LUẬN văn THẠC sĩ phát triển năng lực sư phạm của giáo viên trường quân sự quân khu 7 hiện nay - Pdf 52

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên có vai trò rất quan
trọng, là động lực để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và ảnh hưởng trực
tiếp đến sự thành công hoặc thất bại của sự nghiệp giáo dục ở mỗi quốc gia.
Nhận thức rõ điều đó, Đảng ta khẳng định đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là một kế sách, quốc sách hàng
đầu. Trong đó xác định những nhiệm vụ chủ yếu: “Coi trọng quản lý chất
lượng; phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, đáp ứng yêu
cầu đổi mới giáo dục và đào tạo. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo
từng cấp học và trình độ đào tạo” [9, tr.117].
Giáo viên và chất lượng đội ngũ giáo viên là nhân tố quyết định chất
lượng giáo dục, đồng thời là yếu tố then chốt của mọi sự cải cách, đổi mới
giáo dục. Bất kể thời đại nào, không có thầy giỏi cả về năng lực, chuyên môn
và phẩm chất đạo đức thì khó có thể có một nền giáo dục có chất lượng.
Đối với nhà trường quân đội cần phải quan tâm bồi dưỡng năng lực sư
phạm, nhằm xây dựng đội ngũ nhà giáo có năng lực tổng hợp, khái quát hoá
cao, tư duy sư phạm phát triển cùng hệ thống phẩm chất đạo đức và giá trị
tương ứng với yêu cầu của nghề nghiệp sư phạm.
Những năm qua, chất lượng đội ngũ giáo viên Trường Quân sự Quân
khu 7 từng bước được nâng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn mục tiêu, yêu cầu
giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học, nỗ lực phấn đấu nâng cao phẩm
chất và năng lực sư phạm, trong đó một số giáo viên có sự phát triển khá tốt
về kỹ năng và tay nghề sư phạm, chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa
học của đội ngũ giáo viên ngày càng phát triển.
Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ giáo viên Trường Quân sự Quân khu 7
còn bộc lộ những khuyết điểm, có mặt chưa thực sự ngang tầm với nhiệm vụ
giáo dục, đào tạo ngày càng cao trong giai đoạn mới. Một bộ phận giáo viên
1




Thuyết hội tụ hai yếu tố về sự phát triển năng lực con người, đại biểu là
nhà tâm lý học người Đức Stecnơ.V cho rằng sự tác động qua lại giữa hai yếu
tố môi trường và yếu tố di truyền cá nhân quyết định trực tiếp tới sự hình
thành và phát triển năng lực của con người, trong đó yếu tố di truyền giữ vai
trò quan trọng, quyết định trực tiếp đến sự hình thành, phát triển năng lực của
con người.
Nhìn một cách tổng quát thì kết quả nghiên cứu của tâm lý học phương
Tây đã có những đóng góp nhất định vào sự phát triển lý luận khoa học
nghiên cứu về sự hình thành và phát triển năng lực con người, chỉ ra những
yếu tố, hành vi cần đạt được trong quá trình phát triển năng lực cho mỗi cá
nhân. Tuy nhiên, các hướng nghiên cứu này lại tuyệt đối hóa một yếu tố nào
đó, nên chưa đánh giá đúng, đủ vai trò của từng yếu tố trong sự hình thành và
phát triển năng lực con người.
Trong Tâm lý học Xô Viết, có thể kể đến các nghiên cứu của:
Chieplôp.B.M; Rubinstêin.L; Lêonchiep.A.N; Côvaliôp.A.G; Ananhiep.B.G;
Rudik.P.A; Lâytex.N.X....
Chieplôp.B.M quan niệm về sự hình thành và phát triển năng lực: “Các
bẩm sinh có thể là các đặc điểm giải phẫu sinh lí, có nghĩa là các tố chất,
chúng là cơ sở của sự phát triển năng lực, còn năng lực bao giờ cũng là kết
quả của sự phát triển” [56, tr.25].
Rubinstêin.X.L thì cho rằng: “Các năng lực của con người không chỉ
được hình thành trong quá trình nắm sản phẩm do con người tạo ra trong quá
trình phát triển lịch sử, mà cả trong quá trình tạo ra sản phẩm, quá trình tạo ra
thế giới đối tượng, đồng thời cũng là quá trình phát triển chính bản thân
mình” [56, tr.23]. Trên cơ sở phân biệt giữa sự phát triển, sự tích luỹ, sự
truyền đạt kinh nghiệm xã hội lịch sử và cơ chế phát triển năng lực,
Rubinstêin.X.L đã đưa ra nguyên tắc phát triển năng lực cho con người, ông
viết: “Sự phát triển các năng lực diễn ra theo đường xoắn ốc: là sự hiện thực
3



làm xuất hiện những giai đoạn nhất định của sự phát triển xã hội là nguyên
nhân làm phát triển năng lực của con người” [38, tr.407].
Lâytex.N.X khẳng định: “Năng lực là những thuộc tính tâm lý nào của
cá nhân mà là điều kiện để hoàn thành tốt đẹp những loại hoạt động nhất
định” [20, tr.130]. Ở đây, ông quan tâm tới chất lượng các loại hoạt động mà
trong đó chỉ có các thuộc tính tâm lý của cá nhân chi phối, ảnh hưởng làm
tiền đề cho hoạt động đó đi tới thành công thì gọi là năng lực.
Tóm lại, những nghiên cứu của các nhà tâm lý học Xô Viết đã có
những đóng góp quan trọng vào lý luận phát triển năng lực con người dưới
góc độ tâm lý học.Các nhà tâm lý học Xô Viết đã lý giải khá đầy đủ, cụ thể và
khoa học về sự hình thành năng lực con người, đánh giá chính xác vai trò của
từng nhân tố trong sự hình thành, phát triển năng lực. Đồng thời, các quan
điểm đều đi đến khẳng định: năng lực tồn tại trong hoạt động, gắn với một
hoạt động cụ thể.
* Những nghiên cứu ở trong nước
Tâm lý học Việt Nam nói chung và tâm lý học quân sự nói riêng có khá
nhiều nghiên cứu khác nhau về năng lực và phát triển năng lực con người, đặc
biệt là những nghiên cứu về năng lực sư phạm, tiêu biểu như:
Tác giả Phạm Minh Hạc khi nghiên cứu về năng lực con người đã chỉ
ra vai trò của tri thức, kỹ xảo, kỹ năng trong cấu trúc năng lực, đồng thời làm
sáng tỏ con đường hình thành và phát triển năng lực của cá nhân phụ thuộc
vào điều kiện kinh tế của xã hội, của cộng đồng mà chủ thể sống trong đó và
phụ thuộc vào hoạt động tương ứng của cá nhân [16].
Nguyễn Quang Uẩn chỉ rõ vai trò quan trọng của yếu tố sinh vật, những
đặc điểm bẩm sinh di truyền là những điều kiện vật chất không thể thiếu trong
quá trình hình thành, phát triển năng lực cá nhân, khẳng định năng lực được thể
hiện trong hoạt động và hình thành, phát triển trong chính hoạt động đó [56].
Nguyễn Thạc và Phạm Thành Nghị coi năng lực sư phạm là loại năng

Đinh Hùng Tuấn trong nghiên cứu “Rèn luyện phong cách của người giáo
6


viên khoa học xã hội và nhân văn ở các trường Đại học quân sự” [52, tr.25],đã
chỉ rõ: Cùng với những phẩm chất sư phạm, tri thức, kỹ xảo, kỹ năng, khả
năng giao tiếp sư phạm thì năng lực sư phạm là một thành phần quan trọng
tạo nên phong cách sư phạm và là một tiêu chí để đánh giá phong cách sư
phạm của người giảng viên khoa học xã hội và nhân văn. Rèn luyện phong
cách sư phạm phải thường xuyên chú trọng toàn diện, trong đó có rèn luyện
năng lực sư phạm.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, có nhiều công trình đi sâu nghiên
cứu về năng lực sư phạm của giáo viên, và đã có nhiều đóng góp lý luận và
thực tiễn:
Đàm Minh Sơn trong luận văn thạc sĩ tâm lý học năm 2004 “Nghiên
cứu phát triển năng lực sư phạm cho học viên Hệ sư phạm trong quá trình đào
tạo tại Học viện Chính trị Quân sự”, đã đưa ra khái niệm về phát triển năng
lực sư phạm cho học viên Hệ sư phạm trong quá trình đào tạo tại Học viện
Chính trị Quân sự và xác lập được một mô hình về năng lực sư phạm của
người giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự làm cơ sở tiến hành
phát triển năng lực sư phạm cho học viên Hệ sư phạm trong quá trình đào tạo
tại Học viện Chính trị Quân sự [37].
Nguyễn Ngọc Sáng về “giải pháp nâng cao năng lực sư phạm cho giảng
viên khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội” - luận văn
thạc sỹ tâm lý học năm 2010, đã chỉ ra: “năng lực sư phạm của giáo viên khoa
học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội là tổng hợp các phẩm
chất và sinh lí của người giảng viên để thực hiện thành công các mục tiêu,
nhiệm vụ đào tạo ở các trường sĩ quan quân đội, bảo đảm cho hoạt động sư
phạm của họ đạt kết quả cao nhất” [36,tr.83].Đồng thời, tác giả đã xây dựng
bộ tiêu chí đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng

lực sư phạm của giáo viên, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp tâm lý - sư
phạm phát triển năng lực sư phạm của giáo viên Trường Quân sự Quân khu 7
hiện nay.
8


* Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận giải và làm rõ cơ sở lý luận về năng lực, phát triển năng lực sư
phạm của giáo viên Trường Quân sự Quân khu 7.
Khảo sát, đánh giá thực trạng năng lực sư phạm của giáo viên Trường
Quân sự Quân khu 7 hiện nay.
Đề xuất một số biện pháp tâm lý - sư phạm phát triển năng lực sư phạm
của giáo viên Trường Quân sự Quân khu 7 hiện nay.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Cán bộ, Giáo viên, Học viên Trường Quân sự Quân khu 7.
* Đối tượng nghiên cứu
Phát triển năng lực sư phạm của giáo viên
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, làm rõ các biểu hiện, các yếu tố ảnh
hưởng và thực trạng năng lực sư phạm.
Phạm vi khảo sát thực tế tập trung chủ yếu ở các khoa giáo viên; cán bộ
quản lý học viên các đơn vị và học viên cao đẳng quân sự địa phương Trường
Quân sự Quân khu 7.
Các tư liệu, số liệu phục vụ công tác nghiên cứu được giới hạn từ năm
2012 đến nay.
5. Giả thuyết khoa học
Năng lực sư phạm của giáo viên Trường Quân sự Quân khu 7 là yếu tố
đặc biệt quan trọng quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo của Nhà trường.
Nếu chỉ ra được những đặc điểm, biểu hiện năng lực sư phạm và những

xem xét đến vai trò, mối quan hệ các thành tố trong hệ thống và sử dụng tổng
hợp các biện pháp tác động đến cả ba thành tố trong mối quan hệ, liên hệ
thống nhất, biện chứng.
Nguyên tắc tiếp cận thực tiễn - lịch sử:quá trình hình thành, phát triển
năng lực sư phạm giáo viên Trường Quân sự Quân khu 7 gắn với môi trường,
điều kiện hoạt động thực tiễn sư phạm, thực tiễn hoạt động quân sự đặc thù
10


của một nhà trường quân sự quân khu. Do đó, việc nghiên cứu năng lực sư
phạm của giáo viên cần đặt trong bối cảnh thực tiễn - lịch sử cụ thể.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khách quan
của tâm lý học như: phương pháp điều tra; phương pháp quan sát; phương
pháp tọa đàm, phỏng vấn; phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp
phân tích kết quả hoạt động; phương pháp xin ý kiến chuyên gia; phương
pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học, nhằm đánh giá khách quan, rút ra
kết luận chính xác có cơ sở khoa học các vấn đề nghiên cứu.
7. Ý nghĩa của luận văn
Luận vănđã xây dựng được bộ khái niệm công cụ về năng lực, năng lực
sư phạm và phát triển năng lực sư phạm của giáo viên Trường quân sự Quân
khu 7.Phân tích và làm rõ những đặc điểm hoạt động sư phạm của đội ngũ
giáo viên và chỉ ra được 10 biểu hiện năng lực sư phạm của giáo viên Trường
quân sự Quân khu 7; Đồng thời, đã xây dựng được bộ công cụ đánh giá khách
quan, chính xác,qua đó mô tả được bức tranh tổng quát thực trạng năng lực sư
phạm của giáo viên. Đề xuất được hệ thống các biện pháp tâm lý - sư phạm
phát triển năng lực sư phạm của giáo viên Trường Quân sự Quân khu 7 hiện
nay.
Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo, nghiên cứu và
vận dụng đối với Đảng ủy, Ban Giám hiệu Trường Quân sự Quân khu 7, các

tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả một
hoạt động nào đó” [17, tr.145]. Theo ông, năng lực luôn gắn liền với một hoạt
động nhất định; năng lực của một con người cụ thể được biểu hiện trong hoạt
động và bằng kết quả của hoạt động. Năng lực cũng được hiểu như những đặc
điểm tâm lý cá biệt tạo thành điều kiện quy định tốc độ, chiều sâu, cường độ
của việc tác động vào đối tượng lao động.
Tiếp cận năng lực là tổ hợp các phẩm chất tâm lý và sinh lý của cá nhân
để hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó, theo Rudik.P.A: “Năng lực
là tính chất tâm - sinh lý của con người chi phối các quá trình tiếp thu các
12


kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất
định” [38, tr.401]. Ở đây, ông đã mở rộng khái niệm năng lực mà trong đó các
điều kiện tâm - sinh lý có sự chi phối các loại hoạt động của con người.
Chieplôp.B.M xác định: “Năng lực là những đặc điểm tâm lý cá nhân liên quan
đến tính kết quả trong thực hiện hoạt động này hay hoạt động khác” [12, tr.24].Tác
giả xem xét năng lực từ góc độ khác biệt tâm lý cá nhân giữa người này với
người khác thông qua kết quả hoạt động.
Nguyễn Quang Uẩn và các nhà tâm lý học sư phạm thì cho rằng: “Năng
lực là một tổ hợp những đặc điểm tâm lý và sinh lý cá nhân, đang là điều kiện
chủ quan để cá nhân đó thực hiện có kết quả một hoạt động” [57, tr.172]. Với
cách xem xét này các nhà tâm lý học sư phạm đã coi “những đặc điểm tâm lý
và sinh lý cá nhân” là điều kiện chủ quan của năng lực và năng lực chỉ được
biểu hiện trong quá trình hoạt động.
Vũ Dũng trong từ điển tâm lý học cũng đưa ra quan niệm về năng lực: “Là tập
hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên
trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định” [13, tr.160].
Theo tác giả, bất cứ một phẩm chất đơn lẻ nào của cá nhân cũng không thể đảm bảo
hoàn thành tốt đẹp một hoạt động nhất định. Sự thành công của bất cứ một hoạt động

Barnett cho rằng: “Năng lực là một tập hợp các kiến thức, kỹ năng và
thái độ phù hợp với một hoạt động thực tiễn” [Dẫn theo 15].
Tác giả Bloom Benjamin (1956) là người đầu tiên đưa ra mô hình năng
lực (Competense Model) đó là tổ hợp của kiến thức, kỹ năng và đặc điểm cá
nhân (thái độ bản thân) cần để hoàn thành tốt một vai trò hoặc công việc. Đây
là mô hình năng lực được sử dụng trong quản trị nhân sự và phát triển năng
lực cá nhân dựa trên ba nhóm tiêu chuẩn chính: 1- Kiến thức (Knowledges)
thuộc về năng lực tư duy; 2- Kỹ năng (Skills) thuộc về kỹ năng thao tác và 3 Phẩm chất hay thái độ (Attitude) thuộc về cảm xúc, tình cảm [Dẫn theo 19].
Theo Tổ chức Lao động thế giới - ILO, “Năng lực là sự vận dụng các kỹ
năng, kiến thức và thái độ để thực hiện các nhiệm vụ theo tiêu chuẩn công
nghiệp và thương mại dưới các điều kiện hiện hành”. Năng lực thực chất là sự
14


tích hợp của các thành tố kiến thức - kỹ năng - thái độ của chủ thể tạo ra khả
năng thực hiện một công việc nhất định có kết quả [Dẫn theo 46].
Martin và các cộng sự cho rằng, năng lực bao giờ cũng là năng lực để
hành động. Vì thế, chỉ có thể làm rõ khái niệm năng lực qua các đặc trưng chủ
yếu của nó, theo đó các tác giả khẳng định: năng lực được xây dựng trên một
tập hợp các nguồn lực bên trong cá nhân như: kiến thức, kỹ năng, thái độ và
nguồn lực bên ngoài như: tài liệu, sách vở, đồng nghiệp [45, tr.158].
Tác giả Phạm Đỗ Nhật Tiến cho rằng: năng lực là sự kết hợp một cách linh
hoạt và có tổ chức của kiến thức, thái độ và kỹ năng. Theo đó, khi nghiên cứu về
năng lực nghề nghiệp của người giáo viên, Phạm Đỗ Nhật Tiến quan niệm: “Năng
lực nghề nghiệp được hiểu là tổng thể của những kiến thức, kỹ năng, thái độ mà
giáo viên cần có để xử lý thành công trước sự đa dạng của các tình huống giảng
dạy, giáo dục” [45, tr.183]. Theo tác giả, năng lực nghề nghiệp được hình thành từ
quá trình đào tạo trong trường sư phạm và phát triển qua thực tế đứng lớp.
Trên cơ sở phân tích kế thừa quan điểm của các nhà tâm lý học nói
chung, tâm lý học sư phạm và tâm lý học quân sự nói riêng về năng lực, có

tại song song mà chúng có mối quan hệ thống nhất hữu cơ, tác động qua lại, chi
phối và chuyển hóa lẫn nhau theo yêu cầu của hoạt động nhất định.
Năng lực là sự khác biệt tâm lý của cá nhân người này khác người kia, nếu
một sự việc thể hiện rõ tính chất mà ai cũng như ai thì không thể nói về năng lực.
Năng lực chỉ là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả việc thực hiện một
hoạt động nào đó chứ không phải bất kỳ những sự khác nhau cá biệt chung chung nào.
Năng lực của cá nhân phản ánh mức độ đạt được của kiến thức, thái độ,
kỹ năng và chất lượng, hiệu quả trong một hoạt động cụ thể nào đó của họ.
Nhưng để có hiệu quả hoạt động, cá nhân phải có những phẩm chất nhân cách
tương ứng, phù hợp với hoạt động đó. Đặc trưng cơ bản của chủ thể có năng
lực được biểu hiện: có sự hiểu biết và sự tập trung trí lực, thể lực vào hoạt
động; nhanh chóng chiếm lĩnh tri thức, có thái độ tích cực, phù hợp, chuyên
tâm với công việc và bảo đảm sự thuần thục các kỹ năng của hoạt động, làm
16


cho hoạt động diễn ra nhanh chóng đạt hiệu quả theo mục đích đã định.
Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung
và năng lực chuyên môn (năng lực chuyên biệt), trong đó, năng lực sư phạm
là một loại năng lực chuyên biệt.
* Năng lực sư phạm của giáo viên
Trong lịch sử phát triển của tâm lý học thì tâm lý học sư phạm là một
chuyên ngành phát triển sớm nhất khi nó được vận dụng tri thức tâm lý học
vào công tác giảng dạy và giáo dục ở nhà trường.
Quá trình phát triển, tâm lý học sư phạm đã mở ra nhiều hướng nghiên
cứu khác nhau. Một trong những hướng nghiên cứu chủ yếu đó là nghiên cứu
về người thầy và nâng cao hiệu quả hoạt động sư phạm của người thầy, trong
đó có năng lực sư phạm của người thầy giáo. Các công trình nghiên cứu của
Vưgôtxki.L.X, Ganpêrin.P.Ia, Lêonchiep.A.N, Encônhin.Đ.Bđã chỉ ra khi
nghiên cứu năng lực sư phạm phải tiếp cận trên các hướng sau:

thụ phương pháp lĩnh hội tri thức và là hoạt động chủ yếu của người giáo
viên. Chức năng giáo dục trong hoạt động sư phạm của người giáo viên được
tiến hành đồng thời cùng với hoạt động dạy học để phát triển các phẩm chất
nhân cách cần thiết cho người học theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo của từng
ngành nghề đặt ra. Quá trình thực hiện nhiệm vụ dạy học, giáo dục, người
giáo viên còn phải tham gia nghiên cứu khoa học để tự bồi dưỡng trình độ
chuyên sâu, nâng cao chất lượng dạy học, đồng thời có điều kiện phát triển
trình độ năng lực của bản thân đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ.
Việc tổ chức, điều khiển công tác học tập độc lập của các học viên được
thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động tự học, tự nghiên cứu và tự ôn luyện
có giáo viên hướng dẫn giúp học viên củng cố kiến thức đã lĩnh hội trên lớp,
tìm ra phương pháp ôn luyện thích hợp, nắm được bản chất vấn đề nghiên cứu
thuộc lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành và mở rộng tri thức cho bản thân;
đồng thời giúp họ hình thành phương thức, rèn luyện các phẩm chất nhân
cách, nét tính cách phù hợp với hoạt động nghề nghiệp chuyên môn của bản
thân trong quá trình học tập.

18


Nghiên cứu hoạt động sư phạm của người giáo viên ở các Nhà trường
Quân đội có thể khái quát 4 đặc điểm sau đây:
Hoạt động sư phạm của giáo viên là hoạt động trực tiếp xây dựng thế
giới quan, phương pháp luận và các phẩm chất nhân cách cho người học.
Hoạt động sư phạm của giáo viên là hoạt động vừa mang tính khoa học,
tính nghệ thuật và tính sáng tạo cao.
Hoạt động sư phạm của giáo viên là hoạt động phản ánh nhân cách của
người giáo viên trong môi trường hoạt động quân sự.
Hoạt động sư phạm của giáo viên là hoạt động gắn với công tác tuyên
truyền và đấu tranh bảo vệ các quan điểm, đường lối của Đảng.

độ và kỹ năng sư phạm của mỗi giáo viên.
Kiến thức (hiểu biết) của giáo viên: tầm hiểu biết rộng về những kiến thức
tự nhiên, kinh tế, chính trị - xã hội; thường xuyên theo dõi những thành tựu mới
trong lĩnh vực khoa học thuộc môn mình phụ trách; nắm vững những kiến thức
chuyên ngành; nắm chắc đặc điểm giáo dục và mục tiêu, yêu cầu đào tạo; hiểu
biết về trình độ nhận thức và đặc điểm tâm sinh lý của người học.
Thái độ của giáo viên (thái độ nghề nghiệp): yêu nghề dạy học, biết hi
sinh vì lợi ích tập thể, vì sự phát triển nhân cách của học viên; tinh thần trách
nhiệm và nhiệt tình trong công tác; tích cực tìm tòi, học hỏi, sáng tạo để đem
lại chất lượng cao nhất khi giảng dạy, luôn suy nghĩ về nội dung, phương
pháp giảng, về thái độ tiếp nhận bài học của học viên để tự đổi mới; nhiệt tình
trong xây dựng đơn vị; góp ý chân thành, giúp đỡ đồng nghiệp, có ý thức tiếp
thu ý kiến đóng góp của mọi người đối với bản thân; tôn trọng người học,
phong cách dân chủ trên cơ sở yêu cầu cao đối với học viên; tính lạc quan sư
phạm, niềm tin vào sức mạnh giáo dục, tin vào con người.
Kỹ năng của giáo viên (kỹ năng sư phạm): kỹ năng giao tiếp sư phạm và
sử dụng ngôn ngữ; truyền đạt tài liệu rõ ràng, dễ hiểu và làm cho nó trở nên
vừa sức với học viên; kỹ năng gây hứng thú và kích thích học viên suy nghĩ
tích cực và độc lập; kỹ năng tạo ra tâm thế có lợi cho sự lĩnh hội, học tập; kỹ
20


năng cảm hóa học viên; kỹ năng tiên đoán sự phát triển, vừa nắm được
nguyên nhân và mức độ phát triển của học viên; kỹ năng tổ chức và cổ vũ
học viên; kỹ năng phát hiện và giải quyết tình huống sư phạm.
Các thành tố nhận thức, thái độ, kỹ năng của giáo viên là một chỉnh thể
thống nhất, quan hệ gắn bó với nhau, cùng đáp ứng yêu cầu của hoạt động sư
phạm, bảo đảm cho người giáo viên nhanh chóng thành thạo và đạt được hiệu
quả cao trong lĩnh vực hoạt động sư phạm.
Trong đó kiến thức là cơ sở để hình thành năng lực sư phạm, là nguồn lực

hành và phát triển các khóa học nằm trong chương trình giảng dạy của nhà
trường đồng thời cũng là người kiểm tra, ra đề, chấm điểm thi để đánh giá
chất lượng từng học viên”[51]
Đội ngũ giáo viên trong nhà trường quân sự là những người trực tiếp tiến
hành các hoạt động sư phạm quân sự. Với tư cách là nhà sư phạm, nhà khoa
học và nhà hoạt động chính trị - xã hội, họ đã góp phần to lớn trong việc thực
hiện các mục tiêu, yêu cầu giáo dục, đào tạo ở nhà trường quân sự đáp ứng
với đòi hỏi khách quan của quân đội, của xã hội. Trong quá trình dạy học
người giáo viên vừa là người trực tiếp truyền thụ phương pháp tiếp thu kiến
thức vừa là người tổ chức, chỉ đạo quá trình nhận thức của người học.
Theo đó có thể hiểu: Giáo viên Trường quân sự Quân khu 7 là lực
lượng trực tiếp làm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở các khoa
giáo viên (Khoa khoa học xã hội và nhân văn; Khoa quân sự địa phương;
Khoa văn hóa; Khoa binh chủng; Khoa binh chủng hợp thành; Khoa
chuyên môn kỹ thuật) và đội ngũ giáo viên kiêm nhiệm ở các phòng, ban,
đơn vị quản lý học viên. Họ là lực lượng quyết định chất lượng giáo dục,
đào tạo ở Nhà trường.
Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi quan niệm: “Năng lực sư phạm của
giáo viên Trường Quân sự Quân khu 7 là tổ hợp các thành tố kiến thức, thái độ và
kỹ năng của giáo viên, đáp ứng yêu cầu hoạt động sư phạm, bảo đảm cho hoạt
động sư phạm đạt hiệu quả theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo của Nhà trường”.
22


Với mục tiêu, yêu cầu đào tạo của Nhà trường: “Đào tạo, bổ túc, bồi
dưỡng, nâng cao trình độ cho cán bộ sỹ quan các đơn vị và cán bộ quân sự
địa phương, đào tạo sĩ quan dự bị, hạ sĩ quan chỉ huy và nhân viên chuyên
môn kỹ thuật, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ lãnh đạo các địa
phương và giáo dục quốc phòng - an ninh cho sinh viên các Trường đại học,
cao đẳng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh theo phân tuyến nhằm đáp

phạm trù triết học dùng để khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện” [14, tr.227].
Có thể coi phát triển là một dạng đặc biệt của sự vận động, quá trình phát
triển sẽ xuất hiện những tính quy định mới cao hơn về chất, nhờ vậy mà tăng tính
phức tạp của sự vật và của sự liên hệ, làm cho cơ cấu tổ chức, phương thức tồn tại
và vận động của sự vật cùng chức năng của nó ngày càng hoàn thiện hơn.
Dựa trên nguyên lí phát triển của chủ nghĩa duy vật biện chứng, các nhà
tâm lý học mác xít khi xem xét sự phát triển tâm lý đã chỉ rõ: “Phát triển tâm
lý ở con người đó là sự hình thành và hoàn thiện các quá trình tâm lý và các
thuộc tính nhân cách diễn ra nhờ kết quả tích cực hoá cá nhân, có nghĩa là tích
cực hoá hoạt động của con người dưới ảnh hưởng quyết định của môi trường
xã hội vào giáo dục với tư cách là sự mở rộng không ngừng các mâu thuẫn
bên trong nảy sinh giữa sự phát triển các nhu cầu mới và việc thiếu vắng các
khả năng thoả mãn chúng” [43, tr.12].
Từ đó có thể hiểu phát triển tâm lý là sự thay đổi trong quan niệm về sự vật
hiện tượng trong quá trình phản ánh tâm lý, mà đặc trưng của nó là sự thay đổi
về cấu trúc cái được phản ánh và phương thức phản ánh chúng. Phát triển tâm lý
chính là sự phát triển ngày càng phức tạp, hoạt động của con người từ mức độ
thấp đến mức độ cao để phù hợp với những đòi hỏi ngày càng tăng lên của xã
hội. Trong phát triển tâm lý, hoạt động tích cực của con người dưới ảnh hưởng
của môi trường xã hội và giáo dục có ý nghĩa quyết định đối với sự tăng lên về
số lượng và chất lượng các phẩm chất tâm lý của mỗi cá nhân.

24


Quan điểm về phát triển tâm lý của tâm lý học mácxít là cơ sở lý luận để
giải quyết vấn đề phát triển năng lực sư phạm của giáo viên Trường Quân sự
Quân khu 7. Theo chúng tôi: “Phát triển năng lực sư phạm của giáo viên
Trường Quân sự Quân khu 7 là sự gia tăng về chất lượng và số lượng kiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status