Header Page 1 of 128.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ TUYẾT
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN
LỚP CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TRONG CÁC
TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ TR NG HỌC C
S
H
ỆN
YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 814.01.14
LUẬN VĂN THẠC SỸ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐỖ THỊ THÚY HẰNG
HÀ NỘI - 2018
Footer Page 1 of 128.
Header Page 3 of 128.
2
LỜI CẢM
N
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn
Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 và các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giảng dạy
và cung cấp những kiến thức cơ bản, đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại
nhà trường.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Đỗ
Thị Thúy Hằng - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em trong suốt quá trình
lập đề cương, nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn Phòng Giáo dục - Đào tạo Huyện Yên Bình cùng
toàn thể các cán bộ quản lý Ban giám hiệu, tổ chuyên môn, giáo viên và học sinh 6
trường TH&THCS Huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đã tạo điều kiện thuận lợi, cung
cấp thông tin, đóng góp ý kiến, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu để hoàn
thành luận văn.
Dù đã có nhiều cố gắng song luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu
sót, hạn chế. Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô
giáo và các bạn đồng nghiệp.
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 04 tháng 7 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Tuyết
lên lớp cho HS tiểu học .................................................................................... 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ
LÊN LỚP CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN YÊN BÌNH , TỈNH YÊN BÁI.......................... 31
2.1. Khái quát về giáo dục huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. ...................................... 31
2.2 Tình hình giáo dục tiểu học huyện Yên Bình ..................................................... 31
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho HS tiểu học
trong các trường TH& THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái ......................... 37
2.4. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
cho học sinh tiểu học trong các trường TH&THCS huyện Yên Bình, tỉnh
Yên Bái ............................................................................................................. 49
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI
GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG
TH&THCS HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI........................................ 54
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp ............................................................................ 54
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh tiểu
học trong các trường TH&THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái ................... 56
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp ........................................................................ 69
3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi các biện pháp ........................................ 71
3.5. Mối tương quan giữa các biện pháp ................................................................... 77
Kết luận chương 3 ..................................................................................................... 78
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ........................................................................... 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 82
Footer Page 5 of 128.
Header Page 6 of 128.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GDNGLL
Giáo dục ngoài giờ lên lớp
6
GV
Giáo viên
7
GVCN
Giáo viên chủ nhiệm
8
HĐGDNGLL
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
9
HĐNK
Hoạt động ngoại khóa
10
QLGD
Quản lý giáo dục
16
TH
Tiểu học
17
TNTPHCM
Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh
TT
Footer Page 6 of 128.
Header Page 7 of 128.
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
Thứ
Tên bảng và hình
Trang
48
giờ lên lớp
6
Bảng 2.6. Kết quả thực trạng công tác chỉ đạo thực hiện hoạt
51
động giáo dục ngoài giờ lên lớp
7
Bảng 2.7. Kết quả thực hiện kiểm tra, đánh giá hoạt động
GDNGLL
53
8
Bảng 2.8. Kết quả đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng
56
đến QL hoạt động GDNGLL
9
Bảng 3.1. Kết quả đánh giá tính cần thiết của các biện pháp
82
Header Page 8 of 128.
1
M
ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện đất nước đang thực hiện CNH, HĐH và phát triển kinh tế thị
trường, giáo dục sẽ phải đương đầu với nhiều thách thức to lớn để đáp ứng những
yêu cầu của xã hội. Do vậy, dạy học không chỉ đơn thuần là cung cấp tri thức, rèn
luyện kỹ năng môn học mà bản chất của dạy học hiện đại là: học để biết, học để
làm việc, học để chung sống và học để làm người. Có nghĩa là phải trang bị cho
người học kỹ năng sống và năng lực hoạt động xã hội để họ có thể thích nghi
với mọi hoàn cảnh luôn biến động.
Trong nhà trường có các hoạt động giáo dục trong hệ thống các môn học cơ
bản, và hoạt động giáo dục ngoài hệ thống các môn học. Giáo dục của nhà trường
chỉ thực sự có hiệu quả khi có sự phối hợp hài hoà cả hai hệ thống giáo dục trên.
Ở trường phổ thông, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một trong những
hoạt động đặc trưng, nó là nơi thể nghiệm, vận dụng và củng cố tri thức trên lớp, là
cơ hội để HS tự bộc lộ nhân cách và tự khẳng định vị trí của mình, là môi trường
nuôi dưỡng và phát triển tính tự chủ và sáng tạo của HS.
Lứa tuổi học sinh tiểu học là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi ấu thơ sang tuổi nhi
đồng, và từ tuổi nhi đồng sang tuổi thiếu niên. Ở lứa tuổi này, có sự phát triển mạnh
mẽ nhưng thiếu cân đối về các mặt sinh lý và tâm lí. Hoạt động giao tiếp của học
sinh đã bắt đầu phát triển, các em có nhu cầu cao về giao tiếp với bạn bè, có nguyện
vọng được sống và hoạt động trong tập thể. HĐGDNGLL sẽ làm thỏa mãn được
các nhu cầu này của các em học sinh.
- Nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học
sinh tiểu học
- Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho HS TH
trong các trường TH&THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
- Đề xuất một số biện pháp QL GDNGLL cho HS TH trong các
trường
TH&THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi
của các biện pháp đề xuất.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh tiểu học.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh tiểu học trong
các trường TH&THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
5. Giả thuyết khoa học
Việc thực hiện HĐGDNGLL cho HSTH trong các trường TH&THCS, huyện
Yên Bình, tỉnh Yên Bái trong những năm qua đã thu được những kết quả nhất định.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đã bộc lộ một số hạn chế như: việc tổ chức thực
hiện còn đơn điệu, hiệu quả không cao; nội dung còn nghèo nàn; cách thức quản lý
còn lỏng lẻo. Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý HĐGDNGLL phù hợp với
Footer Page 9 of 128.
Header Page 10 of 128.
3
Footer Page 10 of 128.
Header Page 11 of 128.
4
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho HS
tiểu học trong các trường TH& THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho HS
tiểu học trong các trường TH& THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
Footer Page 11 of 128.
Header Page 12 of 128.
5
CHƯ NG 1
C
LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO
S
HỌC SINH TIỂU HỌC
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề.
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp từ lâu được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm trong việc hình thành và phát triển toàn diện của con người nói chung cũng như
gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để
giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước. Trong thư gửi Hội
nghị các cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc” Hồ Chủ tịch nhắc tới một khía cạnh
khác của nội hàm khái niệm khi Người viết:Trong lúc học, cũng cần làm cho chúng
vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã
hội chúng đều vui học.
Những vấn đề mà một số tác giả quan tâm khẳng định vị trí và vai trò của hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong việc hình thành nhân cách cho HS ngay từ khi
bắt đầu đến trường. Trong đó nhấn mạnh đến vấn đề học phải được đi đôi với hành.
Học sinh được học gì trong sách vở thì phải thực hành điều ấy, củng cố tri thức đã
học không chỉ bằng cách ôn luyện trong sách vở mà phải bằng việc làm, gắn việc
học tập với sinh hoạt, với đời sống của tự nhiên và xã hội. Hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp cần phải được đa dạng về hình thức, trong đó việc cho học sinh được
biểu diễn trên sân khấu để hình thành sự tự tin, rèn khả năng diễn đạt cũng được các
tác giả đề cập đến. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp còn làm giàu chương trình
học, tạo dựng niềm tin và củng cố kỹ năng cho học sinh. Vấn đề đổi mới phương pháp
dạy học nói chung đặc biệt là mở rộng không gian ngoài lớp học đã khơi dậy và phát
huy những khả năng tiềm ẩn, nhằm rèn luyện cá tính cho học sinh. Các nghiên cứu
trong nước cũng đã có rất nhiều công trình đề cập đến hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp với các khía cạnh khác nhau về vai trò, phương pháp, hình thức tổ chức
trong và ngoài nhà trường ở các bậc học khác nhau.
Phạm Minh Hạc đề cập đến nội dung: Toàn bộ công tác giáo dục nhằm xây
dựng và phát triển toàn diện nhân cách của con người Việt Nam sống và làm việc
trong thời kỳ đổi mới. Đó là nhân cách của người lao động sáng tạo năng động, có
tay nghề, có tâm hồn, chứ không phải là con người sống chỉ thích nghi với xã hội.
Nhân cách hình thành và phát triển bằng các hoạt động đã nêu ở trên, trong đó có
một hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
con người là hoạt động giao tiếp, vì tất cả các mối quan hệ có ở con người đều gắn
bó bằng cách này hay cách khác với quan hệ người - người.[9]
bộ và thông qua bốn nhóm hình thức tổ chức: Hình thức có tính khám phá; Hình
thức có tính thể nghiệm, tương tác; Hình thức có tính cống hiến; Hình thức có tính
nghiên cứu, phân hoá. Hoạt động trải nghiệm có thể được tổ chức trong và ngoài
lớp học, trong và ngoài trường học theo quy mô cá nhân, nhóm, lớp học, khối lớp
hoặc quy mô trường. Hoạt động trải nghiệm huy động sự tham gia, phối hợp, liên
kết của nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: GV chủ nhiệm lớp,
GV bộ môn, Cán bộ Đoàn, Tổng phụ trách Đội, Ban Giám hiệu nhà trường, cha mẹ
học sinh, chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân và đoàn thể trong xã hội .
Qua nghiên cứu và thu thập thông tin về HĐGDNGLL đã có một số nghiên
cứu ở các khía cạnh khác nhau. Hầu hết đã chỉ ra được vai trò, hình thức tổ chức,
các biện pháp quản lý. Tuy nhiên, mới chỉ dừng lại ở một phạm vi, một trường, một
số khía cạnh nào đó, chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý HĐGDNGLL ở
các trường tiểu học huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
Footer Page 15 of 128.
Header Page 16 of 128.
9
1.2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1. Quản lý
Quản lý là một khái niệm rộng lớn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác
nhau. Những nhà xã hội học nghiên cứu hoạt động quản lý trên cơ sở mối quan hệ
giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, các nhà hoạt động kinh tế nghiên cứu hoạt
động quản lý trên cơ sở hiệu quả kinh tế… Chính vì thế khái niệm quản lý đã được
các nhà khoa học định nghĩa một cách khác nhau:
Theo Đặng Quốc Bảo: Hoạt động quản lý là hoạt động bao gồm hai quá trình
“quản” và “lý” tích hợp vào nhau; trong đó, “quản” có nghĩa là duy trì và ổn định
sở cho việc thực hiện các chức năng tiếp theo của quản lý.
(2) Tổ chức thực hiện: là bước xác định một cơ cấu chủ định về vai trò nhiệm
vụ. Tổ chức là xây dựng quy chế, qui định rõ mối quan hệ trong bộ máy tổ chức.
Xác định có tính định tính và định lượng chức năng nhiệm vụ giữa các thành viên,
giữa các bộ phận để thông qua đó chủ thể quản lý tác động đến các khâu, các mắt
xích trong tổ chức và đối tượng quản lý để đạt hiệu quả cao nhất. Tổ chức giúp thực
hiện được những chủ trương, định hướng của kế hoạch.
(3) Chỉ đạo: là công việc thường xuyên của người quản lý nhằm tác động
đến đối tượng quản lý bằng các mệnh lệnh, đặt tất cả mọi hoạt động của bộ máy
trong tầm kiểm soát nhằm làm cho người bị quản lý luôn phục tùng, phát huy tính
tự giác và tính kỷ luật để làm việc đúng theo kế hoạch, đúng với chức năng, nhiệm
vụ đã phân công. Nói cách khác, đây là quá trình tác động, động viên, tạo động lực,
gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu
đã định.
(4) Kiểm tra - đánh giá: là nhiệm vụ quan trọng có liên quan đến mọi cấp
quản lý nhằm thu thập thông tin ngược của người quản lý để kiểm soát hoạt động
của bộ máy nhằm đo lường, phát hiện các sai sót để điều chỉnh kịp thời giúp bộ máy
đạt được mục tiêu. Có thể nói, kiểm tra là tai mắt của quản lý. Trong công tác lãnh
đạo, quản lý và chỉ huy, Hồ Chí Minh đã từng nói:“Không có kiểm tra - đánh giá
coi như không có lãnh đạo”. Qua đó, đủ thấy vai trò kiểm tra đánh giá, rút ra bài
học điều chỉnh mọi hoạt động của khách thể quản lý là việc làm không thể thiếu của
chủ thể quản lý.
Các chức năng quản lý phải tạo thành một chu trình thống nhất. Trong đó,
mỗi chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc với các
chức năng khác. Quá trình ra các quyết định quản lý là quá trình thực hiện các chức
năng theo một trình tự nhất định. Nhà quản lý không được bỏ qua hay coi nhẹ bất
cứ chức năng nào. Bên cạnh bốn chức năng cơ bản nêu trên, trong quá trình quản lý
Footer Page 17 of 128.
đó chủ thể quản lý là các cấp chính quyền và quản lý chuyên môn, các nhà quản lý
trong trường do hiệu trưởng đứng đầu, đối tượng quản lý chính là nhà trường như
một tổ chức chuyên môn- nghiệp vụ, nguồn lực quản lý là con người, cơ sở vật chất
kỹ thuật, tài chính, đầu tư khoa học-công nghệ và thông tin bên trong trường và
Footer Page 18 of 128.
Header Page 19 of 128.
12
được huy động từ bên ngoài trường dựa vào luật, chính sách, cơ chế và chuẩn hiện
có.
Theo Phạm Minh Hạc, quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng
trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo
dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với thế hệ trẻ và với từng học
sinh. [9]
Theo Nguyễn Ngọc Quang, quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối
ưu của chủ thể quản lý đến tập thể GV, học sinh và cán bộ khác nhằm tận dụng các
nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây
dựng vốn tự có, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm
hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng, mục tiêu và kế hoạch
đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới. [19]
Như vậy, quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng, đưa
nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục
tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh. Quản lý nhà
trường là hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý,
đồng thời có những nét riêng đặc thù của nó. Quản lý nhà trường phải là quản lý
toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý,
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp do nhà trường tổ chức và quản lý với
sự tham gia của các lực lượng xã hội. Nó được tiến hành tiếp nối hoặc xen kẽ hoạt
động dạy học trong nhà trường hoặc trong phạm vi cộng đồng. Hoạt động này diễn
ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình giáo dục, làm
cho quá trình này được thực hiện mọi nơi, mọi lúc và tác dụng giáo dục được xuyên
suốt.[7]
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH là một trong hai hoạt
động giáo dục cơ bản trong nhà trường có tính giáo dục cao, được thực hiện có mục
đích, có kế hoach, có tổ chức, góp phần cùng hoạt động giáo dục trong lớp học củng
cố kiến thức, trau dồi phẩm chất đạo đức, phát huy năng lực sở trường, từng bước
hoàn thiện nhân cách cho HS, góp phần phát triển chất lượng giáo dục toàn diện.
[18]
Như vậy, quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là quá trình tác động
có mục đích của chủ thể quản lý (CBQL) đến tập thể cán bộ GV, nhân viên và HS,
được tiến hành ngoài giờ lên lớp, theo kế hoạch cụ thể, chi tiết, nhằm định hướng
hoạt động giáo dục đạt mục tiêu, kế hoạch chung của nhà trường. Quản lý hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp của CBQL nhà trường thực chất là quản lý mục tiêu, nội
dung, nhiệm vụ, phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trên cơ
sở quản lý lập kế hoạch, quản lý chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp, kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của cán
Footer Page 20 of 128.
Header Page 21 of 128.
14
bộ GV, nhân viên và HS cũng như các điều kiện CSVC môi trường, công tác phối
kết hợp của các đoàn thể, lực lượng xã hội, ban ngành địa phương đối với việc thực
Header Page 22 of 128.
15
Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi
tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động
vui chơi sang hoạt động học tập. Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các
em còn diễn ra các hoạt động khác như: Hoạt động vui chơi; hoạt động lao động;
hoạt động xã hội.
Ngoài ra còn có những thay đổi kèm theo như các em luôn cố gắng là một
thành viên tích cực trong gia đình, thay đổi về phương pháp, hình thức, thái độ học
tập. Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập tốt, các em đã tham gia
vào một số các hoạt động xã hội mang tính tập thể .
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang
tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan,
đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự
vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích,
có phương hướng rõ ràng.
Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành
động. Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái
quát
Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái
quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở
phần đông học sinh tiểu học.
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ
mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn. Tuy
nhiên, ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và
dễ thay đổi, ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, tưởng
tượng sáng tạo tương đối phát triển trẻ bắt đầu có khả năng làm thơ, làm văn, vẽ
tranh,.... Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ
xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu.
Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường.
Ghi nhớ có chủ định đã phát triển. Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định
còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em,
sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em...
Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà các em thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào
yêu cầu của người lớn. Đến cuối tuổi tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu
của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu
bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em. Việc thực hiện hành vi vẫn
chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời.
Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học: Tình cảm của học sinh tiểu học
mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực
Footer Page 23 of 128.
Header Page 24 of 128.
17
rỡ,...Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và
cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên
vô tư...
Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu học luôn
luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các năng
khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học,...khi đó cần phát hiện và bồi dưỡng
kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui chột năng
khiếu của trẻ.
Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh tiểu học cần sự khéo léo, tế
nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực quan sinh động,
tổ chức các hoạt động, các mối quan hệ khác nhau vào thời gian ngoài giờ lên lớp là
điều kiện quan trọng để hình thành thái độ, rèn luyện hành vi, kĩ năng xã hội cho
học sinh. Nói cách khác, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có vị trí rất quan
trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ dạy người trong các nhà trường hiện nay. Dưới
góc độ chỉ đạo chung, vị trí của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được khẳng
định tại điều 27 Điều lệ trường tiểu học là một trong hai hoạt động giáo dục trong
nhà trường: - Hoạt động giáo dục trên lớp được tiến hành thông qua các môn bắt
buộc và tự chọn… - Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp do nhà trường phối hợp
với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường tổ chức,… Như vậy, hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp không phải là hoạt động “phụ”, hoạt động “bề nổi” mà giữ
một vị trí rất quan trọng trong các hoạt động giáo dục của các nhà trường. Hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp là cầu nối tạo ra mối liên hệ hai chiều giữa nhà
trường và xã hội - Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhà trường có
điều kiện phát huy vai trò tích cực của mình đối với xã hội , mở ra khả năng thuận
lợi để gắn học với hành, nhà trường với xã hội thông qua việc đưa thầy và trò tham
gia các hoạt động cộng đồng.[23]
1.4.2 Vai trò của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Theo Nguyễn Dục Quang thì hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có những
vai trò sau:
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giúp học sinh củng cố tri thức đã học ở
trên lớp, biến tri thức thành niềm tin. Thông qua các hình thức hoạt động cụ thể, học
sinh có dịp để đối chiếu, để kiểm nghiệm tri thức đã học, làm cho những tri thức đó
trở thành của chính các em.
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là sự tiếp nối hoạt động dạy học, do đó
tạo nên sự hài hòa, cân đối của quá trình sư phạm tổng thể nhằm hiện thực hóa mục
tiêu giáo dục của cấp học.
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp vừa củng cố, vừa phát triển quan hệ giao
tiếp giữa các lớp trong trường và với cộng đồng xã hội.
Footer Page 25 of 128.