MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của chuyên đề thực tập.............................................................2
2. Mục tiêu của chuyên đề thực tập......................................................................2
3. Nội dung thực hiện chuyên đề thực tập...........................................................2
PHẦN I: LỘ TRÌNH, ĐIỂM KHẢO SÁT VÀ CÁC NỘI DUNG THỰC TẬP
1.1 Tuyến lộ trình và địa điểm khảo sát...............................................................4
1.2. Các nội dung thực tập....................................................................................6
PHẦN II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NGOÀI THỰC ĐỊA
2.1. Phương pháp quan sát...................................................................................7
2.2. Phương pháp chụp ảnh, ghi chép..................................................................7
2.3. Phương pháp đo đạc, định vị.........................................................................8
2.4. Phương pháp mô tả........................................................................................8
PHẦN III: KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN THIÊN
NHIÊN, MÔI TRƯỜNG VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1. Giới thiệu chung về Tam Đảo.........................................................................9
3.2. Đặc điểm tự nhiên...........................................................................................9
3.3. Tài nguyên thiên nhiên và môi trường........................................................10
3.4. Kinh tế - Xã hội............................................................................................16
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Giới thiệu chung về dương xỉ.......................................................................17
4.2. Dương xỉ Tam Đảo.......................................................................................18
4.3. Vai trò của cây dương xỉ...............................................................................22
4.4. Đề xuất các biện pháp bảo tồn và quản lý nhóm Dương xỉ.......................24
KẾT LUÂN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận và kiến nghị về mặt chuyên môn.....................................................27
2. Đề xuất ý kiến của nhóm về chuyến đi thực tập thiên nhiên tại Tam Đảo. .28
1
MỞ ĐẦU
2
- Tìm hiểu đa dạng sinh học của dương xỉ tại khu vực thực tập.
- Tìm hiều các thông tin cụ thể về loài dương xỉ: đa dạng về loài, số lượng, vai
trò đối với môi trường địa phương.
- Đưa ra các kiến nghị, biện pháp bảo tồn và phát triển loài dương xỉ hợp lí.
3
PHẦN I: LỘ TRÌNH, ĐIỂM KHẢO SÁT VÀ CÁC NỘI DUNG THỰC TẬP
1.1 Tuyến lộ trình và địa điểm khảo sát.
1.1.1. Tuyến lộ trình
Từ Hà Nội, theo hướng đi Vĩnh Phúc, qua khu công nghiệp Nam Thăng Long,
chừng hơn 2 giờ đồng hồ đi ô tô, chúng ta sẽ có mặt tại Vườn quốc gia Tam Đảo, nơi
có các đặc điểm địa lý, khí hậu đặc trưng cùng hệ động thực vật phong phú, đa dạng,
rất thích hợp cho việc nghiên cứu khoa học và học tập của sinh viên.
Hình 1: Bản đồ tuyến lộ trình Hà Nội - Tam Đảo
(Ảnh: Nguyễn Hà Trang)
Với những đặc điểm về địa hình, khí hậu, vị trí địa lý cùng với cảnh quan môi
trường tự nhiên phong phú và đa dạng, cùng với lộ trình (chỉ khoảng 80km từ Hà Nội,
mất chừng 2 giờ đồng hồ trên ô tô), đặc điểm kinh tế xã hội phù hợp, Tam Đảo thực sự
là địa điểm lý tưởng để thực tập thiên nhiên. Dọc theo quốc lộ 3, đến đại phận tỉnh
Vĩnh Phúc, rồi từ Thành phố Vĩnh Yên men theo tỉnh lộ 302C ta lên đến Tam Đảo.
1.1.2. Địa điểm khảo sát
Điểm khảo sát đầu tiên tại vườn quốc gia Tam Đảo đó là Trạm kiểm lâm Tam Đảo, với
tọa độ là 21o27’ Bắc, 105o38’ Đông. Với hệ động thực vật phong phú, đặc biệt là sự
xuất hiện của nhiều loài dương xỉ mọc ven đường lên đỉnh Rùng Rình. Mật độ xuất
trong khu vực thực tập qua những gì quan sát được và lĩnh hội được từ giáo viên
hướng dẫn và các cán bộ phụ trách tại Vườn quốc gia Tam Đảo. Chú ý chú thích cẩn
thận, cụ thể những thông tin quan trọng, cần thiết cho bài báo cáo thực tập.
- Tìm hiểu về các biện pháp bảo tồn và phát triển nhóm sinh vật này mà các cán
bộ của Vườn quốc gia đang áp dụng, từ đó đưa ra thêm được các biện pháp khác để tận
dụng được tối đa lợi ích của chúng đối với môi trường.
6
PHẦN II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NGOÀI THỰC ĐỊA
2.1. Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp quan trọng để đánh giá và có những kết luận ban đầu để
ghi chép trong nhật kí, tạo cơ sở để đánh giá và báo cáo sau này. Phương pháp này đòi
hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn và nhạy bén của các giác quan như thị giác, thính giác
và ghi chép lại các yếu tố liên quan đến đối tượng nghiên cứu, nhằm mô tả, phân tích,
nhận định và đánh giá vấn đề.
Phương pháp quan sát, đặc biệt là quan sát nhanh là phương pháp nghiên cứu
ngoài thực địa rất hữu ích, vì nó cung cấp cho ta lượng thông tin cần thiết về vấn đề
cần nghiên cứu ngoài thực tiễn. Muốn việc quan sát đạt hiệu quả cao nhất, cần nhanh
nhạy trong các giác quan để có thể thu thập được bằng chứng, tài liệu để phục vụ cho
công tác nghiên cứu, báo cáo. Ngoài ra cần xác định rõ mục tiêu, đối tượng, nội dung,
phạm vi cần quan sát, đưa ra các tiêu chí, chỉ dẫn khi quan sát cụ thể ngoài thực địa.
Người quan sát cần ghi chép lại những thông tin chính về nội dung, đối tượng quan
sát, đồng thời cần có sự liên hệ so sánh giữa thông tin ta quan sát được với các thông
tin khác.
Phương pháp quan sát về cơ bản có thể chia thành quan sát trực tiếp và quan sát
gián tiếp. Quan sát trực tiếp đó là quan sát trực tiếp hành vi của con người, sự vật sự
việc, đối tượng cần quan sát ngay tại bối cảnh và thời gian thực tế diễn ra. Quan sát
gián tiếp là không quan sát trực tiếp hành vi mà đi thu thập các dấu vết còn sót lại
dẫn chứng cụ thể để so sánh, lập báo cáo. Công tác đo đạc và định vị cũng cần tuân thủ
các quy tắc nhất định của việc đo đạc, định vị ngoài thực địa. Việc đo đạc hay định vị
phụ thuộc nhiều vào các máy móc, thiết bị cụ thể vì có độ chính xác cao hơn. Sau khi
quan sát tại hiện trường, chúng ta cần thêm các số liệu cụ thể, vị trí cụ thể của đối
tượng nghiên cứu, ta sử dụng phương pháp định vị và đo đạc để cung cấp thêm những
dẫn chứng quan trọng. Phương pháp ghi chép lúc này sẽ có nhiệm vụ ghi lại nhanh
những thông số mà phương pháp đo đạc và định vị vừa xác định xong.
Đối với phương pháp định vị, ta có thể định vị bằng điện thoại có GPS, định vị
toàn cầu, để lấy tọa độ cụ thể. Nếu không thể lấy được tọa độ trực tiếp, ta có thể lấy
một cách gián tiếp, đó là lấy tọa độ của khu vực gần đấy và ước lượng tọa độ cho khu
vực khảo sát của mình. Ngoài ra, để tăng tính chính xác, ta có thể mô tả thêm những
điểm mốc xung quanh để người đọc dễ hình dung.
2.4. Phương pháp mô tả
Khi lập báo cáo, việc chúng ta chỉ nêu ra tọa độ, vị trí phạm vi khảo sát hay chỉ
đưa ra những số liệu từ việc đo đạc đối tượng cần nghiên cứu, khảo sát thì sẽ khiến
người đọc khó hình dung. Vì vậy, phương pháp mô tả có vai trò làm sáng tỏ hơn, khiến
người đọc hình dung rõ ràng về đối tượng, phạm vi, nội dung vấn đề cần nghiên cứu,
nhằm cụ thể hóa hình ảnh bằng việc mô tả những nét cơ bản, những đặc điểm, điểm
mốc của đối tượng cần nghiên cứu. Ví dụ khi nói đến khu vực khảo sát ở tọa độ
21o29’B, 105o38’Đ, rất khó hình dung vị trí cụ thể của điểm khảo sát này, vì vậy, vai
trò của phương pháp mô tả sẽ cụ thể hóa điểm khảo sát này bằng những vật mốc cụ
thể, rằng điểm khảo sát này cách Trạm kiểm lâm Tam Đảo chừng 40m. Phương pháp
mô tả cũng chính là sự kết hợp của nhiều phương pháp khác nhau, như phương pháp
quan sát, đánh giá, ghi chép, định vị, hay đo đạc…
8
PHẦN III: KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN THIÊN
NHIÊN, MÔI TRƯỜNG VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.2. Đặc điểm tự nhiên
3.2.1. Địa hình
Tam Đảo là huyện miền núi, nằm trên phần chính, phía Tây Bắc của dãy núi
Tam Đảo, nơi bắt nguồn của sông Cà Lồ (sông này nối với sông Hồng và sông Cầu).
Địa hình của Tam Đảo khá phức tạp, đa dạng vì có cả vùng cao và miền núi, vùng gò
đồi và vùng đất bãi ven sông. Vùng miền núi và núi cao với diện tích khoảng 11.000
ha, chủ yếu do Vườn Quốc gia Tam Đảo và Lâm trường Tam Đảo quản lý. Diện tích
còn lại bao gồm các vùng núi thấp, vùng bãi do các xã quản lý và sử dụng.
9
Các vùng của huyện chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, mỗi vùng đều
có những điều kiện tự nhiên, những nguồn lực kinh tế đặc thù tạo nên những sắc thái
riêng trong phát triển Kinh tế - Xã hội, nhất là kinh tế nông, lâm nghiệp và dịch vụ du
lịch. Tam Đảo nổi bật với địa hình vùng núi bởi dãy núi Tam Đảo, vùng rừng quốc gia
tạo cảnh quan và những điều kiện đặc thù về yếu tố lịch sử, tín ngưỡng cho sự phát
triển du lịch, nhất là du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái và du lịch tâm linh.
3.2.2. Khí hậu
Do địa hình phức tạp, nhất là sự khác biệt về địa hình giữa vùng núi cao với
đồng bằng thấp ven sông nên khí hậu, thời tiết của huyện Tam Đảo được chia thành 2
tiểu vùng rõ rệt. Cụ thể:
- Tiểu vùng miền núi, gồm toàn bộ vùng núi Tam Đảo thuộc trị trấn Tam Đảo và
các xã Minh Quang, Hồ Sơn, Tam Quan, Đại Đình, Đạo Trù... có khí hậu mát mẻ,
nhiệt độ trung bình 18oC-19oC, độ ẩm cao, quanh năm có sương mù tạo cảnh quan đẹp.
Khí hậu tiểu vùng miền núi mang sắc thái của khí hậu ôn đới, tạo lợi thế trong phát
triển nông nghiệp với các sản vật ôn đới và hình thành các khu nghỉ mát, phát triển du
lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng vào mùa hè.
- Tiểu vùng khí hậu vùng thấp, bao gồm phần đồng bằng của các xã Minh
Quang, Hồ Sơn, Tam Quan, Đại Đình, Đạo Trù và toàn bộ diện tích của các xã còn lại.
như: địa y, rêu tản, rêu than,…; các loài cây thuốc quý cũng xuất hiện nhiều trên
đường lên đỉnh Rùng Rình, ví dụ như cây dứa rừng (quả dứa rừng điều trị bệnh sỏi
thận rất tốt), cây la hán quả (quả la hán có tác dụng thanh nhiệt, giải độc), cây hoa sơn
trà… Ngoài ra, các cây cổ thụ với tán lá rộng và rậm rạp cũng phân bố rộng khắp cánh
rừng, tạo điều kiện cư trú phù hợp cho các loài động vật, côn trùng sinh sống.
Hình 5: Dương xỉ cổ đại trên đường lên đỉnh Rùng Rình
(Ảnh: Nguyễn Hà Trang)
Hệ động vật cũng rất phong phú và đa dạng, với nhiều loài quý hiếm, đa dạng
cả về số lượng loài lần thành phần loài. Sự có mặt của nhiều loài côn trùng khác như
chuồn chuồn, bướm, xén tóc, bọ hung, vòi voi, bỏ củi, kẹp kìm, ốc cạn… cũng tạo nên
sự đa dạng sinh học cho vùng này.
11
Vườn quốc gia này cũng có 163 loài động vật thuộc 158 họ của 39 bộ, trong 5
lớp là: thú (Mammalia); chim (Aves); bò sát (Reptilia); ếch nhái (Amphibia) và côn
trùng (Insecta). Vườn có tới 239 loài chim với nhiều loài có màu lông đẹp như vàng
anh, sơn tiêu trắng, sơn tiêu hồng, sơn tiêu đỏ, có những loài quý hiếm như gà tiền, gà
lôi trắng; có 64 loài thú với những loài có giá trị như sóc bay, báo gấm, hổ, gấu ngựa,
cầy mực, vượn, voọc đen, v.v. Có 39 loài động vật đặc hữu, trong đó có 11 loài loài
đặc hữu hẹp chỉ có ở Vườn quốc gia Tam Đảo như rắn sãi angen (Amphiesma angeli);
rắn ráo thái dương (Boiga multitempolaris); cá cóc Tam Đảo (Paramerotriton
deloustali) và 8 loài côn trùng.
Hình 6: Cá cóc Tam Đảo (Nguồn: Internet)
3.3.2. Tài nguyên nước
Chất lượng nguồn nước ở đây
tương đối sạch, nước có nguồn gốc
từ các sông suối qua các khe đá chảy
vào thời Pháp cũng là điểm du lịch nghỉ mát lý tưởng, mang vẻ đẹp hoang dã, cô liêu.
Vùng này đặc trưng cho sự đa dạng sinh học của VQG Tam Đảo. Với nhiều loài động
thực vật phong phú và đa dạng cả về loài và cả những nguồn gen quý. Với những đặc
điểm địa hình, địa chất, khí hậu đặc trưng, thiên nhiên đã ban tặng cho nơi đây những
nguồn tài nguyên quý giá.
Đỉnh Rùng Rình có khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình 18 oC-19oC, độ ẩm cao,
quanh năm có sương mù tạo cảnh quan đẹp, tạo lợi thế trong phát các khu nghỉ mát,
du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng vào mùa hè. Tuy nhiên, đường lên đỉnh Rùng
Rình khá dốc và khó đi.
Hình 8: Đường lên đỉnh Rùng Rình (Ảnh: Đỗ Phương Dung)
Tháp truyền hình
Tháp truyền hình nằm trên đỉnh Thiên Thị có độ cao 1.375 m. Ðường đi lên tuy
vất vả nhưng lãng mạn, nên thơ. Dọc đường lên là hoa phong lan, hoa cúc quỳ và các
13
loài hoa dại không tên khác nở đầy lối đi, tỏa hương thơm lạ, mầu sắc rực rỡ... Lên tới
đỉnh, đứng dưới chân ngọn tháp truyền hình cao hơn 100 m, phóng tầm mắt ra bốn
phía
là
mênh
mông trời,
đất,
gió, mây...
Hình 9: Tháp truyền hình Tam Đảo (Nguồn: Internet)
Đền Bà Chúa Thượng Ngàn
Đoạn đường lên tháp truyền hình có một địa danh văn hóa tâm linh mà không
thể không nhắc tới, đó chính là Đền Bà chúa Thượng Ngàn. Ngôi đền là nơi lưu giữ
(Ảnh: Nguyễn Hà Trang)
3.4. Kinh tế - Xã hội
Thế mạnh kinh tế của Tam Đảo là du lịch. Huyện đang hoàn thiện quy hoạch
tổng thể phát triển Kinh tế - Xã hội, quy hoạch ngành và chọn lĩnh vực ưu tiên. Đối
với Tam Đảo, việc thu hút vốn đầu tư, hình thành các khu du lịch, khu vui chơi giải trí
tầm cỡ quốc gia tại sân golf, khu Tam Đảo I, Tam Đảo II, đa dạng hóa các loại hình du
lịch, các sản phẩm du lịch sẽ quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Hình 13: Chợ đêm Tam Đảo (Nguồn: Internet)
16
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Giới thiệu chung về dương xỉ
Ngành Dương xỉ (danh pháp khoa học: Pteridophyta) là một nhóm gồm khoảng
12.000 loài thực vật có mạch, không có hạt, sinh sản thông qua các bào tử.
4.1.1. Cấu tạo của dương xỉ gồm các phần chính như sau:
- Thân: Phần lớn thường là thân rễ mọc bò ngầm dưới lòng đất, nhưng đôi khi
và thân bò lan mọc bò trên mặt đất (như Polypodiaceae), hoặc thân cột bán hóa gỗ mọc
thẳng trên mặt đất (như Cyatheaceae) cao tới 20 m ở một số loài (như Cyatheabrownii
trên đảo Norfolk và Cyathea medullaris ở New Zealand).
- Lá: Phần màu xanh, có khả năng quang hợp của cây. Ở các loài dương xỉ nó
thường được nói tới như là lá lược,nhưng điều này là do sự phân chia lịch sử giữa
những người nghiên cứu dương xỉ và những người nghiên cứu thực vật có hạt, chứ
không phải là do các khác biệt trong cấu trúc.Các lá mới thông thường nở ra bằng cách
trải ra đầu lá non cuộn chặt. Sự bung ra của lá như vậy gọi là kiểu xếp lá hình thoa. Lá
được chia ra thành ba kiểu:
+ Lá dinh dưỡng (Trophophyll): Là lá không sinh ra bào tử, thay vì thế nó chỉ
sản xuất các chất đường nhờ quang hợp. Nó là tương tự như các lá xanh điển hình của
một lớp thực vật trông tương tự như dương xỉ, nó chứa 2 họ là Psilotaceae và
Ophioglossaceae . Mối quan hệ thân thuộc của hai nhóm này trước đây được coi là
không rõ ràng và chỉ được xác nhận gần đây trông qua các nghiên cứu hệ thống hóa ở
mức phân tử.
- Lớp Dương xỉ tòa sen: Lớp Dương xỉ tòa sen hay lớp Tòa sen (danh pháp
khoa học: Marattiopsida) là một nhóm dương xỉ chỉ chứa một bộ với danh pháp
Marattiales và một họ có danh pháp Marattiaceae. Lớp Marattiopsida đã rẽ nhánh ra
khỏi các nhóm dương xỉ khác từ rất sớm trong lịch sử tiến hóa của mình và hoàn toàn
khác biệt với nhiều loại thực vật quen thuộc đối với những người ở khu vực ôn đới.
Nhiều loài trong lớp này có thân rễ to, nhiều thịt và có các lá lược lớn nhất trong số
các loài dương xỉ. Họ Marattiaceae là một trong số hai họ dương xỉ túi bào tử thật,
nghĩa là túi bào tử được hình thành từ một nhóm tế bào chứ không phải túi bào tử giả
(trong đó túi bào tử sinh ra từ một tế bào ban đầu). Hiện nay, người ta công nhận 4 chi
còn sinh tồn là Angiopteris, Christensenia,Danaea và Marattia.
- Lớp Dương xỉ thật sự: là nhóm lớn nhất trong số các nhóm dương xỉ còn sinh
tồn. Chúng thường được coi là lớp có danh pháp khoa học Pteridopsida hay
Polypodiopsida, trong tiếng Việt gọi là lớp Dương xỉ, mặc dù các phân loại khác gán
nhóm này ở các cấp bậc phân loại khác nhau. Các loài dương xỉ này được gọi là túi
bào tử nhỏ là do các túi bào tử của chúng sinh ra từ một tế bào biểu bì mà không từ
một nhóm các tế bào như của các loài dương xỉ túi bào tử thật. Các túi bào tử thường
được một lớp vảy gọi là màng bao túi bào tử che phủ. Lớp màng bao này có thể che
phủ toàn bộ ổ túi bào tử, nhưng cũng có thể bị suy giảm mạnh. Nhiều loài dương xỉ túi
bào tử nhỏ có vòng nẻ xung quanh túi bào tử, có tác dụng đẩy bật các bào tử ra.
4.2. Dương xỉ Tam Đảo
Với khí hậu cùng dạng địa hình phù hợp, Tam Đảo là nơi lý tưởng để những
loài dương xỉ sinh sôi và phát triển.
Dương xỉ thật sự (hay dương xỉ thường) là nhóm loài lớn nhất trong số các
nhóm dương xỉ còn tồn tại, nó được tìm thấy rộng rãi ở các vùng nhiệt đới Châu Á,
chúng phát triển trên những tảng đá hoặc khe suối, đôi khi chúng cũng được tìm thấy
18
chim kép với các lá chét mọc đối, là các loài có tính lưỡng hình, các lá sinh sản thu
nhỏ lại hơn và được che phủ ở mặt dưới bằng các cụm túi bào tử lõm xuống. Do khí
hậu thuận lợi, Tam Đảo cũng chính là nơi lý tưởng để loài dương xỉ Danaea phát triển.
Hình 17: Dương xỉ Danaea mọc trên đoạn đường lên VQG Tam Đảo
(Ảnh: Đỗ Phương Dung )
Họ Ráng Đà Hoa Davalliaceae: họ này mọc ở Tam Đảo nhưng không nhiều,
chủ yếu là chi Nephrolepis, loài này có rễ mang nhiều củ mọng nước chứa nhiều bột,
ăn được, có thể giải khát nên còn gọi là củ khát nước.
Hình 18: Davalliaceae mọc ở Tam Đảo
(Ảnh: Đỗ Phương Dung)
20
Dương xỉ tòa sen: là một nhóm
dương xỉ chỉ chứa một bộ với danh
pháp Marattiales và một họ có danh
pháp Marattiaceae. Ở Tam đảo hiện
nay, một số đại diện của nhóm Dương
xỉ tòa sen có thể kể ở đây, đó là:
Marratia, Danaea, Archangiopteris,
Macroglossum,
Protangiopteris,…
Nhìn chung, sự phân bố của nhóm
dương xỉ này ở Tam Đảo khá đồng
đều. Tuy nhiên, cũng giống như nhóm
Dương xỉ thật sự, một số họ dương xỉ,
hoặc loài đặc trưng thường không phân
bố rộng khắp, thông thường là phân bố
thuốc quý làm thuốc chữa thận hư, ỉa chảy, bong gân, tụ máu, sai khớp, phong thấp và
cầm máu...
- Dương xỉ dùng làm thức ăn: Theo cư dân sống ở VQG Tam Đảo, một số loài
dương xỉ có thể làm thức ăn rất tốt cho cơ thể. Những loài dương xỉ không có lông
bám thường được sử dụng làm thức ăn coi như một loại rau xanh cung cấp chất xơ và
vitamin.
22
- Dương xỉ còn có tác dụng làm cây cảnh: Dương xỉ là một loài cây đẹp, có giá
trị thẩm mĩ cao cho nên ở một số nơi kể cả ở Tam Đảo người ta thường trồng dương xỉ
trong nhà như cây cảnh, vừa tạo cảnh quan đẹp gẫn gũi với thiên nhiên, vừa có thể sử
dụng dương xỉ vào những vai trò khác của nó.
4.3.2. Đối với hệ sinh thái tự nhiên, môi trường và đa dạng sinh học:
- Đối với môi trường: Các nhà khoa học đã tìm thấy loài dương xỉ có khả năng
lớn rất nhanh và hấy thụ asen. Họ cho rằng loài thực vật này(Pteris vittata) có thể sử
dụng để làm sạch đất và nước đã bị ô nhiễm bởi các nguyên tố độc hại hay các hợp
chất của chúng. Các nhà khoa học khi phân tích lá của chúng, họ phát hiện nồng độ
asen lớn gấp 200 lần so với vùng đất
xung quang. Trên những vùng đất
không bị ô nhiễm, hàm lượng asen
trong dương xỉ thay đổi từ 11.8 - 64
phần triệu. Tuy nhiên những cây dương
xỉ mọc trong vùng đất bị ô nhiễm lại có
nồng độ cao từ 1.442 – 7.526 phần
triệu. Asen phần lớn tập trung trên
những chiếc lá xanh dải hay lá hình
lược của dương xỉ. Các nhà nghiên cức
cho biết loài dương xỉ này cứng và phát
lưới thức ăn và chuỗi thức ăn góp phần làm cân bằng hệ sinh thái. Tuy nhiên mặt tiêu
cực của dương xỉ đối với hệ sinh thái là nhiều loài dương xỉ đeo bám vào các cây thân
gỗ khác, nhiều cây xanh ở Tam Đảo có lớp vỏ xù xì liên là nơi thích hợp cho dương xỉ
sinh sôi và phát triển.
4.4. Đề xuất các biện pháp bảo tồn và quản lý nhóm Dương xỉ
23
Từ những kinh nghiệm thực tập thiên nhiên trong chuyến đi Tam Đảo vừa rồi,
kết hợp với những kiến thưc thầy cô giảng trên lớp và sự tìm hiểu qua sách báo,
internet, nhóm chúng em nhận thấy việc bảo tồn, quản lý và phát triển nhóm Dương xỉ
ở VQG Tam Đảo là hết sức quan trọng và cần thiết vì nó có tác động tới con người, hệ
sinh thái và Môi trường nơi đây. Với những gì mà chúng em tìm hiểu được về vai trò
đặc điểm của một số loài dương xỉ ở Tam Đảo, qua thảo luận, nhóm chúng em xin đề
xuất một số giải pháp sau nhằm tăng cường bảo tồn và quản lý nhóm Dương xỉ, qua đó
nhằm bảo vệ hệ sinh thái, thiên nhiên và môi trường nơi đây. Các biện pháp đề xuất
bao gồm:
- Vẫn còn tồn tại hình ảnh khách du lịch thiếu ý thức vứt rác bừa bãi ở nhiều
nơi trong VQG Tam Đảo, thậm chí là trên tận đỉnh Rùng Rình chúng em còn phát hiện
thấy rác thải của du khách vứt không đúng nơi quy định, nằm ngổn ngang bừa bãi
khắp nơi. Điều này có ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường sống của nhiều loài, trong
đó có dương xỉ; rác thải làm ô nhiễm môi trường, hệ sinh thái, làm ảnh hưởng tới sự
phát triển của loài dương xỉ. Vì vậy, nhóm chúng em đề nghị, ban quản lý VQG Tam
đảo và UBND huyện Tam Đảo cần có những biện pháp hữu hiệu, ngặn chặn những
hành vi gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm rừng, gây ảnh hưởng tới loài dương xỉ nói
riêng và các sinh vật khác trong VQG Tam Đảo nói chung.
Hình 23: Du khách vứt rác gần đỉnh Rùng Rình
(Ảnh: Nguyễn Thị Tơ)