRUYềN THốNG
CHÂU THổ SÔNG HồNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC

Hà Nội - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------

VŨ THỊ HẰNG

BIểU TƢợNG LŨY TRE – GIếNG NƢớC – SÂN ĐÌNH
TRONG CấU TRÚC LÀNG TRUYềN THốNG
CHÂU THổ SÔNG HồNG

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học
Mã số: 60220113

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Mai Minh Tân

Hà Nội - 2017



MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 4
1. Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài ............................................ 4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................... 6
3. Mục đích nghiên cứu và giới hạn nghiên cứu ................................................ 9
4. Phƣơng pháp luận nghiên cứu và cơ sở tƣ liệu............................................ 13
5. Những đóng góp cơ bản của luận văn .......................................................... 15
6. Cấu trúc luận văn ........................................................................................... 16
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CƠ TẦNG TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CHÂU THỔ
SÔNG HỒNG VÀ LÀNG TRUYỀN THỐNG CỦA NÓ .................................... 17
1.1Cơ tầng tự nhiên ............................................................................................. 17
1.2Cơ tầng xã hội ................................................................................................. 19
1.2.1Cơ tầng xã hội thời phong kiến .................................................................. 19
1.2.2Cơ tầng xã hội Việt Nam hiện nay ............................................................. 20
1.2.3Cấu trúc sản xuất ....................................................................................... 20
1.3Đặc trƣng văn hóa vùng ................................................................................. 23
1.4Giới thiệu về làng truyền thống châu thổ sông Hồng .................................. 25
Tiểu kết chƣơng 1 ................................................................................................ 26
CHƯƠNG 2. CẤU TRÚC LÀNG TRUYỀN THỐNG CHÂU THỔ SÔNG HỒNG.... 27
2.1Quá trình hình thành làng châu thổ sông Hồng .......................................... 27
2.2Các hình thức quần cƣ tạo thành làng.......................................................... 29
2.3Cấu trúc làng truyền thống châu thổ sông Hồng ......................................... 30
2.3.1Cấu trúc không gian ................................................................................... 30
2.3.2Cấu trúc xã hội ........................................................................................... 32
2.4Phân chia làng truyền thống châu thổ sông Hồng ....................................... 36
2.4.1Phân chia theo nghề nghiệp ....................................................................... 36
2.4.2Phân chia theo vị trí chính trị, thứ bậc xã hội và tuổi tác ......................... 37
2.5Đặc trƣng làng truyền thống châu thổ sông Hồng ...................................... 40

4.2.1. Lịch sử hình thành và tính ích dụng của giếng. ....................................... 71
4.2.2. Tính biểu tượng của giếng làng ............................................................... 74
4.3. Đình làng từ tính ích dụng đến tính biểu tƣợng ........................................ 78
4.3.1. Nguồn gốc đình làng ................................................................................ 78

2


4.3.2. Cảnh quan, kiến trúc Đình làng ............................................................... 79
4.3.3. Chức năng đình làng ................................................................................ 85
4.4. Hiện trạng và tƣơng lai ................................................................................ 94
4.4.1Tính tiếp biến văn hóa của các biểu tượng ................................................ 94
4.4.2Hiện trạng và tương lai. ............................................................................. 95
4.4.3Tính tích cực và tiêu cực của những tiếp biến. .......................................... 97
4.4.4Đề xuất giải pháp. ...................................................................................... 98
Tiểu kết chƣơng 4 .............................................................................................. 100
PHẦN KẾT LUẬN ................................................................................................ 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 107
PHỤ LỤC

3


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài
1.1 Ý nghĩa khoa học
Sau một thời kỳ dài của lịch sử, Việt Nam gần như chỉ quan hệ trong phạm
vi các nước xã hội chủ nghĩa; và đến khi thống nhất giữa hai miền Nam - Bắc cho
tới cuối những năm 1980, ở Việt Nam đã bắt đầu thực hiện công cuộc Đổi mới một
cách toàn diện về mọi mặt, trong đó có các chính sách mở cửa đất nước. Tuy nhiên,

để làm sáng tỏ hơn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, định vị bản sắc văn hóa
Việt và từ đó giúp ích cho quá trình hội nhập khu vực và quốc tế.
1.2 Giá trị thực tiễn
Từ làng xã, lên huyện là cả một hệ thống nằm trong một sách lược, một
chiến lược chung của Đảng và Chính phủ về con đường giữ gìn và phát triển bản
sắc dân tộc, bảo lưu những gì mang tính giá trị, mang tính truyền thống, để từ đó
hội nhập và phát triển; và nhờ vậy đã tạo thành động lực mang tính nội sinh của xã
hội Việt Nam để phát triển. Làng xã luôn luôn là điểm khởi đầu và cũng là điểm kết
thúc trong cấu trúc xã hội từ xưa đến nay. Tuy nhiên, trong bất kỳ một xã hội nào
thì tế bào đầu tiên, hạt nhân đầu tiên của xã hội cũng chính là gia đình. Nhưng tùy
theo từng dân tộc, từng quốc gia, từng khu vực, từng cấu trúc xã hội khác nhau mà
xác định nền tảng của trong xã hội đó là cái gì. Với điều kiện tự nhiên cùng sự biến
thiên trong nhiều thời kỳ, nhiều giai đoạn, làng xã chính là nền tảng để cấu trúc nên
xã hội Việt Nam từ lịch sử cho đến hiện tại. Luôn tồn tại như một tiền đề bất thành
văn từ ngàn đời nay ở Việt Nam, làng như là một quốc gia thu nhỏ về mọi mặt.
Nghiên cứu đề tài “Biểu tượng lũy tre, giếng nước, sân đình trong cấu trúc làng
truyền thống châu thổ sông Hồng” góp phần khẳng định một cách mạnh mẽ về mặt
lý thuyết làng chính là cơ tầng, là nền tảng, là nơi để cộng cảm, để từ đó thấy được
giá trị của lý thuyết này cho đến bây giờ vẫn tồn tại trong tiềm thức được bộc lộ qua
quy luật ứng xử của từ bao đời nay của người dân Việt như “bán anh em xa mua
láng giềng gần”,… và hệ thống liên kết nội tại của dòng tộc ở trong làng vẫn còn
nguyên vẹn “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, mở rộng ra chính là “nhiễu điều
phủ lấy giá gương”,… chính là ở trong giá trị này, để từ đó có thể phát triển từ
trong lịch sử đến đượng đại, hiện tại và tương lai.
5


Trong quá trình bảo lưu văn hóa truyền thống luôn có một vấn đề, một thực
tại xuất hiện và tồn tại. Đó là khi mở cửa hội nhập và phát triển một cách nhanh
chóng, hiện đại thì làng cổ xưa vốn mang trong mình những nét đặc trưng riêng biệt

ra các chiến lược văn hóa thì vấn đề nghiên cứu về làng mới được quan tâm. Do tầm
quan trọng và tầm ảnh hưởng của vấn đề mà đề tài liên quan đến làng Việt đã được
các sử gia thời phong kiến có những nghiên cứu nhất định như “Đại Nam nhất
thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam thực lục” hay “Lịch triều
hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú. Nhưng hầu như các tác phẩm này chỉ
mang tính địa giới và sơ lược một phần về làng Việt. Hướng nghiên cứu chủ yếu
của các tác giả trên chủ yếu tập trung dưới góc độ riêng lẻ để cấu thành làng hoặc
các chức năng riêng rẽ của làng mà hầu như không có được tổng quát. Ví dụ như
nghiên cứu về Việt Nam cổ dưới thời Văn Lang chỉ tập trung về ruộng làng, lạc
điền hoặc tìm hiểu về một phần đời sống làng hoặc văn hóa làng như phong tục hay
tìm hiểu dưới góc độ cư trú làng là địa vực, ruộng đất,…
Do sức ảnh hưởng của làng xã đến mọi mặt của xã hội Việt Nam là rất lớn
nên không chỉ có các công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam mà các nước
phương Tây hay nước láng giềng như Trung Quốc, Nhật Bản cũng đã có nhiều
nghiên cứu về làng Việt.
Làng Việt là đối tượng nghiên cứu của các thương nhân và giáo sĩ phương
Tây từ thế kỷ XVII, XVIII như các cuốn sách “Mô tả Vương quốc Đàng ngoài” của
S.Baron, “Lịch sử Đàng ngoài” của Richard,… và đây mới chỉ là những ghi chép có
đề cập đến làng Việt, chưa trở thành đề tài nghiên cứu cụ thể về làng.
Đến thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, với mục đích là phục vụ cho công cuộc đô
hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam mà đã có thêm một số tác phẩm của các tác giả
người Pháp như P.Ory với “Làng xã An Nam ở Bắc Kỳ”, “Thành bang An Nam” của
C.Briffaut, P.Gourou với “Nông dân vùng đồng bằng Bắc Kỳ”,…Sau chiến tranh
Thế giới lần thứ nhất, bên cạnh những học giả người Pháp thì Việt Nam đã xuất
hiện một số tác giả có những công trình nghiên cứu về làng Việt như Nguyễn Văn
Huyên với “Nghiên cứu về làng An Nam”, “Việc làng” của Ngô Tất Tố hay những
bài báo của Hoàng Đạo đăng trong tập “Bùn lầy đọng nước” của tạp chí Phong hóa.
Những tác phẩm nghiên cứu về làng trong giai đoạn này chủ yếu tập trung nghiên
7


8


trung dưới các góc độ chuyên môn riêng lẻ khác nhau, và hầu như chưa có một tác
phẩm nào mang tính hiện hữu về biểu tượng văn hóa trong làng truyền thống. Cũng
có tác giả công bố công trình về hội làng, về hương ước và nếp sống, phong tục, tôn
giáo,… Cũng có tác giả đi sâu vào góc độ văn hóa dân gian, văn học nghệ thuật, sân
khấu dân gian, nhưng chưa có nghiên cứu nào đặt biểu tượng văn hóa vào cấu trúc
làng Việt để thực hiện thành chuyên luận. Các biểu tượng văn hóa như lũy tre, giếng
nước hay sân đình chỉ chủ yếu được đề cập đến trong thơ ca, ca dao, tục ngữ. Hơn nữa,
đặt vấn đề này trong một mối tương quan với biểu tượng mang tính văn hóa trong cấu
trúc làng truyền thống chưa có và vì vậy càng cần phải tìm tòi, nghiên cứu.
3. Mục đích nghiên cứu và giới hạn nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làng Việt vốn mang trong mình một tầm quan trọng rất lớn nên từ giai đoạn
trung đại cho đến ngày nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, các hội thảo khoa
học để trao đổi, tìm tòi về nó. Nhưng các công trình đó mới chỉ dừng lại ở từng góc
độ nhất định trong cách tiếp cận vấn đề mà chưa có một đề tài cụ thể nào mang tính
chuyên môn hóa về một số hình tượng đã trường tồn theo thời gian, song hành với
cả quá trình lịch sử của dân tộc như cây đa, lũy tre, giếng nước hay mái đình trong
làng Việt từ ngàn đời nay. Chính bởi vậy, chúng tôi chọn đề tài “Biểu tượng lũy tre,
giếng nước, sân đình trong cấu trúc làng truyền thống châu thổ sông Hồng” để
nâng nó lên trong một giá trị mang tính biểu tượng, thể hiện một cách rõ nét nhất
sức sống mãnh liệt của các giá trị vật chất cũng như tinh thần đã từng xuất hiện và
tồn tại theo thời gian trong tâm thức người dân đất Việt cho đến tận ngày nay.
Với đề tài “Biểu tượng lũy tre, giếng nước, sân đình trong cấu trúc làng
truyền thống châu thổ sông Hồng”, ngay bản thân nó khi đưa vào trong biểu tượng
đã có giá trị mang tính lý thuyết cao. Đó là lí do mà chúng tôi hi vọng đặt ra được
những vấn đề mang tính lý thuyết về giá trị biểu tượng văn hóa của lũy tre, giếng
nước, sân đình trong lịch sử Việt Nam, trong quá khứ cũng như trong tương lai.

làng, miếu làng. Thu hẹp lại trong dòng họ thì có nhà thờ họ (từ đường), và nhỏ
nhất là bàn thờ gia tiên đều có trong mỗi hộ gia đình của làng.
Làng Việt từ ngàn đời nay, tụ cư là một đặc tính đặc biệt và bến nước chính

10


là nơi quy tụ đầu tiên của các thành viên trong một làng. Con người sống, tồn tại
đều cần đến nước, bến nước là nơi cung cấp nguồn nước đầu tiên cho cả làng. Hay
nói cách khác, bến nước chính là khởi thủy của giếng làng sau này.
Sự quy tụ của các thành viên trong mỗi làng lại với nhau không thể thiếu lũy
tre. Tre làng không chỉ là ranh giới bao quanh, bảo vệ địa bàn cư trú của dân làng
mà nó còn hiện hữu với tần suất rất lớn trong đời sống sinh hoạt vật chất của người
dân trong làng. Ngoài ra, làng muốn sinh tồn một cách bền vững được thì đầm làng,
sông làng, đường làng, ao làng, ngõ làng,… là những hình ảnh không thể thiếu được
để cấu tạo nên làng.
Mặc dù lũy tre, giếng nước, sân đình là biểu tượng nhưng nhân tố quan trọng
nhất vẫn là con người. Chính vì thế, việc nghiên cứu về con người trong làng là một
cách thức không thể thiếu được trong quá trình tìm hiểu thêm những hoạt động của
các biểu tượng cần nghiên cứu. Để làm được điều đó, chúng tôi đặt nó trong hoạt
động của những không gian văn hóa và những hoạt động văn hóa. Một lẽ tất yếu
dẫn đến là sự liên kết về cấu trúc nội tại như họ, giáp, đinh hay hương ước, bởi đây
chính là mắt xích xuyên suốt của làng.
Đối tượng chính của đề tài nghiên cứu là về biểu tượng văn hóa, nhưng các
biểu tượng văn hóa này lại nằm trong không gian cư trú cụ thể như ngôi làng hay
ngôi nhà,.. Mở rộng hơn nữa là không gian sản xuất là ruộng, vườn,… và địa bàn
sản xuất. Điều đó cho thấy rằng, lũy tre, giếng nước, sân đình là một thực thể tồn
tại trong mối liên hệ mật thiết với các thực thể khác trong một cấu trúc nhất định.
Không những thế, khi lấy lũy tre là một thực thể để nghiên cứu về giá trị của nó
trong ngôi làng Việt, chúng tôi có thể đi vào tìm hiểu về tất cả các thực thể tồn

Mặc dù đối tượng nghiên cứu của luận văn là cấu trúc làng truyền thống châu
thổ sông Hồng, nhưng châu thổ sông Hồng là một khái niệm rất rộng. Trong luận
văn, chúng tôi không sử dụng khái niệm đồng bằng Bắc bộ thay cho châu thổ sông
Hồng là vì khái niệm đồng bằng mang tính sản xuất nhiều hơn, còn châu thổ là khái
niệm rộng, bao trùm cả văn hóa – điều đó phù hợp với hướng tiếp cận và nghiên
cứu luận văn. Lí do thứ hai là bởi vì miền Bắc vốn dĩ là vùng đất không bằng phẳng
nên nếu canh tác sản xuất và sinh hoạt cần có vùng, đê bao, bờ ngăn để ngăn nước
thẩm thấu. Trong công trình “Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm” của GS.Trần
12


Quốc Vượng cho rằng “châu thổ Bắc bộ không bằng phẳng nên không gọi là đồng
bằng. Trừ một tỉnh Thái Bình không có núi, tất cả các tỉnh khác nhau của châu thổ
Bắc bộ đều có địa hình núi đồi xen kẽ châu thổ và thung lũng”. Chính bởi hai lí do
trên nên chúng tôi lựa chọn tên đề tài là châu thổ sông Hồng thay cho đồng bằng
Bắc bộ.
Tuy hướng tiếp cận và phân tích luận văn là “cấu trúc làng truyền thống”,
nhưng thực tại các làng bây giờ chỉ còn lưu giữ một số nét truyền thống nhất định
và đã bị mai một rất nhiều. Cổng làng trong quá khứ giờ đã được thay thế bằng
cổng chào bê tông cốt thép, lũy tre làng đã bị dỡ bỏ để thay thế bằng hàng rào thép,
đặc biệt là ngôi nhà tranh vách đất ngày xưa đã được những ngôi nhà tầng thế chỗ.
Bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào qua thời gian cũng bị bào mòn và thay đổi để
phù hợp với bước tiến nhân loại. Nhưng riêng về ngôi làng Việt truyền thống, từ lâu
đời, nó đã in dấu vào trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam. Tuy hiện tại có
thể có nhiều biến đổi, nhưng chấp nhận nó với diện mạo của truyền thống trong sự
thay đổi của hiện đại sẽ giúp cách tiếp cận vấn đề trở nên sâu sắc hơn bởi các yếu tố
và các biểu tượng tâm linh vẫn được người dân lưu truyền và luôn được các cơ quan
chức năng khuyến khích bảo tồn, lưu giữ một cách khoa học nhất.
4. Phƣơng pháp luận nghiên cứu và cơ sở tƣ liệu
4.1 Phương pháp luận nghiên cứu

được một số thông tin về làng xã dưới các góc độ riêng lẻ khác nhau như cơ cấu tổ
chức, luật pháp, địa chính,…
Bên cạnh các bộ chính sử, một nguồn tài liệu quan trọng khác là các công
trình khảo cứu của các học giả lớn trước đây như “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình
Hổ, “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú,..Tuy mức độ thông tin
xuất hiện chưa được trọn vẹn song người nghiên cứu có thể tìm thấy được cuộc
sống của một số làng xã tiêu biểu được phản ánh trong các công trình này.
Tìm hiểu về làng Việt truyền thống, càng ngược về quá khứ nguồn tư liệu sẽ
càng nghèo nàn. Cho đến thời kỳ cận đại và hiện đại, ngày càng có nhiều công trình
nghiên cứu, số liệu thống kê được tập hợp và lưu trữ tương đối phong phú về đời
sống nhiều mặt ở làng quê và làm cơ sở cho những nghiên cứu về làng Việt truyền

14


thống. Nhưng tất cả các nguồn tư liệu trên cũng chưa thể phản ánh đúng mực đời
sống làng xã diễn ra, đặc biệt là trong thời kỳ hiện đại. Vì vậy, ngoài hệ thống tư
liệu mang tính lý thuyết, hệ thống tư liệu mang tính thực tiễn là vô cùng quan trọng.
Nguồn tư liệu đến từ thực tiễn là điền dã dân tộc học là vô cùng phong phú.
Đó là dựa vào gia phả, hương ước, câu đối ở các đình, đền, chùa, văn chỉ, miếu ,
nhà thờ họ (từ đường) của một số làng thực địa. Ngoài ra còn có tư liệu vật chất bao
gồm các di tích, di vật được sản sinh ra trong cuộc sống làng quê và nó là hiện thân
cho làng quê đó. Làng Việt thường có đình, đền, miếu, văn chỉ,… là các di tích về
văn hóa – tín ngưỡng. Ngoài ra, trong một họ còn có nhà thờ họ và bàn thờ gia tiên
tại mỗi gia đình. Trong làng có nhà, đường, cầu, cống,… đều là chứng tích vật chất
của làng quê Việt. Làng thường có cổng làng, ngõ, cây đa, bến nước, ao làng, giếng
làng, lũy tre, ruộng làng,… đều thuộc phạm vi quản lý của làng.
Ngoài ra còn có nguồn tư liệu dã sử bao gồm các truyền thuyết dân gian về
lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển của làng, lịch sử dòng họ, lịch sử các ngành nghề,
các truyền thuyết về vị Thần Thành hoàng làng; các bài hát, ca dao, câu đối về các

- Chương 2: Cấu trúc làng truyền thống châu thổ sông Hồng.
- Chương 3: Tổng quan một số biểu tượng của làng truyền thống châu thổ
sông Hồng và giới thiệu biểu tượng lũy tre, giếng nước, sân đình.
- Chương 4: Giá trị của biểu tượng lũy tre, giếng nước, sân đình trong cấu
trúc làng truyền thống châu thổ sông Hồng, hiện trạng và tương lai.

16


CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN CƠ TẦNG TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CHÂU THỔSÔNG HỒNG
VÀ LÀNG TRUYỀN THỐNG CỦA NÓ
1.1 Cơ tầng tự nhiên
Việt Nam là quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, khu vực Đông Nam Á,
ven biển Thái Bình Dương, tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, giáp Lào,
Campuchia ở phía Tây và phía Đông giáp biển Đông. Là quốc gia có trường độ
tương đối dài, khoảng 15 vĩ độ. Dựa vào cấu trúc địa lý và quá trình lịch sử, Việt
Nam chia làm ba miền Bắc, Trung và miền Nam.
Nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm có nhiệt độ cao và độ ẩm lớn.
Tuy nhiên, khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm ở Việt Nam lại không thuần nhất trên toàn
lãnh thổ đất nước mà nó được biểu hiện rõ ràng nhất tại khu vực miền Bắc, đặc biệt
là vùng châu thổ sông Hồng với dạng khí hậu bốn mùa cụ thể, điều đó khiến cho
vùng này cấy được ít vụ lúa hơn một số vùng khác trên cả nước.
Việt Nam nói chung và khu vực châu thổ sông Hồng nói riêng luôn luôn đón
một lượng bức xạ mặt trời lớn, số giờ nắng từ 1400 đến 3000 giờ trong năm. Bởi vì
nắng nhiều nên đây là khu vực được đón lượng mưa rất lớn, mưa chủ yếu tập trung
vào mùa hè trong năm. Là khu vực ảnh hưởng bởi gió mùa, cộng thêm sự phức tạp
của địa hình, châu thổ sông Hồng luôn gặp bất lợi về thời tiết như bão, lũ lụt,…
Là khu vực có vũ lượng hàng năm rất cao, cộng thêm địa hình phức tạp với
mạng lưới sông ngòi dày đặc gồm hệ thống các sông như sông Hồng, sông Thái

thích ứng với tự nhiên, cây tre chính là sự lựa chọn tốt nhất của người dân trong
vùng. Tre với đặc tính thân dẻo, rễ chắc, mọc thành lũy, thành rào,.. là cây trồng lý
tưởng để đối phó với bão, lũ hàng năm. Nếu như ở Nga, người dân có cây sồi (cây
lớn) để làm nhà thì ở Việt Nam, hình ảnh những ngôi nhà tre đã trở thành một biểu
tượng đặc trưng cho châu thổ sông Hồng.
Điều kiện tự nhiên không chỉ ảnh hưởng tới sự phân bố thảm thực vật, mà nó
còn ảnh hưởng rất lớn đến loại hình chăn nuôi của nhân dân. Văn hóa nước là điều
kiện tiên quyết để hình thành văn hóa tiểu nông, trong đó có chăn nuôi. Không
những cây trồng mang tính mùa vụ mà loại hình chăn nuôi trong vùng cũng vậy.
18


Lợn, gà, vịt,…là gia súc, gia cầm chính của người dân trong vùng bởi tính chất ngắn
hạn trong thời gian phát triển của chúng. Ở châu thổ sông Hồng ít thấy những đàn
dê, đàn bò mang tính chất quy mô, câu nói “con trâu là đầu cơ nghiệp” là một minh
chứng.
1.2 Cơ tầng xã hội
1.2.1 Cơ tầng xã hội thời phong kiến
Trong quá trình hình thành và phát triển chế độ phong kiến, các công xã
nông thôn dần bị phong kiến hóa và trở thành các đơn vị hành chính cơ sở của chính
quyền phong kiến. Theo đó, theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư” ghi chép, dưới thời
Văn Lang, nhà nước được chia thành 14 bộ theo hệ thống ba cấp là Trung Ương –
Bộ (bộ lạc) – công xã nông thôn. Công xã nông thôn là những đơn vị dân cư liên kết
với nhau bởi quan hệ huyết thống và quan hệ láng giềng, trong đó quan hệ láng
giềng là chủ yếu. Đứng đầu công xã là Bồ chính (già làng). Bên cạnh Bồ chính là
hội đồng các thành viên được cử ra để tổ chức mọi hoạt động của công xã.
Thời Bắc thuộc kéo dài hơn 1000 năm, xâm chiếm và đô hộ, biến nước Âu
Lạc thành châu quận. Năm 905, nhân cơ hội nhà Đường suy yếu, Khúc Thừa Dụ là
một hào trưởng, được nhân dân ủng hộ đã tự xưng làm Tiết độ sứ, giành được
quyền làm chủ đất nước. Năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, con ông Khúc Hạo nối

1.2.2 Cơ tầng xã hội Việt Nam hiện nay
Năm 1980, Việt Nam có Hiến pháp mới. Tại đây quy định rằng: Các đơn vị
hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:
Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương
đương. Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc
Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã. Huyện chia thành xã và thị trấn; thành
phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường. (chương
IX, Điều 113).
1.2.3 Cấu trúc sản xuất
Việt Nam nói chung và khu vực châu thổ sông Hồng nói riêng nằm trọn
trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với một nền khí hậu khắc nghiệt nóng ẩm
mưa nhiều nên đời sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất của người dân chủ

20


yếu phụ thuộc vào tự nhiên, cụ thể hơn thì hoạt động khai thác tự nhiên chính là
điểm nổi bật trong cấu trúc sản xuất của vùng.
Một trong những trung tâm nông nghiệp sớm nhất của loài người là khu vực
Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Từ cuối thời kỳ đá mới, cách ngày nay khoảng
6000 năm, con người đã bắt đầu tiến vào giai đoạn trồng lúa nước. Quá trình khai
phá châu thổ sông Hồng gắn liền với kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước. Quá trình
này phát triển từ văn hóa Phùng Nguyên cách này nay khoảng 4000 năm và cho đến
văn hóa Đông Sơn, vùng châu thổ sông Hồng về căn bản đã được khai phá toàn bộ
và đã trở thành các đồng ruộng, làng xóm.
Khi tiến dần xuống đồng bằng để phát triển lúa nước. Với một điều kiện tự
nhiên khắc nghiệt của vùng, con người bước đầu tiên là cần phải chế ngự thiên
nhiên để sản xuất, sinh hoạt và sinh tồn. Chủ động nguồn nước và ngăn nước bằng
biện pháp đắp đê là cách thức duy nhất để có thể tồn tại và phát triển tại nơi đây. Từ
ngàn đời xưa, người Việt đã luôn coi trọng việc sản xuất nông nghiệp, nhất là vấn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status