Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các doanh nghiệp kinh doanh khoáng sản niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN TRẦN BẢO UYÊN

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP KINH DOANH KHOÁNG SẢN NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng - Năm 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN TRẦN BẢO UYÊN

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
KINH DOANH KHOÁNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. TRƯƠNG BÁ THANH

1.1.2. Lý thuyết ưa chuộng tính thanh khoản........................................... 15
1.1.3. Ý nghĩa của tính thanh khoản trong doanh nghiệp.........................18
1.1.4. Đo lường tính thanh khoản.............................................................19
1.2. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN.....28
1.2.1. Quy mô của doanh nghiệp..............................................................28
1.2.2. Nợ ngắn hạn....................................................................................29
1.2.3. Thời gian tồn kho............................................................................30
1.2.4. Tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA)..................................................32
1.2.5. Tài sản ngắn hạn............................................................................. 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1................................................................................34
CHƯƠNG 2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN NGÀNH KHOÁNG SẢN.........................35
2.1. ĐẶC ĐIỂM NGÀNH KHOÁNG SẢN................................................... 35
2.2. QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU..................................................................36


2.2.1. Câu hỏi nghiên cứu.........................................................................36
2.2.2. Giả thuyết nghiên cứu.....................................................................36
2.2.3. Phương pháp nghiên cứu................................................................ 40
2.2.4. Thu thập và xử lý số liệu................................................................ 44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2................................................................................48
CHƯƠNG 3. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU............................ 49
3.1. THỰC TRẠNG TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
KINH DOANH KHOÁNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM..................................................................................................... 49
3.2. PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH
KHOẢN CỦA DOANH NGHIỆP..................................................................50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3................................................................................66
CHƯƠNG 4. HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ........................... 67
4.1. TĂNG CƯỜNG CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ TÍN DỤNG....................67

FEM

Fixed Effect Model - Mô hình ảnh hưởng cố định

GVHB

Giá vốn hàng bán

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

HTK

Hàng tồn kho

ICP

Inventory Conversion Period - Kỳ chuyển đổi hàng tồn
kho

Khh

Tỷ số thanh toán hiện hành

LM

Lagrangian Multiplier - Kiểm định phương sai sai số
thay đổi - Kiểm định LM


REM

Random Effect Model - Mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên

TTS

Tổng tài sản

TSNH

Tài sản ngắn hạn

VLXD

Vật liệu xây dựng

VIF

Hệ số phóng đại phương sai


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng

Tên bảng

Trang


3.4.

Mô hình Pooled Regression (OLS)

57

3.5.

Mô hình ảnh hưởng cố định FEM

58

3.6.

Kiểm định Hausman

59

3.7.

Mô hình REM

59

3.8.

Kiểm định LM

60



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, ngành công nghiệp khoáng sản đã đóng vai trò
quan trọng trong phát triển công nghiệp Việt Nam, chiếm từ 10% -12% GDP,
đáp ứng đủ và kịp thời nguyên liệu như than đá, thiếc, chì, kẽm sắt, đồng,
appatit cho một số ngành kinh tế sử dụng nguyên liệu khoáng sản là nhiệt
điện, ximăng, hóa chất, luyện kim. Với những thành tích đã đạt được, ngành
khoáng sản xứng đáng là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước trong tương lai.
Tuy nhiên, để ngành khoáng sản Việt Nam theo kịp tiến trình phát triển
chung của thế giới, đồng thời tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững thì một
yêu cầu đặt ra cho các doanh nghiệp là phải quản trị vốn và có cấu trúc vốn
hợp lý, tối ưu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, trong đó việc
hoạch định cấu trúc vốn đáp ứng nhu cầu phát triển và tiến tới tối đa hóa giá
trị doanh nghiệp đặc biệt quan trọng.
Ngành khai thác khoáng sản của Việt Nam còn tồn tại nhiều điểm bất
cập. Vấn đề minh bạch và trách nhiệm giải trình cần được nâng cao để quản lý
hiệu quả hơn nguồn tài nguyên khoáng sản của đất nước. Để làm được điều
này, trước hết Chính phủ cần giao cho một tổ chức xã hội dân sự độc lập xây
dựng báo cáo về thực trạng khai thác và quản lý khoáng sản ở Việt Nam với
những kiến nghị cải cách theo một lộ trình thích hợp bao gồm sửa đổi, bổ
sung Luật Khoáng Sản, điều chỉnh quy định phân cấp về cấp phép khai thác
và quản lý khoáng sản… Ngoài ra, Chính phủ cần sớm có quyết định tham gia
Sáng kiến Minh bạch trong công nghiệp khai thác (EITI) và thực hiện đầy đủ
các tiêu chuẩn và quy định trong EITI.
Để các doanh nghiệp kinh doanh khoáng sản vượt qua khó khăn, hoạt


2



3

- Thứ ba, dựa trên kết quả nghiên cứu đưa ra một số hàm ý chính sách và

kiến nghị.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những nhân tố có ảnh hưởng đến
tính thanh khoản của doanh nghiệp kinh doanh khoáng sản.
Phạm vi nghiên cứu là các doanh nghiệp kinh doanh khoáng sản niêm
yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2012 - 2014.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin:
Trên cơ sở các Báo cáo tài chính theo năm của 35 doanh nghiệp kinh
doanh khoáng sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, tác giả thu
thập số liệu của các chỉ tiêu nghiên cứu chủ yếu từ Bảng Cân đối kế toán và
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong 3 năm 2012, 2013, 2014.
Phương pháp xử lý và phân tích thông tin:
- Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu
được sử dụng trong suốt quá trình xử lý, phân tích số liệu.
- Phương pháp thống kê, toán kinh tế: Tác giả sử dụng phần mềm Stata
và Excel để phân tích số liệu, xây dựng mô hình xác định ảnh hưởng của các
nhân tố đến tính thanh khoản của các doanh nghiệp kinh doanh khoáng sản
niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Tài liệu sử dụng:
- Tài liệu thu thập từ các sách, báo, giáo trình, internet và bài báo khoa
học đã được công bố.
- Báo cáo tài chính của 35 doanh nghiệp kinh doanh khoáng sản niêm
yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Trước tiên phải kể đến một trong những lý thuyết nổi bật nhất của tính
thanh khoản là “lý thuyết ưa chuộng tính thanh khoản” trong nghiên cứu mang
tên “The General Theory of Employment, Interest and Money” (Lý thuyết tổng
quát về Việc làm, Lãi suất và Tiền tệ) của Keynes. Ông đưa ra ba động cơ lý


5

giải cho mục đích nắm giữ tiền mặt của con người đó là: giao dịch, dự phòng
và đầu cơ. Học thuyết của Keynes đã trở thành nền tảng lý thuyết cho các
nghiên cứu sau này của nhiều tác giả khác phát triển theo đó.
- Bruinshoofd và Kool nghiên cứu về quản lý thanh khoản của các công ty
ở Hà Lan trong giai đoạn 1977-1997 với mẫu là 453 công ty phi tài chính. Họ đã
sử dụng thống kê mô tả và suy luận để phân tích dữ liệu. Thông qua phân tích
hồi quy, Bruinshoofd và Kool xác nhận tính thanh khoản tăng theo quy mô của
doanh nghiệp. Họ cũng nhận thấy một mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa thống
kê giữa vốn lưu động và tính thanh khoản của công ty. Bruinshoofd và Kool mô
tả rằng lượng tài sản lưu động mà công ty nắm giữ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố
như chi phí giao dịch, chi phí cơ hội và bất đối xứng thông tin. Theo thuyết trật
tự phân hạng, nhà quản trị doanh nghiệp bao giờ cũng có thông tin về giá trị
doanh nghiệp tốt hơn các nhà đầu tư bên ngoài. Sự bất đối xứng thông tin này
dẫn đến chi phí cho việc có được nguồn tài chính bên ngoài có xu hướng tăng, do
đó, tạo ra nhu cầu phòng ngừa cho thanh khoản của công ty. Các tác

giả xem xét yếu tố quy mô, vốn lưu động, tài sản, doanh thu, tổng nợ, nợ ngắn
hạn, đầu tư, lợi nhuận trên tài sản, thu nhập không chắc chắn, lãi suất bình
quân là biến độc lập. Kết quả cho thấy vốn lưu động, đầu tư và lợi nhuận trên
tài sản lại có tác động tiêu cực đến khả năng thanh khoản của công ty.
- Opler và các cộng sự nghiên cứu về các yếu tố quyết định và những
tác động đến việc nắm giữ tiền mặt của công ty. Họ đã xây dựng một mẫu các

được niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Toronto trong thời gian ba năm
(2008 – 2010). Trong nghiên cứu của mình, Gill và Mathur sử dụng phương
pháp nghiên cứu tương quan, nghiên cứu phi thực nghiệm và nghiên cứu định
lượng. Gill và Mathur xem xét việc quản lý thanh khoản của các công ty với mục
đích xác định các nhân tố ảnh hưởng đến cổ phiếu và thanh khoản của công ty.
Qua phân tích hồi quy, kết quả cho thấy việc công ty nắm giữ thanh khoản có
quan hệ tích cực với quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ tài sản lưu động trên


7

tổng tài sản; có quan hệ tiêu cực với nợ ngắn hạn, vốn lưu động ròng; không
có mối quan hệ đáng kể với tỷ suất sinh lời tài sản ROA, tổng nợ. Với mẫu
nghiên cứu trong 3 năm (2008 – 2010), Gill và Mathur (2011) đã tìm ra các
yếu tố tác động đến thanh khoản của công ty. Quy mô, vốn lưu động ròng, tỷ
lệ nợ, nợ ngắn hạn, tỷ lệ đầu tư và yếu tố ngành có tác động đến thanh khoản
của công ty. Các biến có tác động ngược chiều đến thanh khoản là tỷ lệ nợ,
vốn lưu động ròng và tỷ lệ đầu tư.
- Muhammad Usama (2012) phân tích quản lý vốn lưu động và nghiên
cứu ảnh hưởng của vốn lưu động đến lợi nhuận và thanh khoản của công ty.
Usama lấy mẫu gồm 18 công ty thuộc ngành thực phẩm được niêm yết trên thị
trường chứng khoán Karachi trong thời gian từ 2006 – 2010. Usama kiểm tra tác
động của quy mô, kỳ thu tiền bình quân, kỳ trả nợ bình quân, vòng quay hàng
tồn kho, tỷ lệ nợ đến lợi nhuận và thanh khoản của các công ty. Qua phân

tích hồi quy, kết quả cho thấy có tác động tích cực của quy mô đến lợi nhuận
và thanh khoản, trong khi kỳ thu tiền bình quân có tác động tiêu cực đến lợi
nhuận của công ty.
- Niaz Ahmed Bhutto và các cộng sự (2011) nghiên cứu mối quan hệ
giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (một chỉ tiêu đo lường tính thanh khoản) với

thương mại Việt Nam”. Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro thanh khoản ngân
hàng không những phụ thuộc vào các yếu tố bên trong hệ thống ngân hàng như
quy mô tổng tài sản, dự trữ thanh khoản, vay liên ngân hàng và tỉ lệ vốn tự có
trên nguồn vốn mà còn chịu sự tác động của các biến kinh tế vĩ mô như tăng
trưởng kinh tế, lạm phát. Ngoài ra Ths. Bùi Văn Lâm cũng đã đưa ra lý thuyết về
đo lường tính thanh khoản của một doanh nghiệp. Trong quan hệ thanh toán,

hầu hết các doanh nghiệp (DN) đều có xu hướng thực hiện việc tài trợ vốn
thông qua vay nợ ngắn hạn. Vấn đề đặt ra là liệu DN có khả năng thanh toán
và thanh toán đúng hạn các khoản nợ? Do đó phải đo lường tính thanh khoản


9

của DN. Các DN chủ yếu sử dụng tỷ số thanh toán để đo lường tính thanh
khoản. Tuy nhiên, mỗi tỷ số đều có những ưu và nhược điểm riêng trong việc
đo lường tính thanh khoản nên tác giả đã tập trung phân tích những nhược
điểm, hạn chế của các tỷ số thanh toán hiện hành.


10

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH THANH KHOẢN VÀ
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH
THANH KHOẢN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH THANH KHOẢN CỦA DOANH
NGHIỆP
1.1.1. Tổng quan về tính thanh khoản

là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán với các nhà đầu tư.
Tính lỏng cho thấy sự linh hoạt và an toàn của vốn đầu tư, thị trường hoạt
động càng năng động và hiệu quả thì tính lỏng của chứng khoán giao dịch
càng cao. Có mối quan hệ chặt chẽ giữa chỉ số P/E và tính lỏng chứng khoán.
Chỉ số P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao
nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập là bao nhiêu.
Nếu P/E cao có nghĩa là nhà đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương
lai của cổ phiếu đó. Nhìn vào bảng thống kê tính thanh khoản của cổ phiếu,
nhà đầu tư dễ dàng nhận ra những cổ phiếu giao dịch sôi động nhất cũng là
những cổ phiếu có P/E cao hơn mức trung bình của thị trường. Đây là những
chứng khoán có tốc độ tăng giá cao và mang lại giá trị thặng dư cao cho cổ
đông thông qua việc chi tách cổ phiếu hay phát hành cổ phiếu mới.
Nhìn chung, các công ty đầu tư vào tài sản lưu động, hay nói cách khác
là các tài sản có tính thanh khoản cao. Tài sản lưu động tạo thành một bộ phận
đáng kể trong tổng tài sản và có ý nghĩa quan trọng hơn đối với các rủi ro và
hiệu quả của công ty. Ví dụ, theo Kim, David và Ann (1998) [35], tỷ lệ trung
bình của tiền mặt cộng với chứng khoán thị trường trên tổng tài sản trong giai
đoạn năm 1975 - 1994 của 915 công ty ngành công nhiệp ở Mỹ là 8,1%. Kim


12

và các cộng sự đã phân tích các chi phí và lợi ích của việc nắm giữ các loại tài
sản lưu động và kết luận rằng việc đầu tư vào tài sản lưu động (chẳng hạn như
đầu tư vào chứng khoán) là tốn kém hơn, vì đầu tư vào tài sản lưu động nghĩa là
các công ty chấp nhận chi phí cơ hội cho việc đầu tư vào tài sản dài hạn; hơn
nữa, các công ty cũng phải chịu chi phí giao dịch cho việc kinh doanh chứng
khoán tài chính. Tuy nhiên các công ty này nắm giữ một lượng đáng kể tài sản
lưu động và được dự đoán là dư thừa quá mức bởi vì sự không hoàn hảo của thị
trường vốn dẫn đến việc phải duy trì một lượng tài sản lưu động dư thừa để giải

Nhà đầu tư có thể hiểu được khả năng thanh khoản bằng cách phân tích
các báo cáo tài chính của một công ty. Các chỉ tiêu tài chính sau được yêu cầu
phải xác định được để có thể đánh giá khả năng thanh khoản của một công ty:
• Tài sản ngắn hạn;
• Nợ ngắn hạn.
Một công ty có thể đầu tư tài chính của mình bằng cách kết hợp các
nguồn hạn hiện tại và lâu dài khác nhau. Nói cách khác, một công ty có thể
đầu tư tiền, được huy động thông qua nguồn ngắn hạn hoặc dài hạn, trong các
tài sản ngắn hạn hoặc tài sản dài hạn. Một số các chiến lược kinh doanh có
liên quan như sau:
• Tài trợ tài sản ngắn hạn bằng các nguồn ngắn hạn.
• Tài trợ tài sản ngắn hạn bằng các nguồn dài hạn.
• Tài trợ tài sản dài hạn bằng các nguồn ngắn hạn.
• Tài trợ tài sản dài hạn bằng các nguồn dài hạn.
Nhà đầu tư có thể nhận ra các chính sách trên bằng cách xem xét các
chỉ tiêu trên bảng cân đối hoặc xác định vốn lưu động của công ty.
Ngoài ra, thông qua việc xác định vốn lưu động ròng nhà đầu tư có thể
tìm hiểu khả năng thanh toán của công ty, cũng như cho thấy các quyết định
tài chính và đầu tư của công ty.


14

Vốn lưu động ròng là phần dư của tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn
(Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn). Vốn lưu động ròng của một công ty có thể
xảy ra với một trong những trường hợp sau:
Vốn lưu động ròng > 0: Tài sản ngắn hạn lớn hơn Nợ ngắn hạn;
Vốn lưu động ròng < 0: Nợ ngắn hạn lớn hơn Tài sản ngắn hạn;
Vốn lưu động ròng = 0: Tài sản ngắn hạn bằng Nợ ngắn hạn.
Thông thường, thanh khoản của một công ty được đánh giá là tốt khi có

bởi sự mới mẻ trong tư tưởng kinh tế của ông.
Trong học thuyết của mình, Keynes đưa ra ba động cơ cho việc giữ tiền: Một
là, động cơ giao dịch. Các cá nhân nắm giữ tiền vì đó là phương tiện trao đổi
có thể dùng để tiến hành các giao dịch hàng ngày. Keynes nhấn mạnh
rằng bộ phận của cầu tiền tệ đó trước tiên do mức giao dịch của dân chúng
quyết định. Con người kinh tế điển hình, khi có thu nhập nhiều hơn thì tiêu
dùng (giao dịch) nhiều hơn. Ông tin rằng “nếu chúng ta cố gắng khẳng định
rằng tiền là thức uống giúp kích thích hệ thống hoạt động, ta phải tự nhắc
mình rằng việc đưa cốc lên môi cũng có vài lần bị trượt” [34, tr 173]. Bây giờ
ông nhìn thấy sự gia tăng lượng tiền như một hệ quả, chứ không phải nguyên
nhân của sự phục hồi tổng cầu: mối quan hệ nhân quả đi từ chi tiêu đến cung
tiền, chứ không phải đi từ cung tiền đến chi tiêu. Do đó, lượng cầu tiền mặt
này là hàm số thuận của thu nhập.
Hai là, động cơ dự phòng. Keynes thừa nhận rằng ngoài việc giữ tiền
để giao dịch hàng ngày, người ta còn giữ thêm tiền để dùng cho những nhu
cầu bất ngờ trong tương lai. Tiền dự phòng được sử dụng trong các cơ hội
mua thuận tiện hoặc cho nhu cầu chi tiêu bất thường. Keynes tin rằng số tiền
dự phòng mà người ta muốn nắm giữ được xác định trước tiên bởi mức độ


16

các giao dịch mà người ta dự tính sẽ thực hiện trong tương lai và những giao
dịch đó tỷ lệ thuận với thu nhập, do đó, lượng cầu tiền dự phòng tỷ lệ thuận
với thu nhập.
Từ hai nhân tố trên, theo quan điểm của Keynes, có hai nguyên nhân
làm cho thu nhập ảnh hưởng đến cầu tiền, đó là:
- Thứ nhất, khi nền kinh tế tăng trưởng, tức là hoạt động sản xuất kinh
doanh phát triển, đầu tư gia tăng, thì thu nhập và của cải tăng lên làm cho mọi
người có mong muốn giữ tiền nhiều hơn như là tài sản lưu trữ. Việc lưu giữ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status