ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGÔ VĂN DƯƠNG
VỐN XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRONG
BỐI CẢNH NÔNG THÔN MỚI (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP:
LÀNG NGHỀ MỘC THỊ TRẤN THANH LÃNG – HUYỆN BÌNH
XUYÊN – TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Chuyên ngành: Xã hội học
Hà Nội-2017
0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGÔ VĂN DƯƠNG
VỐN XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRONG
BỐI CẢNH NÔNG THÔN MỚI (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP:
LÀNG NGHỀ MỘC THỊ TRẤN THANH LÃNG – HUYỆN BÌNH
XUYÊN – TỈNH VĨNH PHÚC
Luận văn Thạc sĩ Xã hội học
TS. Nguyễn Thị Thùy Linh là người trực tiếp hướng dẫn tôi ngay từ lúc ban
đầu cũng như trong suốt quá trình thu thập thông tin và hoàn thiện báo cáo nghiên
cứu này.
Bên cạnh đó, tôi xin cảm ơn lãnh đạo, cùng toàn thể các chủ cơ sở nghề mộc,
các chủ cơ sở buôn gỗ và kinh doanh sản phẩm đồ gỗ tại Thị trấn Thanh Lãng, Bình
Xuyên, Vĩnh Phúc đã cung cấp các thông tin hữu ích và hỗ trợ tôi trong quá trình
thực hiện khảo sát tại địa bàn.
Gia đình và bạn bè cùng lớp cao học Xã hội học khoá 2014-2016 đã có nhiều
động viên, góp ý chân thành cũng như những thông tin quý giá trong quá trình học
tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2017
Người thực hiện
Học viên Ngô Văn Dương
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................... 1
2. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn .................................................................... 3
2.1. Ý nghĩa lý luận .................................................................................................... 3
2.2. Ý nghĩa thực tiễn ................................................................................................. 3
1.1.6. Phát triển làng nghề ................................................................................. 25
1.1.7. Tạo dựng vốn xã hội ................................................................................. 26
1.1.8. Vận dụng vốn xã hội ................................................................................. 26
1.1.9. Các kênh/phương thức tạo dựng vốn xã hội ............................................ 26
1.1.10. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề .................................... 26
1.1.11. Vai trò của phát triển làng nghề trong bối cảnh nông thôn mới ........... 27
1.12. Vai trò của vốn xã hội đối với phát triển kinh tế - xã hội ......................... 29
1.2. Lý thuyết áp dụng .............................................................................................. 32
1.2.1. Lý thuyết vốn xã hội của Pierre Bourdieu................................................ 32
1.2.2. Lý thuyết vốn xã hội của James Coleman ............................................... 33
1.3. Tổng quan địa bàn nghiên cứu ....................................................................... 35
Chương 2. Quá trình tạo dựng vốn xã hội trong đời sống cộng đồng của các
chủ cơ sở nghề mộc tại thị trấn Thanh Lãng – Bình Xuyên – Vĩnh Phúc. ........ 37
2.1. Đặc trưng nhân khẩu xã hội của các chủ cơ sở nghề mộc............................. 37
2.2. Tạo dựng vốn xã hội thông qua các tổ chức xã hội chính thức ..................... 39
2.3. Tạo dựng vốn xã hội thông qua các tổ chức xã hội tự nguyện của các chủ cơ
sở sản xuất nghề Mộc. ............................................................................................. 40
2.3.1. Tham gia sinh hoạt các tổ chức xã hội tự nguyện .................................... 40
2.3.2. Mức độ tham gia các tổ chức xã hội tự nguyện ....................................... 41
2.4. Tạo dựng vốn xã hội thông qua các mối quan hệ hàng xóm – làng giềng. ... 44
2.4.1. Niềm tin của các chủ cơ sở nghề mộc đối với hàng xóm, làng giềng ...... 44
2.4.2. Hỗ trợ của hàng xóm – láng giềng đối với các chủ cơ sở nghề mộc ....... 45
2.5. Tạo dựng vốn xã hội thông qua gia đình và quan hệ họ hàng của các chủ cơ
sở nghề Mộc.............................................................................................................. 48
2.5.1. Niềm tin của chủ cơ sở nghề mộc đối với những người trong gia đình và họ
hàng .................................................................................................................... 48
2.5.2. Sự hỗ trợ có đi có lại giữa những chủ cơ sở nghề mộc với các thành viên
trong gia đình – họ hàng. ................................................................................... 49
5
6
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bộ NN&PTNT
VXH
NTM
Đài PT-TH
NĐ
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Vốn xã hội
Nông thôn mới
Đài Phát thanh Truyền hình
Nghị định
7
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Số phiếu hợp lệ thu được từ khảo sát ................................................................. 21
Bảng 2.1: Tình hình tham gia của các chủ cơ sở nghề mộc vào các tổ chức xã hội tự
nguyện ................................................................................................................................. 40
Bảng 2.2: Mức độ tham gia của chủ cơ sở nghề mộc đối với các hoạt động của các tổ
chức xã hội tự nguyện ........................................................................................................ 41
Bảng 2.3: Những giúp đỡ các tổ chức xã hội tự nguyện thực hiện khi các cá nhân trong
hội gặp khó khăn (%) ........................................................................................................ 44
Bảng 2.4: Tương quan về niềm tin với làng giềng của những chủ cơ sở nghề mộc có
mức sống khác nhau (%) ................................................................................................... 45
Bảng 2.5: Những hỗ trợ của láng giềng đối với chủ cơ sở nghề mộc trong hoạt động
Biểu 2.5: Niềm tin của các chủ cơ sở nghề mộc đối với bạn bè, đồng nghiệp ........... 54
Biểu 3.1: Thợ làm công trong các xưởng của chủ cơ sở nghề mộc ............................ 61
Biểu 3.2: Tương quan giữa mức sống của các chủ cơ sở nghề mộc với việc tuyển thợ
làm công .......................................................................................................................... 62
Biểu 3.3: Sự giúp đỡ của người khác đối với các chủ cơ sở nghề mộc khi cần vay vốn
.......................................................................................................................................... 65
Biểu 3.4: Hình thức mua nguyên liệu đầu vào của các chủ cơ sở nghề mộc ............. 67
Biểu 3.5: Xây dựng niềm tin của các chủ cơ sở nghề mộc đối với các chủ cung cấp gỗ
.......................................................................................................................................... 70
Biểu 3.6: Trao đổi công việc giữa các chủ cơ sở nghề mộc với nhau ......................... 72
Biểu 3.7: Đánh giá của chủ cơ sở nghề mộc về hiệu quả của việc liên kết sản xuất . 73
Biểu 3.8: Hỗ trợ của các cơ sở nghề mộc khác đối với cơ sở gặp khó khăn .............. 74
Biểu 3.9: Xây dựng uy tín của các chủ cơ sở nghề mộc thông qua sản phẩm........... 77
Biểu 3.10: Sự giúp đỡ của khách hàng đối với các chủ cơ sở nghề mộc .................... 78
9
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nông thôn Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của cả nước. Theo số liệu thống kê, đến năm 2016 dân số khu vực nông
thôn là 60,7 triệu người, chiếm 65,5% dân số cả nước (Tổng cục thống kê, 2016).
Trong những năm qua, kể từ khi đổi mới khu vực nông thôn thực sự có những bước
phát triển quan trọng về kinh tế - xã hội như: đời sống vật chất và tinh thần ngày
càng được nâng lên, giảm tỷ lệ nghèo đói, việc tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục dễ
dàng hơn. Bên cạnh đó, văn hóa được mở rộng nhờ sự giao lưu, liên kết lẫn nhau
giữa các cộng đồng; các mối quan hệ xã hội (mạng lưới xã hội) ngày được mở rộng
và thiết lập chặt chẽ thông qua sự tin tưởng lẫn nhau; giữ vững bản sắc của tình
làng, nghĩa xóm tại địa phương. Điều này cho thấy, ở nông thôn hiện nay ngoài sự
sở sản xuất trong làng nghề mở rộng được mạng lưới xã hội, mở rộng khách hàng
tiêu thụ sản phẩm thông qua việc gây dựng uy tín và quảng bá hình ảnh (Nguyễn
Xuân Hoản, 2008). Hơn nữa, vốn xã hội cũng giúp các nhân trong cộng đồng sẵn
sàng hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm (Lê Thị Hòa,
2016; Nguyễn Quý Thanh&Applo, 2004). Chính vì vậy, việc làm rõ hiện nay các
chủ cơ sở sản xuất tại làng nghề đang tạo dựng nguồn vốn xã hội của mình ở những
hoạt động nào và họ tận dụng nguồn vốn đó ra sao càng trở nên cấp bách.
Để làm rõ thêm sự phát triển của làng nghề cần phải có sự phát triển song song
nguồn lực kinh tế và xã hội, chúng ta có thế nhìn nhận kinh nghiệm từ các quốc gia
phát triển như sau: họ sử dụng và phát huy tốt nhân tố vốn xã hội ở khu vực nông
thôn nói chung và làng nghề nói riêng bởi đây được xem là nơi “giàu có” nguồn “tài
nguyên” vốn được duy trì và đúc kết qua nhiều thế hệ. Trong lịch sử phát triển của
mình, bản thân khu vực nông thôn Việt Nam đã phát huy tích cực vai trò vốn xã hội
nhằm duy trì ổn định, trật tự và phát triển của hệ thống (Tô Duy Hợp, 2015)1. Tuy
nhiên, để gọi tên và đưa vào các chiến lược, kế hoạch phát triển thì gần đây các nhà
khoa học, nhà quản lý mới thực sự quan tâm hơn về vai trò của vốn xã hội, trong đó
những yếu tố liên quan tới niềm tin, giá trị, chuẩn mực; liên kết và các mối quan hệ
Tô Duy Hợp 2015, Một số đặc điểm cơ bản của truyền thống nông thôn,
cập nhật ngày 15/6/2017.
1
2
xã hội của những cá nhân, chủ cơ sở sản xuất tại các làng nghề đang được coi là
một trong những yếu tố quyết định tới “sự thành bại” của những cơ sở sản xuất
nghề mộc nói riêng và các sản phẩm khác của các làng nghề nói chung. Để thấy rõ
được các vai trò của vốn xã hội đối với sự phát triển của làng nghề đang ở mức nào,
hay việc các chủ cơ sở sản xuất nghề mộc tạo dựng nguồn vốn này ra sao, sử dụng
nó như thế nào trong các công đoạn của sản xuất nghề mộc. Do vậy tôi chọn đề tài
Mộc còn sử dụng vốn xã hội như là một nguồn lực quan trọng để phát triển.Bên
cạnh đó, các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo quan trọng cho
các làng làng nghề Mộc nói riêng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc và nhiều làng nghề
khác trên địa bàn cả nước.
3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
3.1. Quan điểm về vốn xã hội
Vốn xã hội thuật ngữ được sử dụng vào đầu thế kỷ XX bởi nhà giáo dục học người
Mỹ LydaJudson Hanifan khi ông bàn đến vấn đề trường học ở vùng nông thôn Bắc
Mỹ (Khúc Thị Thanh Vân, 2011). Theo ông, vốn xã hội là những thứ được nhắc đến
nhiều nhất trong đời sống của con người, cụ thể: Thiện ý, tình bằng hữu, sự đồng
cảm lẫn nhau, sự giao tiếp xã hội giữa những con người với nhau và giữa các gia
đình với nhau tạo thành một đơn vị xã hội. Trên quan điểm đó, tác giả Nguyễn Tuấn
Anh (2011) đưa ra quan điểm: Nếu cá nhân giao tiếp với láng giềng của họ và họ
giao tiếp với những người láng giếng của chính họ dần dần sẽ dẫn tới tích tụ vốn xã
hội tại cộng đồng dân cư (trích từ Khúc Thị Thanh Vân, 2011).
Tiếp nối quan điểm của LydaJudson, năm 1983 Pirre Bourdieu cho rằng: “vốn xã
hội là một thuộc tính của mỗi cá nhân trong xã hội và bất cứ ai cũng có thể khai
thác vốn xã hội nhằm đem lại các lợi ích kinh tế thông thường” (Bourdieu, 1983.
Trích từ Khúc Thị Thanh Vân, 2011). Bên cạnh đó, Bourdieu cho rằng: vốn xã hội
là tổng hợp các nguồn lực, hữu hình hay vô hình hoặc sự tích lũy của một cá nhân
hay một nhóm bởi một mạng lưới bền vững của các mối quan hệ có đi có lại, có
4
mức độ thể chế hóa nhiều hay ít đã được thừa nhận (Bourdieu và Wacquant, 1992,
p.199. Trích từ Hoàng Bá Thịnh, 2009).
Halpern đưa ra nhận định về vốn xã hội ở phạm vi vĩ mô: “Vốn xã hội được định
nghĩa bằng chức năng của nó. Nó không phải là những thực thể riêng lẻ mà là
những thực thể đa dạng, với hai thành tố chung: chúng bao gồm một số khía cạnh
trách nhiệm được thể hiện trong các mối quan hệ xã hội từ đó hình thành vốn xã
hội; (2) thông tin được hình thành và phát triển thông qua các mối quan hệ xã hội;
(3) những chuẩn mực có hiệu lực, dưới hình thái là những chuẩn mực, vốn xã hội có
thể khuyến khích hoặc kiềm chế các hành động của cá nhân, nhóm xã hội; (4) quyền
lực hay uy tín được xem như là một hình thái của vốn xã hội, vì khi trao quyền kiểm
soát cho một người đồng nghĩa với việc hình thành nên vốn xã hội cho cá nhân đó.
Bên cạnh đó, ông khẳng định cấu trúc của vốn xã hội được hình thành từ 03 thành
tố chính: mạng lưới xã hội; chuẩn mực; sự tán thành và thừa nhận (Coleman, 1994,
dẫn lại từ Hoàng Bá Thịnh, 2009).
3.2. Quá trình tạo dựng vốn xã hội của người dân vùng nông thôn
Hiện nay đã có nhiều ứng dụng của vốn xã hội vào phát triển nông thôn tại Việt
Nam. Sự tồn tại và phát triển của vốn xã hội được nhiều tác giả khẳng định và
phân tích ở ba thành tố chính là: i) sự tin cậy, niềm tin giữa các cá nhân trong
cộng đồng; ii) Các chuẩn mực và mối quan hệ có đi có lại giữa các cá nhân; iii) sự
liên kết của các cá nhân trong nhóm xã hội (Đỗ Văn Quân, 2014; Nguyễn Thị
Minh Phương, 2011; Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2012). Bên cạnh đó, nhiều tác giả
phân tích được vai trò của vốn xã hội trong phát triển nông thôn hiện nay. Có tác
giả lại đi phân tích sâu về sự hình thành và phát triển của các tổ chức xã hội tự
nguyện (Đặng Thị Việt Phương, 2011) hay có tác giả lại đi phân tích sự ảnh
hưởng của vốn xã hội tới quan hệ họ hàng (Nguyễn Tuấn Anh, 2011), dồn điền
đổi thửa (Nguyễn Tuấn Anh, 2012)…Như vậy có thể thấy được, vốn xã hội được
sử dụng liên tục trong các hoạt động của đời sống cộng đồng và được ứng dụng
vào nhiều chiều cạnh của cuộc sống.
Thứ nhất, Sự tin cậy và niềm tin của các cá nhân trong cộng đồng với nhau.
Trong bài viết “phát huy vai trò của vốn xã hội trong xây dựng nông thôn mới” của
Đỗ Văn Quân (2014), tác giả xác định vốn xã hội như một “chất liệu mới” và quan
trọng trong quá trình xây dựng nông thôn mới. Đồng thời, tác giả xác định vốn xã
6
7
Qua đó có thể thấy được, quá trình tạo dựng vốn xã hội của người dân tại vùng
nông thôn được các tác giả nói đến trong phần này là phải có sự tin tưởng đối với
các cá nhân trong cộng đồng. Sự tin tưởng ấy được thể hiện thông qua các đối
tượng và nhóm đối tượng cụ thể như: Gia đình, bạn bè, họ hàng, các nhóm xã hội và
ngay cả đồng nghiệp,…
Thứ hai, giá trị chuẩn mực và sự tương hỗ, có đi có lại giữa các thành viên trong
cộng đồng
Nhiều tác giả khẳng định các giá trị chuẩn mực là một thành tố quan trọng của vốn
xã hôi. Các chuẩn mực và giá trị đóng góp vào việc duy trì và phát triển các mối
quan hệ xã hội trong cộng đồng làng – xã. Tuy vậy, không phải mọi quy tắc ứng xử
và các giá trị có thể tạo nên vốn xã hội tích cực. Tác giả cũng phân tích sự tương hỗ
có đi có lại giữa các cá nhân trong cộng đồng thể hiện ở nhiều khía cạnh: i) tình
làng nghĩa xóm; ii) lựa chọn trọng nông – ly nông (Đỗ Văn Quân, 2014; Nguyễn
Thị Minh Phương, 2011). Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra những rào cản của những giá
trị, chuẩn mực trong sự phát triển của cộng đồng nông thôn: i) người dân ít biết tới
các vấn đề chính trị ngoài phạm vi nhóm/làng; ii) quan hệ dòng họ giúp cá nhân
trúng cử/thành công trong kinh doanh…nhưng lại bó hẹp sự tham gia và thành công
của người khác (Đỗ Văn Quân, 2014; Nguyễn Thị Minh Phương, 2011).
Khác biệt với hai tác giả trên, tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2012) phân tích vai
trò của các giá trị, chuẩn mực trên một số khía cạnh: i) trong việc cưới hỏi và ma
chay sự tương hỗ, hỗ trợ lẫn nhau có đi có lại được thể hiện rất rõ. Ví dụ: nhà nước
có con cưới, hay có các hoạt động ma chay thì láng giềng sang giúp đỡ, hỗ trợ về
sức lực và vật chất, khi tới hộ gia đình nhà khác có việc thì hành động đó cũng được
làm tương tự. ii) trong tổ chức sản xuất nông nghiệp, hoạt động “đổi công” để tận
dụng thời gian, nhân lực, tăng năng suất; iii) Đối với các hành vi mẫu mực như:
việc đóng góp theo suất “đinh” để tu tạo các công trình lớn trong làng, góp gạch,
tiền để xây dựng đường giao thông, hay góp tiền đi hàng xóm đối với các hộ gia
sản xuất.
Tương tự, tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2012) cho rằng hình thành mạng lưới xã
hội trong cộng đồng, biểu hiện cụ thể ở việc cá nhân tham gia vào các tổ chức xã
9
hội tự nguyện. Các cá nhân tham gia càng nhiều nhóm xã hội thì khả năng liên kết,
kết nối càng được mở rộng.
Theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2000 “Việt Nam tấn công nghèo đói” tập trung
vào đánh giá vai trò của các loại vốn trong xóa đói giảm nghèo. Báo cáo đề cập tới sự
thiếu hụt các vốn như vốn tài chính, vốn con người và vốn vật chất là nguyên nhân
chính dẫn tới tình trạng nghèo đói của người dân Việt Nam. Giải pháp để tháo gỡ khó
khăn cho người nghèo được báo phân tích dựa theo các chương trình giảm nghèo.
Các chương trình này được đề xuất là cần hướng tới hỗ trợ người dân phát triển về
vốn tài chính, vốn con người (đào tạo nghề, xây dựng các trường bán công, nội trú…)
và cả vốn xã hội (hình thành các tổ nhóm tín dụng, nhóm hợp tác, nhóm sở thích…)
để cùng nhau liên kết, hỗ trợ nhau phát triển (Nguyễn Vũ Quỳnh Anh, 2013).
Nguyễn Quý Thanh (2005) phân tích sự giao thoa giữa vốn xã hội với các giao dịch
sinh kế trong gia đình. Tác giả nhận thấy, để huy động được vốn kinh tế, các doanh
nghiệp gia đình dựa khá nhiều từ mạng lưới gia đình, người thân và các mối quan
hệ quen biết…Vốn xã hội dưới dạng trách nhiệm và niềm tin giữa các thành viên
trong gia đình và các mối quan hệ thân quen với các cơ quan, chính quyền địa
phương có thể giảm chi phí giao dịch kinh tế cho các doanh nghiệp gia đình và tăng
cường năng lực huy động nguồn lao động khi cần thiết. Tuy nhiên, vốn xã hội trong
trường hợp này có thể gây phản tác dụng, ví dụ như việc tận dụng tối đa sức lao
động của trẻ em để phát triển vốn kinh tế của gia đình. Đồng quan điểm của tác giả
Nguyễn Quý Thanh, các tác giả Đặng Thanh Trúc và cộng sự (2008) cho rằng, vốn
xã hội nói chung và mạng lưới xã hội nói riêng đóng vai trò rất quan trọng trong sự
phát triển của các doanh nghiệp gia đình kể từ khi khởi nghiệp cũng như suốt quá
trong quá trình đô thị hóa (nghiên cứu trường hợp tại xã Đồng Quang, Từ Sơn, Bắc
Ninh) cho thấy vốn xã hội đang chịu ảnh hưởng to lớn của quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Đô thị hóa đã phá vỡ
cấu trúc của mạng xã hội truyền thống, buộc người dân phải tham gia mạng lưới xã
hội mới ngoài làng, xã để thu thập thông tin, tìm hiểu các cơ hội việc làm, nâng cao
trình độ chuyên môn nghề nghiệp một cách phù hợp. Vốn xã hội đã có sẵn trong
quan hệ gia đình, họ hàng và nông thôn truyền thống, điều này giúp cá nhân giảm
chi phí giao dịch trong việc tham gia vào mạng lưới xã hội mới để tìm kiếm sinh kế
11
phù hợp. Tương tự đối với các doanh nghiệp ở nông thôn, sự hợp tác giữa các
doanh nghiệp với đối tác đã vượt qua phạm vi làng, xã và tìm tới các mối quan hệ
mới rộng hơn của thị trường trong và ngoài nước. Những quan hệ mới được mở
rộng như quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động; giữa chủ doanh
nghiệp và khách hàng hay người cung ứng nguyên vật liệu…Vốn xã hội giúp các
doanh nghiệp giảm chi phí giao dịch, chia sẻ các nguồn thông tin đáng tin cậy về thị
trường để tránh rủi ro (Đặng Thanh Trúc và cộng sự, 2008).
Qua đây có thể thấy được rằng, vốn xã hội được mỗi cá nhân trong cộng đồng sử
dụng liên tục, và thường xuyên trong các hoạt động của đời sống. Họ giúp đỡ lẫn
nhau, gắn kết với nhau hơn, tin tưởng lẫn nhau hơn trong các vấn đề mang tính cộng
đồng, vì vậy họ có thể mở rộng các mạng lưới xã hội nhiều hơn. Cụ thể, các hoạt
động của họ được thể hiện thông qua: các tổ chức xã hội chính thức, phi chính thức,
thông qua quan hệ họ hàng, hàng xóm láng giềng và bạn bè, đồng nghiệp:
i)
Nhiều tác giả đã đã chỉ ra rằng, niềm tin giúp các cá nhân liên kết lại với
nhau từ đó hình thành các hộ, nhóm hay phường,…hơn nữa, chính niềm
tin giúp các cá nhân trong nhóm sẵn sang hỗ trợ lẫn nhau cả về tinh thần,
sức lao động và tài chính. Điều này cho thấy, vốn xã hội của mỗi cá nhân
Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Anh (2014)2cho thấy vốn xã hội được
biểu hiện ở các mối quan hệ giữa cá nhân với các thành viên khác trong cộng đồng.
Cá nhân tham gia mạng lưới xã hội với các quan hệ gia đình, xã hội để tìm kiếm các
cơ hội việc làm và trợ giúp về tài chính khi gặp khó khăn. Biểu hiện rõ nét là ở
những gia đình, chủ cơ sở có kinh nghiệm làm nghề lâu năm, kinh tế khá giả thì họ
có mạng lưới xã hội rộng lớn và đa dạng hơn, điều này giúp họ có thể đạt được
nhiều mục đích dễ dàng hơn trong tìm kiếm việc làm hay tìm kiếm sự hỗ trợ về tài
chính. Bên cạnh đó, các công ty hay các cơ sở làm nghề còn sử dụng mạng lưới xã
hội để trao đổi, vận động trong các hoạt động nghề nghiệp. Biểu hiện cụ thể là Hiệp
hội làng nghề và người dân làm nghề thường đóng góp nhân lực và kinh phí cho các
hoạt động tập thể, cộng đồng được tổ chức trong làng.
Tác giả Đặng Thị Việt Phương và Cộng sự (2011) trong nghiên cứu về sự tham gia
của người dân vào các tổ chức xã hội tự nguyện cho thấy, vốn xã hội được hình
thành thông qua các tổ chức xã hội không chính thức, có những cá nhân tham gia
trực tiếp vào 10 tổ chức xã hội tự nguyện khác nhau như: hội gà, hội thể dục thể
thao, phường, hội đồng niên, hội đồng ngũ..., các cá nhân tham gia vào các tổ chức
xã hội khác nhau nhằm tìm kiếm các nhu cầu của bản thân về tinh thần, họ tin tưởng
và liên kết với nhau nhằm giúp đỡ nhau trong cuộc sống, đáp ứng nhu cầu về tinh
Nguyễn Ngọc Anh 2014, Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề ĐBSH hiện nay (NCTH hai làng nghề ở
huyện Thường Tín, Hà Nội), Luận án Tiến sĩ HVCTQGHCM.
2
13
thần, vật chất của từng cá nhân trong các tổ chức, tạo sự đoàn kết cùng xây dựng
cộng đồng phát triển.
Theo Theo Báo Cáo Làng Nghề (2008) dẫn lại từ Bộ NN&PTNT, Làng Nghề có vai
trò thúc đẩy việc hình thành mạng lưới các hiệp hội nghề nghiệp như: Hiệp hội làng
nghề Việt Nam, Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều này cho thấy, những vai
tiêu thụ sản phẩm; nguồn cung cấp nguyên liệu; trao đổi thông tin sản
phẩm, giá ca và trao đổi kinh nghiệm sản xuất.
(3)
Trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ, vai trò của các mối quan hệ và tổ
chức nghề nghiệp còn mờ nhạt. Cụ thể, có 7,4% việc tiêu thụ dựa vào họ
hàng thân thiết, 12,1% là từ bạn bè và chỉ có 2,5% là từ các hội nghề
nghiệp.
(4)
Gia tăng sự tin tưởng lẫn nhau thông qua hình thức đổi công và phát triển
thương hiệu tập thể.
Lê Thị Hòa (2016)3 trong bài viết “tổ chức xã hội làng nghề vạn phúc thời pháp
thuộc” đăng trên tạp chí văn hóa nghệ thuật cho rằng, các tổ chức xã hội làng nghề
có vai trò tích cực trong việc mở rộng mối quan hệ, hỗ trợ có đi có lại đối với các
thành viên của tổ chức đó dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau. Điều này được thể hiện ở
Phường cửu tồn tại ở làng nghề Vạn Phúc thời pháp. Trước hết, ở Phường Cửu, các
hộ gia đình làm nghề dệt liên kết lại với nhau tạo thành phường Cửi. Tổ chức này
có chức năng hỗ trợ tiền phục vụ sản xuất, kinh doanh cho các thành viên gặp khó
khăn thông qua tiền đóng góp của chính những hộ gia đình tham gia phương. Bên
cạnh đó, phường Cửu hỗ trợ các thành viên cạnh tranh sản phẩm với bên ngoài,
không khuyến khích cạnh trong cùng phường với nhau, và các thành viên có thể học
hỏi, trao đổi kinh nghiệm với nhau. Đồng thời, để đảm bảo uy tín sản phẩm của làng
dệt, các gia đình chưa tham gia phường Cửi phải nhờ các hội viên trong phường bán
hộ và kiểm tra chất lượng nhằm đảm bảo uy tín của sản phẩm trong làng dệt.
Theo Nguyễn Xuân Hoản (2008), trong nghiên cứu “Công nghiệp hóa nông thôn