ĐẠI HỌC THÁ I NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
SOM MALAYPHONE
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TỰ HỌC
TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG TÍCH PHÂN LỚP 10,
11
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NƯỚC
CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁ I NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
SOM MALAYPHONE
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TỰ
HỌC
TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG TÍCH PHÂN LỚP 10,
11
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NƯỚC
CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán
học, của phòng Đào tạo trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và làm luận văn.
Em xin thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Bộ môn khoa học Tự nhiên tổ
Toán trường trung học phổ thông ChomThong nước cộng hòa Dân chủ Nhân
dân Lào. đã quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên, khích lệ tôi trong
quá trình học tập.
Tác giá luận văn
SOM MALAYPHONE
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
ii
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...................................... i
LỜI CẢM ƠN ........................................ ii
MỤC LỤC ......................................... iii
CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN .................... iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ .................................... v
MỞ ĐẦU ............................................ 1
1. Lí do chọn đề tài ...................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ................................... 1
3. Giả thuyết khoa học.................................... 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu................................... 2
5. Phương pháp nghiên cứu ................................ 2
6. Cấu trúc của đề tài..................................... 2
việc học ......................................... 25
2.1.1. Cơ sở khoa học của biện pháp ......................... 25
2.1.2. Mục đích của biện pháp.............................. 25
2.1.3. Tổ chức thực hiện biện pháp .......................... 26
2.2. Nâng cao nhận thức và hứng thú của HS đối với vấn đề tự học ..... 40
2.2.1. Cơ sở khoa học của biện pháp ......................... 40
2.2.2. Mục đích của biện pháp.............................. 41
2.2.3. Cách thực hiện ................................... 41
2.3. Rèn luyện cho HS kĩ năng xây dựng kế hoạch tự học ............ 43
2.3.1. Cơ sở khoa học của biện pháp ......................... 43
2.3.2. Mục đích của biện pháp.............................. 44
2.3.3. Cách thực hiện ................................... 44
2.4. Rèn luyện những kỹ năng học tập cơ bản phù hợp với nhiệm vụ tự học
môn Toán........................................ 47
2.4.1. Cơ sở khoa học của biện pháp ......................... 47
2.4.2. Mục đích của biện pháp.............................. 47
2.4.3. Cách thực hiện ................................... 47
2.5. Xây dựng hệ thống bài tập phân bậc giúp học sinh tự học ......... 62
2.5.1. Cơ sở của biện pháp ................................ 62
2.5.2. Mục đích của biện pháp.............................. 62
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
4
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
2.4.3. Cách thực hiện ................................... 62
2.6. Kết luận chương 2 .................................. 67
Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ..................... 68
HĐH
HĐD
HĐTH
KT
MTĐT
MTDH
NCKH
NLTH
NDDH
NDMH
NVHT
PPDH
PHVĐ
QTHT
QTĐT
QTDH
SV
SGK
THPT
TH
THCS
VĐ
Viết đầy đủ
Cao đẳng sư phạm
Công nghệ thông tin
Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân
Dạy học
Động cơ học tập
Đào tạo giáo viên
4
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1. Nội dung dạy cách học ..................................................................... 26
Số đồ 2.2. Quá trình tự học................................................................................ 27
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
5
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nghị quyết hội nghị lần thứ VIII ban chấp hành trung ương Đảng nhân dân
cách mạng Lào (năm 2006) và chiến lược giáo dục từ năm 2006 đến 2020, kế
hoạch giáo dục khóa VII (2010 - 2015 ) nêu rõ: Để giải phóng đất nước vượt qua
một đất nước nghèo đến năm2020 nên đao tạo cho con người có kiến thức ca,ocó
tay nghề cao, tự chủ sáng tạo, có khả năng vận dụng vàthưc hanh,...
Nhà trường phổ thông không thể cung cấp cho người học đủ những kiến
thức để có thể tồn tại và phát triển trong suốt cuộc đời. Do đó, việc dạy học tự
học cho HS là một việc làm cần thiết và quan trọng để người học có khả năng
thích ứng với mọi sự chuyển biến của xã hội.
Môn Toán là một trong những môn học quan trọng trong trường phổ
thông. Nó có tiềm năng to lớn trong việc phát triển năng lực cho học sinh (HS)
3. Giả thuyết khoa học
Nêu vân dung phương phap day hoc tự học môt cach hơp ly voa day hoc
nội dung tích phân thì có thể tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh , giúp
cho các em có thể tự tìm ra và làm chủ được kiến thức, góp phần nâng cao chất
lượng dạy học của chương này nói riêng và chất lượng dạy học môn Toán nói
chu.ng
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cưu ly luân vê phương phap day hoc tự học.
- Nghiên cứu nội dung tích phân ở lớp 10, 11 THPT nước CHDCND Lào.
- Đê xuât một số biên phap sư phạm nhằm vân dụng phương phap day hoc
tự học trong day hoc nôi dung tích phân ở lớp 10, 11THPT ở Lào.
- Điều tra thực trạng nội dung dạy học.
- Thưc nghiêm sư pham nhăm kiêm tra , đanh gia tinh kha thi va hiêu qua
của một số biện pháp sư phạm đã đề xuất , rút ra bài học thực tế để áp dụng vào
giảng dạy.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương phap nghiên cưu ly luân : Nghiên cưu sach giao khoa , sách
phương phap day hoc , các sách tham khảo , luân văn , luân an , tạp chí chuyên
ngành... có liên quan đến đề tài.
- Phương pháp quan sát, điều tra: Tìm hiểu thực tế dạy học nội dung tích
phân và dạy học tự học môn Toán ở Lào.
- Phương phap nghiên cưu tông kêt kinh nghiêm : Tông hơp kinh nghiêm
của các nhà nghiên cứu , nhà giáo dục , giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong
dạy học toán.
- Phương phap thưc nghiêm sư pham : Tô chưc thưc nghiêm sư pham đê
xem xét tinh khả thi và hiệu quả của một số biện pháp sư phạm đã đề xuất.
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, một dung luận văn được trình bày
trong học tập;
- Chủ yếu dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức, thiên về dạy, yếu về học,
chưa phát huy được tính tự giác, tích cực và sáng tạo của người học, không
kiểm soát được việc học.
Mâu thuẫn giữa yêu cầu đào tạo con người xây dựng xã hội công nghiệp
hóa, hiện đại hóa với thực trạng lạc hậu của PPDH đã làm nảy sinh và thúc đẩy
một cuộc vận động đổi mới PPDH với những tư tưởng chủ đạo như “Phát huy
tính tích cực”, “PPDH (hoặc giáo dục) tích cực”, “Tích cực hóa hoạt động học
tập”, “hoạt động hóa người học”,... Tuy các cách phát biểu có khác nhau về
hình thức, nhưng đều ngụ ý đòi hỏi phải làm cho học sinh (HS) đảm bảo vai trò
chủ thể, tích cực hoạt động trong quá trình học tập. Đòi hỏi này đã được phản
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
ánh trong những văn bản pháp quy của nhà nước. Luật Giáo dục nước
CHDCND Lào đã quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm
của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập của HS”.
Quy định này đã trở thành định hướng cho việc đổi mới PPDH ở nước Lào
hiện nay, có thể gọi tắt là định hướng hoạt động(HĐ) mà tinh thần cơ bản là:
PPDH cần tạo cơ hội cho người học học tập trong HĐ và bằng HĐ tự
giác, chủ động và sáng tạo.
Mỗi nội dung dạy học điều liên hệ với những HĐ nhất định. Đó trước hết
là những HĐ đã được tiến hành trong quá trình lịnh sử hình thành và ứng dụng
khẳng định trong quá trình họ học tập trong HĐ và bằng HĐ của bản thân mình.
Tính tự giác, tích cực của người học từ lâu đã trở thành một nguyên tắc
của giáo dục. Nguyên tắc này bây giờ không mới, nhưng vẫn chưa được thực
hiện một cách hiệu quả khi mà cách dạy học thầy nói, trò nghe vẫn còn đang rất
phổ biến hiện nay. Một lần nữa cần phải nhấn mạnh rằng nguyên tắc đó vẫn
còn nguyên giá trị. Tính tự giác, tích cực và chủ động của người học có thể đạt
được bằng cách tổ chức cho học sinh học tập thông qua những HĐ được hướng
đích và gợi động cơ thể chuyển hóa nhu cầu của xã hội thành nhu cầu nội tại
của chính bản thân mình.
“Các nhà khoa học nhất là các nhà sư phạm từ lâu đã tâm đắc và tâm
niệm một lời cảnh báo mạnh mẽ của Viện sĩ Kapitxa cho rằng vấn đề thông
minh sáng tạo của tuổi trẻ không kém quan trọng so với vấn đề vũ khí hạt nhân,
chiến tranh và hòa bình. Và cũng không phải ngẫu nhiên mà nguyên Thủ tướng
Phạm Văn Đồng, từ những năm 60, đã nhiều lần căn dặn thầy giáo phải “gõ
vào trí thông minh của HS” và đã tha thiết kêu gọi là “phải nhắc lại nghìn lần ý
muốn lớn của chúng ta trong giáo dục là đào tạo HS thành những thế hệ thông
minh sáng tạo” (trích theo Phan Trọng Luận 1996 - 1997, tr. 77). HS chỉ có thể
phát huy sáng tạo khi họ được học tập trong HĐ và bằng HĐ”.
Thứ hai, người học được khuyến khích HĐ học tập độc lập hoặc hợp tác.
Mặc dầu trong quá trình học tập vẫn có cả những pha học sinh HĐ dưới
sự dẫn dắt của thầy hoặc của sự hỗ trợ của bạn, nhưng HĐ độc lập của HS là
thành phần không thể thiếu để đảm bảo việc học thành công. Mặt khác, do bản
chất xã hội của việc học tập, phương diện hợp tác, giao lưu ngày càng được
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
trên các lĩnh vực lại tăng lên lấp đôi. Nhà trường phổ thông không thể dạy cho
học sinh các tri thức đủ để họ có thể tồn tại và phát triển suốt đời. Để có thể
sống và phát triển được suốt đời thì người học phải biết và có kĩ năng học và tự
học suốt đời. Khả năng này cần được rèn luyện ngay trong khi còn là học sinh
ngồi trên ghế nhà trường. Vì vậy quá trình dạy học phải bao hàm cả dạy tự học.
Việc dạy tự học (TH) đương nhiên chỉ có thể thực hiện được trong một cách
dạy học mà người học là chủ thể tự học, HĐ để đáp ứng nhu cầu của xã hội và
chuyển hóa nhu cầu xã hội thành nhu cầu của chính bản thân họ.
Thứ ba, việc nhấn mạnh vai trò của tự học và dạy tự học không có nghĩa
là phủ nhận bản chất xã hội của việc học tập. Tự học không có nghĩa là cô lập
người học khỏi bạn học, giáo viên, gia đình và xã hội, không có nghĩa là người
học đơn thương độc mã suy nghĩ từ A đến Z. Biết tự học cũng có nghĩa là biết
kế thừa di sản văn hóa của nhân loại, biết khai thác những phương tiện mà loài
người cung cấp cho mình để thực hiện quá trình học tập. Để hiểu nghĩa của một
số thuật ngữ trong môn văn học sinh có thể và cần biết cách tra từ điểm. Để tự
học giải bài tập toán học, khi mà sự suy nghĩ của riêng cá nhân mình không thể
giải quyết được vấn đề đặt ra, học sinh có thể và cần biết đọc sách, trong đó mức
độ hỗ trợ của sách có thể chỉ dừng ở việc cho đáp số nhưng cũng có thể ở mức
cao hơn là hướng dẫn cách giải. Học sinh cần biết cách sử dụng những phương
tiện hỗ trợ đó đúng chỗ, đúng lúc và đúng cách. Trong điều kiện công nghệ
thông tin và truyền thông phát triển mạnh, biết tự học có nghĩa là biết tra cứu
những thông tin cần thiết, biết khai thác những ngân hàng dữ liệu của những
trung tâm lớn, cả cả trên Internet để hỗ trợ cho nhiệm vụ học tập của mình.
Thứ tư, dạy việc học, dạy tự học không thể tách rời dạy đánh giá và tự
Internet có thể được khai thác để tạo nên những điều kiện hết sức thuận lợi và
nhiều khi không thể thiếu để học sinh học tập trong HĐ và bằng HĐ tự giác,
tích cực, chủ động và sáng tạo được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu.
1.1.1.5. Tạo niềm lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quả của bản
thân người học
Nói đến kết quả của HĐ học, ở đây ta nhấn mạnh kết quả bên trong thể
hiện ở sự chuyển biến bên trong của người học tạo thuận lợi hoặc gây khó khăn
cho quá trình học tập tiếp theo.
HĐ học tập tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo một mặt đòi hỏi và mặt
khác tạo ra niềm vui. Niềm vui này có thể có được bằng nhiều cách khác nhau
8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
như động viên, khen tưởng,... nhưng quan trọng nhất vẫn là niềm lạc quan dựa
trên lao động và thành quả học tập của bản thân người học. Giải được một bài
tập, phát hiện ra một điều mới khơi nguồn cảm hứng cho học sinh. Học sinh tự
mình vật lộn vất vả trong học tập nhưng nếu cuối cùng giải được một bài toán
thì sẽ cảm thấy vui sướng, phấn khởi hơn nhiều so với được nghe thầy giáo giải
hộ mười bài như vậy. Nếu dạy học không sát trình độ, luôn luôn ra bài quá khó
so với sức học sinh, để HS thất bại liên tiếp trong quá trình giải bài tập thì sẽ
giết chết niềm lạc quan học tập của họ. Cho nên tổ chức cho HS tập tự giác,
tích cực, chủ động và sáng tạo gắn liền với việc tạo niềm lạc quan học tập dựa
trên lao động và thành quả của bản thân người học.
1.1.1.6. Xác định vai trò mới của người thầy với tư cách người thiết kế, ủy thác,
điều kiển và thể thức hóa
Về yếu tố thầy giáo với HĐ học, HĐ hóa người học dễ dẫn tới việc ngộ
thống tri thức đã có, hướng dẫn vận dụng và ghi nhớ hoặc giải phóng khỏi trí
nhớ nếu không cần thiết.
Trong các vai trò kể trên của giáo viên, ủy thác và thể chế hóa đã được
đề cập trong lí thuyết tình huống dưới hai thuật ngữ tiếng Pháp là desvolution
và intitutionalisation (Comiti,1991 và Besot, 1997).
1.1.2. Một số phương pháp dạy học tích cực ở trường THPT hiện nay
- Phương pháp dạy học.
Theo Nguyễn Bá Kim [6], “Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động
và giao lưu của thầy gây nên những hoạt động và giao lưu cần thiết của trò
nhằm đạt được mục tiêu dạy học”.
Khái niệm phương pháp dạy học có ba đặc điểm cơ bản.
Thứ nhất, hoạt động của thầy và trò không phải là hai hoạt động song
song, độc lập nhau; hoạt động của thầy gây nên hoạt động của trò, có tác động
điều khiển hoạt động của trò. Tuy nhiên tác động không chỉ bao gồm hoạt động
của thầy mà còn có cả sự giao lưu giữa thầy với trò và hoạt động độc lập của
trò được nảy sinh, thúc đẩy từ hoạt động của thầy.
Thứ hai, phương pháp dạy học mang tính khái quát, có thể chuyển từ
trường hợp này sang trường hợp khác. Phương pháp dạy học không phải là bản
thân hoạt động và giao lưu của giáo viên ở các bình diện lẻ và cụ thể mà là hình
ảnh khái quát những hoạt động giao lưu nào đó của người thầy, thường được
hình thành do phản ánh những hoạt động giao lưu dẫn tới thành công của giáo
viên trong quá trình dạy học.
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Thứ ba, phương pháp dạy học là phương tiện để đạt mục tiêu dạy học
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
giải quyết vấn đề, động não, thí nghiệm, thực hành, tự nghiên cứu, dạy học theo
dự án, nghiên cứu trường hợp... Trong đó, một số PPDH tích cực cần được phát
triển như: đàm thoại phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy học hợp tác trong
nhóm nhỏ, dạy học theo tự học.
1.2. Phương pháp dạy học tự học trong dạy học môn Toán ở trường THPT
1.2.1. Quan niệm về tự học và phương pháp dạy học tự học
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về tự học.
Theo từ điển Giáo dục học, tự học là quá trình chủ thể nhận thức tự mình
HĐ lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng thực hành, không có sự hướng dẫn
trực tiếp của GV và sự quản lí trực tiếp của các cơ sở GD đào tạo.
Theo Nguyễn Cảnh Toàn [10], tự học là tự mình động não suy nghĩ, sử
dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả
cơ bắp (có khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động
cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách
quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, nhẫn nại, lòng say mê, biết
biến khó khăn thành thuận lợi,...) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó
của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.
Theo Lưu Xuân Mới [7], “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá
nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính sinh viên tiến hành
trên lớp hoặc ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình SGK đã quy định.
Theo Lê Khánh Bằng [4], tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng
lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lí để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về tự học nhưng các quan điểm đó
đều “gặp nhau” ở ý tưởng sau: “Tự học là học với sự tự giác độc lập ở mức độ
cao, cốt lõi của học là tự học. Hễ có học là có tự học vì không ai có thể học hộ
người khác được. Không chỉ tự mình học với sách là tự học mà có thầy trên lớp
Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi tiếp cận khái niệm phương
pháp dạy học tự học theo quan niệm của tác giả Bùi Văn Nghị.
1.2.2. Mối quan hệ giữa tự học và phương pháp dạy học tự học
Giữa DH và tự học tồn tại mối quan hệ biện chứng. Thực chất đó là mối
quan hệ giữa nội lực và ngoại lực. Trong đó, năng lực tự học của trò chính là
nội lực phát triển bản thân người học, còn sự tác động của thầy, cộng đồng lớp
13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
học, môi trường xã hội,... đóng vai trò ngoại lực đổi với sự phát triển của bản
thân người học.
Theo quy luật khách quan, nội lực bao giờ cũng là yếu tố giữ vai trò quyết
định quá trình phát triển của sự vật. Những điều này không có nghĩa phủ nhận
sạch trơn vai trò của ngoại lực. Cần thấy rằng, ngoại lực cũng có vai trò quan
trọng, ảnh hưởng đến quá trình phát triển đó theo chiều hướng thúc đẩy hoặc
kìm hãm. Chính vì vậy, sự vật đạt trình độ cao nhất khi nội lực cộng hưởng với
ngoại lực.
Sự phát triển của bản thân người học cũng không nằm ngoài quy luật trên.
Theo đó, nội lực - năng lực tự học là yếu tố quyết định còn ngoại lực - tác động
dạy của thầy, của môi trường xã hội,... sẽ thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển
đó.
Sự phát triển của người học ở một thời điểm nào đó sẽ đạt trình độ cao
nhất khi tác động dạy của thầy “cộng hưởng” với năng lực tự học của trò tức là
khi việc dạy đảm bảo sự thống nhất giữa tính “vừa sức” và yêu cầu “phát triển”
của người học. Điều này có nghĩa, những yêu cầu đặt ra đối với HS phải phù
hợp với trình độ mà HS đã đạt ở thời điểm đó, không quá khó để HS có thể
pháp học được quan tâm ngay từ bậc tiểu học và càng lên bậc cao hơn càng
được coi trọng. Đây là cách hữu hiệu để chuẩn bị cho lớp người kế tục thích
ứng với xã hội học tập, trong đó mỗi người phải có năng lực học tập liên tục
suốt đời.
Trong phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học, phương pháp tự
học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học. Một yếu tố quan trọng đảm
bảo thành công trong học tập và nghiên cứu khoa học là khả năng phát hiện kịp
thời và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Nếu rèn luyện
cho HS có được phương pháp, kĩ năng, thói quen tự học, biết linh hoạt vận
dụng những điều đã học vào những tình huống mới, biết tự lực phát hiện đặt ra
và giải quyết vấn đề gặp phải trong thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học,
chuẩn bị cho họ tiếp tục tự học khi vào đời, dễ dàng thích ứng với cuộc sống,
công tác, lao độmg trong xã hội.
Nhà trường phổ thông không thể cung cấp cho con người một vốn liếng tri
thức cho cả cuộc đời, nhưng nó có thể cung cấp một nhân lõi nào đó của các tri
thức cơ bản. Nhà trường phổ thông có thể và cần phải phát triển các hứng thú,
năng lực nhận thức của HS, cũng cấp cho họ những kĩ năng cần thiết của việc tự
học (TH).
1.2.3. Cơ sở khoa học của phương pháp dạy học tự học
Phương pháp TH có cơ sở khoa học và thực tiễn. Theo các nhà tâm lí
học: con người chỉ tư duy tích cực khi có nhu cầu, hoạt động (HĐ) nhận thức
chỉ có kết quả cao khi chủ thể ham thích, tự giác và tích cực; sẽ đem lại kết quả
giáo dục (GD) cao hơn nếu quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào
tạo, quá trình GD được biến thành quá trình tự GD. Thực tế cho thấy nếu HS
chỉ học một cách thụ động, nhồi nhét kiến thức, không có thói quen suy nghĩ
một cách sâu sắc thì kiến thức nhanh chóng bị lãng quên.
15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN