SKKN: Vận dụng phương pháp dạy học dự án vào hoạt động trải nghiệm sáng tạo bộ môn ngữ văn - Pdf 52

PHẦN MỞ ĐẦU
I. BỐI CẢNH CỦA GIẢI PHÁP
1. Không gian nghiên cứu: Sáng kiến được nghiên cứu tại trường THPT
Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
2. Thời gian nghiên cứu: Sáng kiến được nghiên cứu từ tháng 8 năm
2017 đến tháng 4 năm 2018.
3. Thực trạng của việc thực hiện:
Đáp ứng yêu cầu đổi mới, từ năm học 2016-2017 Sở GD&ĐT đã ban hành
hướng dẫn số: 1037/SGDĐT-GDPT ngày 22 tháng 8 năm 2016 của Sở GD&ĐT
Sơn La về hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục theo định hướng phát triển
năng lực học sinh. Trong đó có yêu cầu các nhà trường hoạt động TNST vào dạy
học ở tất cả các môn học. Đến năm học 2017-2018, công văn số: 1318/SGDĐTGDTrH của Sở GD&ĐT Sơn La ngày 28 tháng 8 năm 2017, tiếp tục chỉ đạo các
nhà trường phổ thông thực hiện hoạt động TNST.
Để GV tại các nhà trường thực hiện tổ chức hoạt động TNST, Bộ giáo dục
đã xây dựng bộ tài liệu “ Tài liệu tập huấn kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt
động trải nghiệm sáng tạo trong trường trung học”. Bộ tài liệu đã trang bị cho GV
những hiểu biết cơ bản nhất về mục tiêu, bản chất, các hình thức tổ chức hoạt
động TNST trong nhà trường.
Vận dụng phương pháp DHDA vào hoạt động TNST bộ môn Ngữ văn là
vấn đề rất mới. Tại trường THPT Sốp Cộp, trong hai năm học 2016-2017 và
0217-2018, bộ môn Ngữ Văn có 03 sáng kiến liên quan đến lĩnh vực TNST.
Trong đó năm học 2017-2018, đồng chí Đặng Thị Hoài có sáng kiến “Giải
pháp thiết kế và tổ chức triển khai hoạt động trải nghiệm sáng
tạo trong môn Ngữ văn gắn với chủ đề người lính trong thơ ca kháng
chiến ở chương trình Ngữ văn 12” ( đã công bố); trong năm học 2017-2018 có
sáng kiến của giáo viên Hà Thị Bích Thảo “Phát triển năng lực, phẩm chất của
học sinh qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo bài Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn”
(chưa công bố), sáng kiến “Giải pháp kết hợp HĐTSNT môn Ngữ văn với các
hoạt động khác của nhà trường nhằm nâng cao nhận thức cho học sinh về bảo tồn
nét đẹp văn hóa trang phục truyền thống dân tộc Thái tại trường THPT Sốp Cộp”
giáo viên Đặng Thị Hoài (chưa công bố). Nhìn chung các sáng kiến giải quyết

giao thông; thủ công nghiệp; lâm nghiệp; kinh doanh/kinh tế; nông nghiệp; công
nghiệp; ngư nghiệp; y tế; TDTT; khoa học công nghệ. Về hình thức hoạt động có
thể thấy hoạt động TNST được tổ chức thông qua các hình thức: Hình thức có
tính khám phá: Thực địa, thực tế, tham quan, cắm trại, trò chơi; hình thức có tính
tham gia lâu dài: Dự án và nghiên cứu khoa học; các câu lạc bộ; hình thức có tính
thể nghiệm/ tương tác: Diễn đàn, giao lưu, hội thảo/xemina, sân khấu hóa; hình
thức có tính cống hiến: Thực hành lao động việc nhà, việc trường, các hoạt động
xã hội/ tình nguyện.
Để tổ chức hoạt động TNST, GV xây dựng kế hoạch hoạt động TNST.
Việc thiết kế các hoạt động TNST được tiến hành theo các 8 bước sau:
Bước 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động TNST: Từ nhiệm vụ, mục
tiêu và chương trình giáo dục, nhà giáo dục cần tiến hành khảo sát nhu cầu, điều
kiện tiến hành. Xác định ro đối tượng thực hiện.
Bước 2: Đặt tên cho hoạt động: Tên của hoạt động TNST cần đảm bảo:
Ro ràng, chính xác, ngắn gọn, phản ánh được chủ đề và nội dung của hoạt động.
Tạo được ấn tượng ban đầu cho học sinh.
Bước 3: Xác định mục tiêu của hoạt động: Là dự kiến trước kết quả của
hoạt động; yêu cầu cần đạt về tri thức, kĩ năng, thái độ và định hướng giá trị.
Bước 4: Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức
của hoạt động: Nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức hoạt động
TNST cần phù hợp với bài học, điều kiện hoàn cảnh cụ thể của lớp, của nhà
trường và khả năng của HS.
Bước 5: Lập kế hoạch: Xây dựng nguồn lực (nhân lực - vật lực - tài liệu)
và thời gian, không gian... cần cho việc hoàn thành các mục tiêu
2


Bước 6: Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy
Trong bước này, cần phải xác định:
- Có bao nhiêu việc cần phải thực hiện?

Các thành viên thực hiện công việc như kế hoạch. Trong giai đoạn này HS
thực hiện hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động
này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Kết thúc giai đoạn này nhóm phải có
được sản phẩm của dự án.
Giai đoạn 4: Giới thiệu sản phẩm dự án
Các nhóm giới thiệu sản phẩm dự án. Các sản phẩm có thể được trình bày
3


dưới dạng bài trình chiếu, bài thu hoạch, văn bản, áp phích hay tờ rơi,… trong
nhiều dự án sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành. Sản phẩm
của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn
một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các hoạt động xã hội.
Giai đoạn 5: Đánh giá
Trong dạy học tích cực nói chung và dạy học DHDA nói riêng, đánh giá
đóng một vài trò quan trọng. Không chỉ đánh giá sản phẩm dự án mà chính quá
trình làm việc của HS cũng cần được có một sự đánh giá đúng đắn. Từ đó HS rút
được kinh nghiệm cho mình. Cần có đánh giá sản phẩm và đánh giá quá trình với
nhiều hình thức như: GV đánh giá, HS tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng,
Như vậy, phương pháp DHDA và hoạt động TNST đều là những phương
pháp dạy học tích cực (người dạy – người học – học liệu – môi trường…), khắc
phục nhược điểm của phương pháp truyền thụ áp đặt một chiều; đồng thời kết
hợp hài hoà giữa dạy kiến thức công cụ với kiến thức phương pháp, đặc biệt chú
trọng dạy cách học, phương pháp tự học để người học có thể học tập suốt đời.
Làm thế nào để vận hành tương tác đồng bộ các thành tố trong các phương pháp
này phát huy hết hiệu quả chính là nhiệm vụ đặt ra cần sang kiến phải giải quyết.
II. LÝ DO CHỌN GIẢI PHÁP
Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã giới thiệu và công bố dự thảo tổng
thể Chương trình giáo dục mới và xin ý kiến rộng rãi để tiếp tục hoàn chỉnh.
Trong chương trình mới có hai loại hoạt động chính là: dạy các môn học và hoạt

khi được yêu cầu hỗ trợ, phối hợp còn e dè, không muốn hợp tác hoặc không có
điều kiện để hợp tác và hỗ trợ. Về mặt xã hội, huyện Sốp Cộp là huyện vùng sâu,
vùng xa các di tích lịch sử, danh nhân, nhà thơ nhà văn, danh lam thắng cảnh,
làng nghề… hầu như là không có, đây cũng là khó khăn không nhỏ để GV đa
dạng hóa hình thức hoạt động TNST.
Để giải quyết những khó khăn kể trên, tôi chọn sáng kiến “Vận dụng
phương pháp DHDA vào hoạt động TNST bộ môn Ngữ văn tại trường
THPT Sốp Cộp” để giúp các đồng nghiệp cùng bộ môn nhất là bản thân mình
làm tốt nhiệm vụ được giao.
III. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1. Phạm vi nghiên cứu
- Các chủ đề, nội dung hoạt động TNST môn Ngữ Văn sử dụng phương
pháp DHDA, quy trình vận dụng phương pháp DHDA vào hoạt động TNST; mẫu
Kế hoạch dạy học TNST môn Ngữ Văn tại trường THPT Sốp Cộp.
2. Đối tượng nghiên cứu
Vận dụng phương pháp DHDA vào hoạt động TNST môn Ngữ văn THPT
Sốp Cộp.
VI. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Đề xuất được một số chủ đề, nội dung, phương pháp, hình thức vào hoạt
động TNST môn Ngữ văn tại trường THPT Sông Cộp trong bối cảnh chương
trình TNST bậc THPT chưa có tài liệu định hướng của cơ quan chuyên môn có
thẩm quyền ban hành.
- Đề xuất được quy trình vận dụng phương pháp DHDA vào hoạt động
TNST Ngữ văn tại trường THPT Sốp Cộp.
- Đề xuất mẫu Kế hoạch dạy học TNST khi vận dụng phương pháp DHDA
vào hoạt động TNST.

PHẦN NỘI DUNG
I. THỰC TRẠNG CỦA GIẢI PHÁP ĐÃ BIẾT
5


12

4

130

111

5

Chủ đề, bài học trải nghiệm

30

Trữ tình dân gian (Ca dao)

42

Chữ “nhàn” trong hai văn bản: Cảnh
ngày hè ( Nguyễn Trãi); Nhàn ( Nguyễn
Bỉnh Khiêm)

63

- Văn thuyết minh

89

- Truyện Kiều- Nguyễn Du

vùng cao

4

Gh
i
chú

Năm học 2017-2018:
Khố
i

Số tiết Tiết
Tổn
trải
theo
g số
nghiệ
PPCT
tiết
m

Chủ đề, bài học trải nghiệm sáng tạo

10

105

- Trình bày một vấn đề


110,
111,
112

- Một số thể loại văn học: Kịch, văn nghị
luận

24

- Phát biểu theo chủ đề

91

- Phát biểu tự do

92, 93

- Văn bản tổng kết

Có thể nhận thấy số lượng tiết học TNST đối với bộ môn Ngữ văn không
lớn, được bố trí hoạt động ở cả hai học kỳ. Các chủ để, bài học TNST của cả ba
khôi được giáo viên lựa chọn giữa các phân môn Đọc văn, Làm văn và tiếng Việt
thường không đều. Cụ thể năm học 2016-2017 có 13 tiết TNST. Trong đó Đọc
văn 10 tiết chiếm 76,9%, làm văn 03 tiết chiếm 23,1%, tiếng Việt 0 tiết chiếm
0%. Năm học 2017-2018 có 13 tiết TNST. Trong đó Đọc văn 0 tiết chiếm 0%,
làm văn 13 tiết chiếm 100%, tiếng Việt 0 tiết chiếm 0%.
Về quy trình xây dựng chủ đề, tiết học TNST môn Ngữ văn:
Nhóm chuyên môn
hội ý, thảo luận
thống nhất số tiết

phương pháp sắm vai 6/11 GV chiếm 54,5%; có sử dụng phương pháp làm việc
nhóm 8/11 GV chiếm 72,7%; có sử dụng phương pháp dạy học dự án 2/11
chiếm 18%.
7


Khảo sát về các bước tổ chức hoạt động TNST của đồng nghiệp cùng bộ
môn tôi nhận thấy phần lớn các hoạt động TNST được xây dựng, tổ chức như
sau:
Bước 1: Tìm ý tưởng, chọn bài dạy theo hình thức trải nghiệm
- Bước này thường được tiến hành ngay từ đầu năm học. Nhà trường chỉ
đạo tổ chuyên môn hướng dẫn GV chọn bài dạy theo hoạt động TNST đưa vào
phân phối chương trình để thực hiện.
Bước 2: Giáo viên xây dựng kế hoạch bài học TNST
- Theo phân phối chương trình trước khi tới tiết hoạt động TNST GV
nghiên cứu bài học để xây dựng kế hoạch trải nghiệm sáng tạo. Phần lớn các kế
hoạch có cấu trúc của một giáo án lên lớp gồm các phần: Tên bài học – mục tiêu
- chuẩn bị của GV, HS, - Tiến trình tổ chức hoạt động – củng cố, hướng dân HS
học bài mới.
- Các phương pháp tổ chức hoạt động trong các kế hoạch thường được sử
dụng như: Như phương pháp nêu vấn đề, phương pháp làm việc nhóm, phương
pháp trò chơi…
Bước 3: Giáo viên phân công học sinh chuẩn bị một số nội dung hoạt
động TNST ở nhà
- Theo các kế hoạch hoạt động TNST, GV chia nhóm, phân công HS chuẩn
bị một số nội dung ở nhà thông qua phiếu bài tập hay nhắc nhở, dặn dò HS tập
viết bài thuyết trình, xây dựng câu hỏi, câu trả lời phỏng vấn …
- Hoạt động tương tác giữa GV và học sinh ở bước này khá ít. Việc hướng
dẫn, gợi ý, tư vấn, hỗ trợ của GV đối với HS trong quá trình chuẩn bị không
nhiều. HS chủ yếu tự chuẩn bị, tự tìm hiều, tự phân công, trách nhiệm của HS

Về hạn chế, khó khăn: Phần lớn các tiết học TNST xây dựng thời lượng
ngắn ( 01 tiết), nội dung kiến thức ở nhiều bài, các bài không cùng chủ đề, phân
môn nên khó kết hợp sử dụng các hình thức, phương pháp TNST một cách đa
dạng vì thế các hình thức, phương pháp hoạt động TNST còn đơn điệu chủ yếu là
hình thức hoạt động diễn đàn và phương pháp phát vấn; Về quy trình chức hoạt
động chưa đảm bảo mục đính của hoạt động TNST: GV còn làm việc nhiều, HS
còn thụ động. Về các bước tổ chức hoạt động TNST có thể thấy hạn chế lớn nhất
là không gian TNST (các tiết hoạt động TNST chủ yếu diễn ra trong lớp học). Vì
thế nhiều tiết hoạt động TNST cũng diễn ra như những tiết học bình thường
khác. Nhiều HS vẫn thụ động trong các hoạt động TNST, tính sáng tạo, trải
nghiệm chưa cao; việc phát triển cho HS những phẩm chất tư tưởng, ý chí tình
cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực cần có của con người trong xã hội
hiện đại chưa đạt được như yêu cầu đặt ra. Về mẫu kế hoạch dạy học TNST chưa
đảm bảo được các bước của hoạt động TNST: chưa dự kiến được một số nội
dung, điều kiện cần thiết cho tổ chứ TNST theo phương pháp DHDA.
3. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, khó khăn trên
Giáo viên mới chỉ làm quen với hoạt động TNST thông qua tập huấn ở
trường do giáo viên nhà trường triển khai trong ½ ngày. Tuy được giới thiệu về lý
thuyết và một số chủ để của THCS theo tài liệu nhưng nhiều giáo viên vẫn còn bỡ
ngỡ, lúng túng trong xác định nội dung bài học và hình thức phương pháp hoạt
động TNST; nguồn kinh phí của nhà trường hỗ trợ cho giáo viên, học sinh hoạt
động TNST còn thấp hoặc không có. Năm học 2016-2017 mỗi giáo viên được hỗ
trợ từ 200.000 đến 400.000/ năm học. Đến năm học 2017-2018 nhà trường không
hỗ trợ giáo viên, học sinh kinh phí cho hoạt động TNST. Như vậy để tổ chức hoạt
động TNST giáo viên, học sinh tự chuẩn bị kinh phí.
Ta có thể thấy hầu như những mục tiêu cần đạt của các hoạt động TNST
thực hiện trên lớp chỉ dừng lại ở mức độ biết, hiểu và vận dụng mà chưa đạt được
mục tiêu cao nhất của giáo dục thông qua hoạt động TNST. Vì thế, điều quan
trọng là cần phải khắc phục vấn đề này để hoạt động THST có thể phát triển đúng
so với mục tiêu đã đề ra nhằm giúp người học có thể phát triển một cách hoàn

nên thời gian cho một chủ đề tối thiểu là 02 tiết/chủ đề ( nên từ 3 - 4 tiết). Về việc
xác định chủ đề các hoạt động TNST càn chú ý phân bố đều ở các phân môn. Sau
đó xác định hình thức và các phương pháp hoạt động TNST.
- Khối 10 và 12 GV có thể chọn thực hiện trong một kỳ/lớp. Nếu dạy 4 lớp
thì chọn 2 lớp kì I, 2 lớp kì II.
Bước 3: Xây dựng bảng đề xuất chi tiết chủ đề vận dụng DHDA vào
hoạt động TNST Ngữ văn THPT Sốp Cộp.
Trên cơ sở bước 1, 2 GV tiến hành xây dựng bảng mô tả chi tiết xuất chi
tiết từ số tiết, chủ đề, phương pháp, hình thức hoạt động TNST:
Khối
10

Số tiết
trải
nghiệm
4

Chủ đề, bài học trải
nghiệm
-Truyện dân gian

Phương pháp

Hình thức TNST

DHDA; PP sắm vai; Thể nghiệm/tương

10



xưa và nay
giải quyết vấn đề Thể nghiệm/tương
( Các tác phẩm thơ, Phương pháp làm việc tác
nhóm
văn trung đại)

3

DHDA; Phương pháp
Phong cách ngôn ngữ giải quyết vấn đề Thể nghiệm/tương
báo chí.
Phương pháp làm việc tác
nhóm
DHDA; Phương pháp
giải quyết vấn đề Thể nghiệm/tương
(Phỏng vấn và trả lời Phương pháp làm việc tác
phỏng vấn)
nhóm
Tập là phóng viên

3

Nhân vật Văn học
3

DHDA; PP sắm vai; Hình thức khám
( Tác tác phẩm truyện PP trò chơi; Phương phá Thể
pháp làm việc nhóm
nghiệm/tương tác
ngắn, kịch)


DHDA; PP sắm vai;
Thể nghiệm/tương
Phát biểu theo chủ đề PP trò chơi; Phương
tác
pháp làm việc nhóm
Người lính trong thơ DHDA; PP sắm vai; Thể nghiệm/tương
ca kháng chiến chống PP trò chơi; Phương tác
thực dân Pháp và đế pháp làm việc nhóm.

11


quốc Mỹ ( Các tác
phẩm thơ văn kháng
chiến)

4

12

Tiếng việt hôm nay
( Các bài tiếng Việt)

DHDA; PP trò chơi;
Phương pháp làm việc
Thể nghiệm/tương
nhóm;
tác
Phương pháp giải

thì chọn 2 lớp kì I, 2 lớp kì II. GV không phải làm cả hai kỳ 4 lớp như trước.
1.2. Giải pháp 2: Đề xuất quy trình vận dụng phương pháp DHDA để
tổ chức hoạt động TNST Ngữ văn tại trường THPT Sốp Cộp
1.2.1. Mục đích
Đối với HS: Phát triển kĩ năng sống, các năng lực cần thiết cho HS như
năng lực hợp tác, giao tiếp, quản lí, tổ chức, điều hành, ra quyết định, biết lắng
nghe, tôn trọng nhau, tìm kiếm và chọn lọc thông tin, ứng dụng công nghệ thông
tin. Khơi dậy sự hứng thú, say mê, tích cực, tự chủ của HS trong học tập.
Phát huy tính tích cực và tự lực, tự giác của HS khi các giai đoạn của quá
trình TN ST từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch đến việc thực hiện dự án,
kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện.
Đối với GV: Giúp GV nắm được quy trình vận dụng có hiệu quả phương
pháp DHDA vào hoạt động TNST đối với bộ môn Ngữ Văn tại trường THPT Sốp
Cộp.
1.2.2. Quy trình, các bước vận dụng DHDA vào tổ chức hoạt động TNTS
Nghiên cứu 8 bước tổ chức hoạt động TNST và 5 bước trong DHDA, các
12


bước tổ chức hoạt động TNST của đồng nghiệp tôi đề xuất quy trình vận dụng
phương pháp DHDA để tổ chức hoạt động TNST Ngữ văn
*Giai đoạn 1: XÂY DỰNG DỰ ÁN
Bước 1: Xác định chủ đề, nội dung dự án trong hoạt động TNST
- Khảo sát trong chương trình môn học các bài học, nội dung cơ bản có liên
quan hoặc có thể ứng dụng vào thực tế.
- Phát hiện những gì tương ứng đã và đang xảy ra trong cuộc sống. Chú ý
vào những vấn đề lớn mà xã hội và thế giới đang quan tâm.
- GV phân chia lớp học thành các nhóm, hướng dẫn HS đề xuất, xác định
tên đề tài. Đó là một dự án chứa đựng một nhiệm vụ cần giải quyết, phù hợp với
các em, trong đó có sự liên hệ nội dung học tập với hoàn cảnh thực tiễn đời sống

*Giai đoạn 2: THỰC HIỆN DỰ ÁN
Bước 1: Giao nhiệm vụ ( Ký hợp đồng)
- GV giới thiệu kế hoạch dự án với HS. Chia lớp thành các nhóm từ 7-10
học sinh.
- Các nhóm bầu chọn nhóm trưởng, thư ký, phân công nhiệm vụ cho mỗi
thành viên.
Ví dụ: Khi tiến hành hoạt động TNST tại lớp 11B8 có 42 học sinh tôi tiến
hành chia thành 5 nhóm:
+ Nhóm 1: Có 9 HS- nhóm trưởng: Lò Thị Trinh; thư ký: Quàng Thị Thơ.
+ Nhóm 2: Có 8 HS- nhóm trưởng: Tòng Văn Nghiêm; thư ký: Quàng Văn
Trang.
+ Nhóm 3: Có 8 HS- nhóm trưởng: Cút Thị Tâm; thư ký: Vàng Thị Dua.
+ Nhóm 4: Có 8 HS- nhóm trưởng: Lò Thị Thảo; thư ký: Vì Thị Tuyết
Nhung.
+ Nhóm 5: Gồm 9 HS-nhóm trường: Tòng Thì Phon; thư ký: Lò Thị Mai.
Bước 2: Tìm kiếm thông tin, khảo sát thực tế
- Các thành viên trong nhóm thực hiện kế hoạch đã đề ra.
- HS thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau rồi tổng hợp, phân tích và
tích lũy kiến thức thu được qua quá trình làm việc. Như vậy, các kiến thức mà
người học tích lũy được thử nghiệm qua thực tiễn.
- GV cùng với HS khảo sát thực tế để đảm bảo tính khả thi của dự án; đánh
giá, kiểm tra lại nội dung và trình tự của các việc, thời gian thực hiện cho từng
việc, xem xét tính hợp lý, khả năng thực hiện và kết quả cần đạt được; phát hiện
những sai sót hoặc bất hợp lý ở khâu nào, bước nào, nội dung nào hay việc nào
để kịp thời điều chỉnh.
- Ví dụ: Khi thực hiện dự án “ Tôi là phóng viên” các nhóm đã tiến hành
khảo sát và tiền hành phỏng vấn ở các địa điểm sau:
+ Nhóm 1: Ghi hình khu vực quanh trường THPT Sốp Cộp, trường tiểu
học Sốp Cộp.
+ Nhóm 2: Ghi hình ở khu vực quanh trường THPT Sốp Cộp.

mới mà các em đã tích lũy thông qua dự án (theo nhóm hoặc cá nhân).
- Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm HS, giới thiệu
trước lớp, trong trường hay ngoài xã hội.
Bước 4: Báo cáo và đánh giá, chấm sản phẩm của nhóm và các nhóm
khác
- GV và HS đánh giá quá trình thực hiện và kết quả dự án dựa trên những
sản phẩm thu được, tính hấp dẫn và hợp lý trong cách thức trình bày của các em.
- Giáo viên hướng dẫn người học rút ra những kinh nghiệm cho việc thực
hiện các dự án tiếp theo.
- Kết quả dự án có thể được đánh giá từ bên ngoài.
15


Em Lò Thị Trinh lớp 11B8
Báo cáo SP DA “ Ô nhiễm môi trường”

Em Tòng Thị My Thảo lớp 11B8
Báo cáo SP DA “ Bạo lực học đường”

*Giai đoạn 3: LƯU SẢN PHẨM
- GV lưu sản phẩm của HS làm căn cứ báo cáo quá trình tổ chức thực hiện
hoạt động TNST của GV và HS.
- Sản phẩm có thể được lưu: Thư viện; phòng truyền thống; trên các thiết
bị điện tử của GV, HS lattop, smartphone…; trên mạng xã hội như YouTube….
Ví dụ: Trải nghiệm “ Tôi là phóng viên” học sinh và giáo viên đã lưu sản
phẩm hoạt động như sau:
- https://www.youtube.com/watch?v=sGbR6jNYMJM
- https://www.youtube.com/watch?v=o7ZKZOcDmMk
- https://www.youtube.com/watch?v=_OlrL1Mngkk
- https://www.youtube.com/watch?v=36JVr3d4_UQ

- Các mẫu kế hoạch dạy học của GV trong tổ chuyên môn ngữ văn và các
tổ khác.
Bước 2: Xây dựng mẫu Kế hoạch bài học TNST
- Kế hoạch dạy học phải đảm bảo những yêu cầu chung của kế hoạch dạy
học như: Mục tiêu, chuẩn bị của giáo viên, phương pháp, phương tiện, thời gian,
kinh phí… cũng cố kiến thức đã học, hướng dẫn học sinh học bài ở nhà (Phụ lục
1)
Bước 4: Xin ý kiến tổ chuyên môn, chuyên môn nhà trường để triển
khai thực hiện
Bước 3: Đưa mẫu Kế hoạch bài học TNST vào thực hiện
Trên cơ sở mẫu Kế hoạch tôi đã xây dựng Kế hoạch hoạt động TNST tiết
72, 73 bài “ Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn” ( Phụ lục 2 )
1.3.4. Kết quả:
- Tôi đã xây dựng được mẫu Kế hoạch dạy học TNST khi vận dụng
phương pháp DHDA (Phụ lục 1).
1.3.5. Tính mới của giải pháp
- Xây dựng được mẫu kế hoạch tổ chức TNST theo phương pháp DHDA,
giúp GV khi xây dựng kế hoạch TNST không mất thời gian tìm tòi, nghiên cứu.
- Mẫu kế hoạch bài học TNST đảm bảo cấu trúc chung theo định hướng
của Sở GD&ĐT về cấu trúc Kế hoạch bài học; đảm bảo các bước của hoạt động
TNST theo phương pháp DHDA.
1.4. Điểm mới của những giải pháp của sáng kiến
- Kết hợp được những ưu điểm của các bước trong phương pháp DHDA
với những ưu điểm trong hoạt động TNST để tổ chức hoạt động TNST một cách
tốt nhất, hiệu quả nhất:
17


+ GV không truyền thụ tri thức mà tổ chức, hướng dẫn, tư vấn các hoạt
động nhận thức cho học sinh.

thời gian.
- Không thể áp dụng dạy học dự án tràn lan, tùy tiện mà đòi hỏi có sự
chuẩn bị và lên kế hoạch thật chu đáo thì mới lôi cuốn được người học tham gia
một cách tích cực.
- Đối với học sinh: Đòi hỏi tính tự giác, tự quản, hợp tác cao; có kỹ năng
giao tiếp xã hội, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin…
18


- Giáo viên thường gặp khó khăn: GV phải có kỹ năng tổ chức thực hiện,
theo doi dự án, giám sát tiến độ, quản lý lớp học; đưa ra phản hồi và hỗ trợ khi
cần thiết; sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ HS; thiết kế các tiêu chí đánh giá
cho một dự án cụ thể.
- Với nhà trường: Cơ sở vật chất của nhà trường phải đảm bảo, đáp ứng
tốt các hoạt động TNST như kết nối mạng, phòng trình chiếu….
III. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA SÁNG KIẾN
1. Việc áp dụng sáng kiến
- Sáng kiến vận dụng phương pháp DHDA vào hoạt động TNST môn Ngữ
văn đã được áp dụng thử qua tiết 60, 68, 69 bài Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn
chương trình Ngữ văn lớp 11 tại lớp 11B8 trường THPT Sốp Cộp.
2. Lĩnh vực mà sáng kiến áp dụng: Giáo dục
3. Điều kiện áp dụng
Để tiến hành tổ chức hoạt động dạy học trải nghiệm sáng tạo cần đáp ứng
một số yêu cầu, điều kiện sau:
Một là, GV phải có ý thức trách nhiệm với công việc cao, nhận thức đầy đủ
về hoạt động TNST.
Hai là, GV phải có năng lực sư phạm và kiến thức vững vàng, có khả năng
tổ chức sự kiện; biết cách thúc đẩy HS bộc lộ và phát huy tinh thần trách nhiệm.
Giáo viên và học sinh phải có một số năng lực chung, năng lực chuyên biệt trong
chủ đề lựa chọn, hoặc trong bài có tổ chức hoạt động trải nghiệm.

phát triển phẩm chất, năng lực người học theo yêu cầu đổi mới giáo dục, không
chỉ phát huy năng lực, phẩm chất học trong một thời gian ngắn mà nó mang lại
hiệu quả lâu dài, không chỉ trong năng lực riêng ( môn Ngữ văn) mà còn giúp
các em phát triển năng lực chung.
Kết quả hoạt động trải nghiệm được lấy vào điểm 15 phút ( bài kiểm tra 15
phút số 3). Kết quả như như sau:
Lớp

Bài kiểm tra

Sĩ số

Bài 15’ số 1

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

Kém

SL

%

SL



4.76

0

0

Bài 15’ số 2

42

4

9.52

17

40.48

21

50

0

0

0

0

thân mỗi giáo viên có cơ hội học tập từ đồng nghiệp, học sinh, chuyên gia, nhà
khoa học … để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kĩ năng mềm…một
cách nhanh chóng, tiết kiệm và hiệu quả nhất.
Về phía nhà trường, gia đình, xã hội: Giảm áp lực mua sắm trang thiết bị,
hỗ trợ kinh phí phục vụ hoạt động TNST; qua hoạt động học tập trải nghiệm học
sinh biết vận dụng sáng tạo những kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn cuộc
sống hiện tại trong gia đình các em; HS yêu không ngại tham gia các hoạt động
lao động tại gia đình, địa phương hạn chế được tình trạng các em xa ngã vào
các tệ nạn xã hội.
PHẦN KẾT LUẬN
1. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ quá trình áp dụng sáng
kiến
Qua việc tìm hiểu, vận dụng phương pháp DHDA vào hoạt động TNST
môn Ngữ văn tại trường THPT Sốp Cộp, tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:
Thứ nhất, vận dụng phương pháp DHDA vào hoạt động TNST đã phát huy
vai trò trung tâm thực hiện nhiệm vụ học tập của HS, kết hợp giữa lý thuyết và
20


thực hành, tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu. Các nhiệm vụ học tập được HS
thực hiện theo nhóm với tính tự giác, tự lực cao.
Thứ hai, GV phải là người quan sát, nhận xét, góp ý để đánh giá và phải
ngay trong quá trình hoạt động thực tiễn, dựa trên các biểu hiện cụ thể về phương
thức chứ không chỉ dựa vào kết quả hoạt động cuối cùng của học sinh.
Thứ ba, cần thu hút sự tham gia, phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo
dục trong và ngoài nhà trường như: GV chủ nhiệm, GV bộ môn, cán bộ Đoàn,
Ban giám hiệu nhà trường, cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương...tham gia
hoạt động TNST với HS.
Thứ tư, cần vận dụng nhiều phương pháp khác nhau khi tổ chức hoạt động
TNST để tránh nhàm chán, thu hút được toàn thể HS tham gia.


TÁC GIẢ SÁNG KIẾN

(Ký tên, đóng dấu)

(Ký, ghi rõ họ tên)

Nguyễn Thanh Phương

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status