Pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở việt nam - Pdf 52

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
1

MỞ ĐẦU

Chương 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN

6

TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI

1.1.

Ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay của ngân hàng
thương mại

6

1.1.1.

Vị trí, vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế

6



16

1.2.2.

Sự cần thiết phải có bảo đảm tiền vay

20

1.2.3.

Phân loại bảo đảm tiền vay

21

1.2.3.1. Bảo đảm đối nhân và bảo đảm đối vật

21

1.2.3.2. Bảo đảm bằng tài sản và bảo đảm không bằng tài sản bảo đảm

22

1.3.

Thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng
thương mại

28


Mối liên hệ giữa thế chấp tài sản và hoạt động cho vay

32

của ngân hàng thương mại
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN

34

TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

2.1.

Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về 34
thế chấp tài sản ở Việt Nam

2.2.

Pháp luật hiện hành về thế chấp tài sản trong hoạt động cho

41

vay của ngân hàng thương mại tại Việt Nam và thực tiễn áp
2.2.1.

dụng
Chủ thể trong quan hệ thế chấp

41


2.2.2.5. Quản lý và thụ hưởng tài sản thế chấp

56

2.2.3.

59

Nội dung thế chấp

2.2.3.1. Quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp

59

2.2.3.2. Quyền và nghĩa vụ của bên nhận thế chấp

62


2.2.3.3. Các quyền và nghĩa vụ của bên thứ ba giữ tài sản thế chấp
2.2.4.

65

Hình thức thế chấp

66

2.2.4.1. Hợp đồng thế chấp


2.3.

Một số vấn đề đặt ra là từ thực tiễn áp dụng pháp luật về thế

80

chấp tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng
thương mại ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Chương 3:

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN

87

PHÁP LUẬT THẾ CHẤP TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO
VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

3.1.

Cơ sở để hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài sản trong
hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam

87

3.2.

Định hướng hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài sản

88

đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia, nó là đòn bẩy cho
nền kinh tế phát triển. Các ngân hàng thương mại - với tư cách là một trung
gian tài chính - là nơi được thực hiện huy động tiền gửi từ phía công chúng có trách nhiệm hoàn trả vốn vay của người gửi, thực hiện cho vay đối với
khách hàng có nhu cầu về vốn.
Cho vay là hoạt động đem lại lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng
thương mại. Để đảm bảo cho ngân hàng thương mại có thể duy trì và phát
triển vững chắc đòi hỏi hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại phải
an toàn và hiệu quả. Để bảo đảm vốn vay của mình, thì toàn bộ các khâu
trong quy trình cho vay phải được tuân thủ nghiêm ngặt (từ khâu nhận hồ
sơ vay vốn đến ra quyết định cho vay, kể cả việc xử lý tài sản bảo đảm
việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ…).
Cấp tín dụng dưới hình thức cho vay là hoạt động của ngân hàng
thương mại, thông qua việc cho vay ngân hàng thực hiện việc điều hòa vốn
trong sản xuất kinh doanh dưới hình thức phân phối vốn nhàn rỗi huy động
được từ tiền gửi trong công chúng (có thời hạn) nhằm đáp ứng nhu cầu
về vốn phục vụ cho sản xuất, kinh doanh, đời sống xã hội.
1


Trong mối quan hệ này thì các ngân hàng thương mại là người cho
vay. Có quyền lựa chọn khách hàng (người vay) để cho vay dựa trên các
điều kiện, yêu cầu nhất định, có thể là yêu cầu về tài sản bảo đảm hoặc cho
vay không có bảo đảm… Đây là các cơ sở pháp lý bảo đảm cho phía các
ngân hàng thương mại thu hồi được vốn (gốc + lãi) theo thời hạn đã thỏa
thuận trước, qua đó cũng phân biệt quan niệm cho vay với việc cấp phát
của ngân sách nhà nước bởi đặc trưng của cho vay là việc phải có sự hoàn
trả.
Hoạt động cho vay luôn luôn tiềm ẩn các rủi ro, bởi đây là yếu tố gắn
liền với mọi hoạt động kinh doanh nói chung. Nhằm đảm bảo an toàn, hiệu
quả và hạn chế đến mức tối đa rủi ro trong hoạt động cho vay, ở tất cả các

thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại; đưa
ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài
sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại. Với lý do trên, tôi
đã chọn đề tài "Pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của
ngân hàng thương mại ở Việt Nam" để thực hiện luận văn thạc sĩ Luật học.
+ Làm rõ các vấn đề lý luận về thế chấp tài sản như: khái niệm, đặc
điểm, vai trò, thủ tục xử lý tài sản thế chấp theo pháp luật Việt Nam; có so
sánh với pháp luật quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về biện pháp bảo
đảm tiền vay nói chung và thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay đã được đề
cập ở rất nhiều công trình nghiên cứu trong: sách, báo, tạp chí như: Tạp
chí ngân hàng, báo Diễn đàn doanh nghiệp, Thời báo ngân hàng, sách
chuyên khảo: "Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức
tín dụng" do TS. Lê Thị Thu Thủy làm chủ biên, Nxb Tư pháp, 2006 - Nội
dung tác giả đã đề cập một cách có hệ thống, các biện pháp bảo đảm tiền
vay của các tổ chức tín dụng, chỉ ra những thiếu sót và hướng khắc phục,
hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, có so
sánh với các biện pháp bảo đảm tiền vay của các nước trên thế giới như:
Nhật Bản, Liên bang Nga, Mỹ, Pháp… Cuốn sách: "Hoàn thiện pháp luật về
hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt
Nam", của TS. Ngô Quốc Kỳ, Nxb Tư pháp, 2005, tác giả đã đề cập đến các
hoạt động có tnh chất nghiệp vụ của ngân hàng thương mại và pháp luật
4


điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương mại kiến nghị và đề xuất
hướng hoàn thiện pháp luật

5


6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về thế chấp tài sản trong hoạt
động cho vay của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt
động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt
động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN
TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1. Vị trí, vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
Như chúng ta đã biết, ngân hàng là một tổ chức quan trọng đặc
biệt đối với nền kinh tế ở mỗi quốc gia. "Sự hình thành và phát triển của
ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa, đến
lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành động lực thúc
đẩy nền kinh tế" [21, tr. 6].
Trên thực tế, mặc dù thuật ngữ "ngân hàng" đã xuất hiện từ rất
sớm. Song, quan niệm về ngân hàng luôn thay đổi qua mỗi thời kỳ, bởi lẽ
do sự biến đổi và phát triển không ngừng của nền kinh tế mỗi quốc gia, cả

đầu tư ủy thác và nhiều loại lĩnh vực dịch vụ mới khác.
Qua những điểm cơ bản trên, có thể thấy rằng ngân hàng là tổ chức
hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, có chức năng nhận tiền gửi của công
chúng, có hoàn trả và cho vay đối với khách hàng có nhu cầu. Và trong số
các tổ chức tín dụng thì Ngân hàng thương mại có vai trò trung tâm, và là
một loại hình tổ chức tín dụng quan trọng trong hệ thống ngân hàng.
Quan niệm về ngân hàng thương mại được xem xét ở mỗi nước tuy
có những cách hiểu khác nhau, song đều bao hàm các nội dung hoạt động
cơ bản của ngân hàng. Ví dụ: Ở Mỹ, người ta thường nói ngân hàng thương
mại là một trung gian giữa các đơn vị thừa tiền và đơn vị thiếu tiền; Đạo
luật ngày
03/6/1942 của Pháp có quy định: "Được xem ngân hàng là những xí nghiệp
hay cơ sở nào làm nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức
ký thác, hoặc hình thức khác những khoản tiền mà họ dùng cho chính họ
vào các nghiệp vụ chiết khấu, nghiệp vụ tín dụng hay nghiệp vụ tài chính" [1,
tr. 21], qua đây ta thấy ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh
tiền tệ. có mục tiêu chính là lợi nhuận.
9


Tại Điều 20 điểm 7 Luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam sửa đổi, bổ
sung năm 2004 ghi nhận: "Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh
tiền

10


tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử
dụng số tiền này để cấp dịch vụ và cung ứng dịch vụ thanh toán" [28].
Từ những nhận định trên, ta thấy ngân hàng thương mại có những

mới
05 ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, 03 ngân hàng thương mại

12


cổ phần là ngân hàng thương mại cổ phần Liên Việt, Ngân hàng thương
mại cổ phần Bảo Việt, Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong.
Từ những nội dung phân tích trên đây có thể thấy được vai trò của
hệ thống các ngân hàng thương mại đối với sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc
gia. Bản thân các ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính
có vị trí số một trong hệ thống các định chế tài chính ở mỗi nước. Bởi vì, tổng
số tài sản dư nợ của các ngân hàng thương mại bao giờ cũng lớn hơn tổng số
tài sản nợ của các loại hình ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng
khác.
1.1.2. Khái niệm đặc điểm hoạt động cho vay của ngân hàng
thương mại
1.1.2.1. Hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại
Hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại là một trong số
các hoạt động cơ bản và mang lại nguồn thu chủ yếu (khoảng 70% lợi
nhuận) hàng năm. Thông qua việc cho vay, các ngân hàng thương mại đã
thực hiện việc điều hòa nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời (nguồn vốn mà ngân
hàng có được thông qua việc huy động từ công chúng) để đáp ứng nhu cầu
về vốn cho doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức trong xã hội…
Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại (với tư cách là chủ nợ)
và người đi vay (khách hàng vay- con nợ) được thể hiện bằng hợp đồng tín
dụng, ghi nhận những thỏa thuận cơ bản ràng buộc người vay phải tuân thủ
trước khi giao kết hợp đồng tín dụng. Ví dụ: Điều kiện về tài sản bảo đảm,
mục đích sử dụng vốn vay, tính khả thi của dự án, phương án kinh doanh…
Và để đảm bảo cho ngân hàng thương mại tồn tại và phát triển bền vững thì

.Đơn xin vay
.Hồ sơ pháp lý
.Dự án, phương án
kinh doanh
(2)

.Thu thập thông tin
. Qua trao đổi, thu
thập mua, tự kiểm
tra

Thẩm định hồ sơ
(3)
Quyết định cho vay

* Cập nhật thông tin
. Thị trường
. Chính sách
. Pháp lý
.Khách hàng

(4)
Thực hiện quyết định
cho vay
(5)

Thông báo
. Cho vay
. Từ chối + Lý do
. Thông báo khác

Thanh lý hợp đồng

(10c)
(11b)

16

Gia hạn nợ

(10b)
đáo nợ ợ

xử lý tài
sản


Giải thích: Các bước được tiến hành như sau: Tiếp nhận và hướng
dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn - thẩm định các điều kiện vay vốn (kiểm
tra hồ sơ vay vốn và mục đích vay vốn; kiểm tra hồ sơ khoản vay và hồ sơ
bảo đảm tiền vay; điều tra thu thập thông tin và xác minh thông tin về
khách hàng, về phương án; thẩm định khách hàng; thẩm định phương án/
dự án đầu tư - xác minh phương thức cho vay - lập tờ trình thẩm định trình duyệt cho vay và ký hợp đồng tín dụng - giải ngân - kiểm tra giám sát
tiền vay - yhu nợ lãi và gốc và xử lý những phát sinh - thanh lý hợp đồng
tín dụng và giải chấp tài sản bảo đảm.
Việc xây dựng quy trình tín dụng hợp lý sẽ góp phần nâng cao hiệu
quả của hoạt động quản trị nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao doanh lợi.
Như vậy về cơ bản có thể thấy rằng, cho vay là một quan hệ giao
dịch giữa 02 chủ thể (ngân hàng thương mại và người vay), trong đó một
bên (Ngân hàng thương mại) chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia
(người vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền

ngân hàng là hình thức tài trợ thông qua uy tín. Ngân hàng có thể thực
hiện bảo lãnh dưới các hình thức cơ bản như: phát hành thư bảo lãnh, mở
tín dụng thư, ký hối phiếu nhận nợ...
- Đối với hoạt động cho thuê tài chính (quy định tại Điều 61 Luật Các
tổ chức tín dụng năm 2004). Đây là một hình thức cấp tín dụng trung và dài
hạn của tổ chức tín dụng.
Hiện nay, một số ngân hàng thương mại đã lập ra các phòng cho
thuê hoặc các công ty cho thuê tài chính để thực hiện các hoạt động cho
thuê.
Điểm khác biệt với hoạt động cho vay đó là: bên thuê không được
đơn phương hủy bỏ hợp đồng thuê, cho đến khi hết thời hạn thuê, bên
thuê được quyền ưu tiên mua hoặc thuê lại tài sản đó theo các điều kiện đã
thỏa thuận.


- Không có sự chuyển đổi quyền sở hữu về tài sản của bên cho thuê
cho bên thuê.


So với các hình thức cấp tín dụng nêu trên hoạt động cho vay của
các ngân hàng thương mại luôn chiếm tỷ lệ cao nhất (xấp xỉ 70% doanh
số và lợi nhuận).
1.1.2.2. Phân loại cho vay
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng vay thông qua
hợp đồng tín dụng, cho vay được phân loại thành:
- Cho vay tiêu dùng.
- Cho vay đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh.
- Cho vay đáp ứng vốn lưu động
Căn cứ vào thời hạn cho vay, ta có:
- Cho vay ngắn hạn (đến 01 năm).

tố rủi ro. Tuy nhiên đây là hoạt động kinh doanh rủi ro có tính toán.
Mặc dù vậy, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có những điểm khác
biệt với các lĩnh vực kinh doanh khác về mức độ nguyên nhân. Rủi ro trong
kinh doanh ngân hàng có tính lan truyền và để lại hậu quả to lớn, không chỉ
bao gồm rủi ro nội tại của ngành, mà còn của tất cả các ngành khác trong
nền kinh tế, không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn ảnh hưởng đến
nhiều quốc gia khác. Một số rủi ro cơ bản mà các ngân hàng thương mại
thường gặp trong hoạt động kinh doanh của mình đó là:
- Rủi ro tín dụng.
- Rủi ro lãi suất.
- Rủi ro thanh toán.
- Rủi ro hối đoái, rủi ro hoạt động khác...
Rủi ro là sự kiện xảy ra ngoài ý muốn và ảnh hưởng xấu đến hoạt
động kinh doanh của ngân hàng thương mại (ví dụ: kết quả đặt ra không
đạt được, thất thoát tài sản, vốn..).
Chính bởi xuất phát từ đặc trưng cơ bản trong hoạt động kinh doanh
của các Ngân hàng thương mại đó là kinh doanh tiền gửi - chức năng ban



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status