Tương trợ tư pháp về hình sự tại việt nam, một số vấn đề lý luận thực tiễn - Pdf 52

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
1
1.Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
4
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
5
6.Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
6
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
6
8. Kết cấu của luận văn
6
CHƯƠNG 1
8
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP HÌNH SỰ 8
1.1.Khái niệm, đặc điểm tương trợ tư pháp về hình sự
8
1.2. Nguyên tắc tương trợ tư pháp về hình sự
11
1.3.Nội dung tương trợ tư pháp về hình sự
16
1. 4. Vai trò của hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự
17

3.1.2. Thực tiễn tương trợ tư pháp về hình sự ở Việt Nam sau khi Luật
tương trợ tư pháp năm 2007 có hiệu lực
61
3.2. Một số hạn chế của pháp luật và thực tiễn thực hiện tương trợ tư pháp
về hình sự ở Việt Nam
64
3.2.1.Những bất cập trong quy định của pháp luật
65
3.2.2.Những bất cập trong thực tiễn tương trợ tư pháp về hình sự
73


3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tương trợ tư pháp về hình
sự
75
3.3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tương trợ tư pháp hình sự
75
3.3.2.Giải pháp khắc phục những bất cập trong thực tiễn tương trợ tư
pháp hình sự
78
KẾT LUẬN
80


3

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu, không một nước hay
một nền kinh tế nào có thể tồn tại và phát triển một cách biệt lập mà không có

pháp về hình sự. Tuy nhiên, hoạt động tương trợ tư pháp tại Việt Nam hiện
nay chưa thực sự mang lại hiệu quả do pháp luật trong nước còn nhiều bất
cập, chưa có sự tương thích với pháp luật quốc tế; đồng thời đội ngũ cán bộ
làm công tác tương trợ tư pháp còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng.
Vì những lý do trên, nghiên cứu vấn đề "Tương trợ tư pháp về hình sự
tại Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" mang tính cấp thiết không
những về lý luận mà còn là đòi hỏi thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt
động tương trợ tư pháp về hình sự ở nước ta.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, hợp tác quốc tế về đấu tranh phòng chống tội phạm nói
chung, tương trợ tư pháp về hình sự nói riêng là vấn đề được nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm, đề cập trong các công trình nghiên cứu khoa học. Trong phạm
vi nghiên cứu của luận văn, có thể kể đến một số công trình như các đề tài
nghiên cứu khoa học cấp bộ: Viện nghiên cứu khoa học pháp lý -Bộ Tư pháp
(2000), Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Pháp lệnh tương trợ tư pháp quốc
tế, Hà Nội. Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an (2000), Dẫn độ tội phạm và tương
trợ tư pháp hình sự trong phòng chống tội phạm ở Việt Nam- thực trạng và
giải pháp, Hà Nội.
Về sách và giáo trình, có thể kể đến: Nguyễn Thị Thuận (2007), Luật
hình sự quốc tế, NXB Công an nhân dân, Hà Nội; Nguyễn Ngọc Chí (2011),
Những vấn đề lý luận, thực tiễn về luật hình sự quốc tế, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội; Đại học quốc gia Hà Nội (2012), Giáo trình Luật hình sự quốc tế
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.


5

Ngoài ra có rất nhiều bài báo viết về lĩnh vực này như: Hồ Thế Hòe,
Nguyễn Thị Thư (2012), "Tội phạm xuyên quốc gia và những vấn đề đặt ra
trong hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm", Nhà nước và pháp luật, (3);

là thành viên. Theo đó, tương trợ tư pháp về hình sự bao gồm:
- Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về
hình sự;
- Triệu tập người làm chứng, người giám định;
- Dẫn giải người đang chấp hành hình phạt tù để cung cấp chứng cứ
- Thu thập, cung cấp chứng cứ như lấy lời khai của người bị hại, người
làm chứng, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, xác minh lý lịch,
thu thập và cung cấp tài liệu…
- Truy cứu trách nhiệm hình sự
- Trao đổi thông tin
- Các hoạt động tương trợ tư pháp khác.
Hoạt động dẫn độ tội phạm tuy cũng là một hình thức tương trợ tư pháp
nhưng do đã được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu khoa học
khác. Hơn nữa, dẫn độ tội phạm là lĩnh vực rộng, có nhiều đặc thù so với các
hoạt động nêu trên nên sẽ không đề cập đến trong phạm vi đề tài này.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu đề tài tương trợ tư pháp về hình sự tại Việt Nam nhằm hai
mục tiêu chính:
Thứ nhất, về mặt lý luận, luận văn làm rõ những vấn đề chung về tương
trợ tư pháp hình sự như như khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức của
tương trợ tư pháp; phân tích các khía cạnh pháp lý của tương trợ tư pháp về
hình sự thông qua các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế
về vấn đề này.
Thứ hai, về mặt thực tiễn, luận văn phân tích những khó khăn, vướng
mắc về pháp luật cũng như những bất cập trong thực tiễn thực hiện tương trợ


7

tư pháp tại Việt Nam hiện nay để từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể để khắc


6.Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Việc nghiên cứu đề tài được dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác-Lê nin luận về duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ
Chí Minh về nhà nước và pháp luật cũng như cơ sở lý luận của khoa học luật
hình sự và pháp luật quốc tế.
Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu luật học như:
phương pháp phân tích, so sánh, mô tả, liệt kê. Phương pháp phân tích nhằm
đưa ra những nhận định và tìm hiểu sâu hơn về pháp luật điều chỉnh hoạt động
tương trợ tư pháp về hình sự, thực trạng tương trợ tư pháp hình sự tại Việt
Nam; phương pháp so sánh được sử dụng để đánh giá sự tương thích giữa
pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế; phương pháp mô tả, liệt kê dùng để
nêu ra những quy định của pháp luật hiện hành và mô tả thực trạng của hoạt
động tương trợ tư pháp hình sự ở Việt Nam.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Pháp luật điều chỉnh hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự bao gồm
điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia, do đó một trong những mục đích và
cũng là ý nghĩa của luận văn là hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận và
pháp lý cơ bản của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về tương trợ tư
pháp hình sự.
Về thực tiễn, việc phân tích những bất cập về pháp luật và về thực tiễn
thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự tại Việt Nam hiện nay sẽ có
ý nghĩa trong xác định những vướng mắc, hạn chế trong thực tiễn, từ đó đề ra
giải pháp để khắc phục những hạn chế đó và nâng cao hiệu quả của hoạt động
tương trợ tư pháp về hình sự.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 3 chương:



tương trợ tư pháp về hình sự tương tự cách hiểu nói trên của Đức1.
Ô-xtrây-lia có quan niệm về tương trợ tư pháp hình sự là việc các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền trợ giúp lẫn nhau trong một số hoạt động tố
tụng hình sự như: thu thập chứng cứ của người làm chứng tại Ô-xtrây-lia phục
vụ quá trình tố tụng ở nước ngoài; sắp xếp cho người làm chứng (nếu tự
nguyện) đến nước khác để cung cấp chứng cứ trong quá trình tố tụng ở nước
ngoài; xin phê chuẩn và thực hiện lệnh tạm giữ và tịch thu tài sản do phạm tội
mà có.2
Liên bang Nga có quan niệm tương trợ tư pháp cơ bản tương tự giống
cách quan niệm về tương trợ tư pháp của các nước thuộc hệ thống pháp luật
1 Bộ tư pháp, Báo cáo tổng thuật cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Luật tương trợ tư pháp năm 2007
2 Luật tương trợ tư pháp về hình sự năm 1987 của Australia


11

châu Âu lục địa. Phụ thuộc vào phạm vi nội dung các vấn đề được quy định
trong pháp luật của các nước và các điều ước quốc tế liên quan, tương trợ tư
pháp được hiểu là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của các nước
khác nhau trợ giúp lẫn nhau trong việc thực hiện hành vi tố tụng riêng biệt để
thu thập chứng cứ trong một vụ việc tố tụng tư pháp, thực hiện ủy thác tư
pháp về dân sự và hình sự của Tòa án nước ngoài, tống đạt giấy tờ 3...
Ở Việt Nam, khái niệm tương trợ tư pháp về hình sự cho đến nay chủ
yếu vẫn được hiểu trên cơ sở phạm vi các vấn đề được đặt ra trong thực tiễn tư
pháp với các nước, trên cơ sở các quy định trong pháp luật và các điều ước
quốc tế, các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kết với nước
ngoài. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật tố tụng hình sự năm 20154,
Luật tương trợ tư pháp năm 2007 đã đưa ra một phạm vi nhất định những vấn
đề thuộc phạm trù trương trợ tư pháp trong quan hệ giữa Việt Nam và các
nước, cho phép xác định được quan điểm về tương trợ tư pháp hiện nay.

và một số hoạt động khác hỗ trợ việc thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự.
Thứ ba, cơ sở pháp lý để thực hiện tương trợ tư pháp là điều ước quốc
tế (song phương hoặc đa phương) giữa các nước và pháp luật các nước liên
quan về tương trợ tư pháp. Điều ước quốc tế giữa các nước liên quan về tương
trợ tư pháp được ưu tiên áp dụng; nếu không có điều ước quốc tế liên quan thì
tương trợ tư pháp được thực hiện theo pháp luật của nước được yêu cầu thực
hiện, chủ yếu tuân theo nguyên tắc có đi có lại - nguyên tắc phổ biến trong đời
sống quốc tế được nhiều nước áp dụng.
Thứ tư, mục đích của hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự là nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân của các
quốc gia trên lãnh thổ của nhau, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm quốc tế,
tội phạm có tính chất quốc tế, góp phần củng cố và phát triển quan hệ hữu
nghị, hợp tác giữa nước ta và các quốc gia hữu quan.
1.2. Nguyên tắc tương trợ tư pháp về hình sự


13

Việc xác định các nguyên tắc trong tương trợ tư pháp về hình sự có ý
nghĩa rất quan trọng để định hướng nội dung, hình thức hợp tác. Tương trợ tư
pháp về hình sự là một trong các hoạt động hợp tác quốc tế trong tố tụng hình
sự, là một phần quan trọng của quan hệ đối ngoại của mỗi quốc gia. Sự hợp
tác này góp phần thực hiện các nhiệm vụ của chức năng đối ngoại của nhà
nước. Dưới góc độ lý luận, nguyên tắc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp
được hình thành từ nhu cầu, mục đích hợp tác và do chính sách đối ngoại của
mỗi nhà nước quyết định.
Trong quan hệ quốc tế, các quốc gia luôn phải tuân thủ các nguyên tắc
cơ bản của pháp luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các
quốc gia. Vì vậy, tương trợ tư pháp nói chung và tương trợ tư pháp về hình sự
nói riêng cũng phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản này bao gồm: Nguyên tắc

yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự nếu việc thực hiện yêu cầu đó có thể làm
tổn hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia.
Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác đòi hỏi các quốc gia có
nghĩa vụ tiến hành hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề kinh tế, văn hóa,
xã hội và nhân đạo trong phạm vi quốc tế, đồng thời duy trì hòa bình và an
ninh quốc tế bằng cách tiến hành các biện pháp tập thể có hiệu quả. Trong lĩnh
vực tương trợ tư pháp về hình sự, nguyên tắc này là cơ sở để các quốc gia hợp
tác với các quốc gia khác để giải quyết các yêu cầu tương trợ tư pháp, góp
phần đấu tranh phòng chống tội phạm.
Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế được hiểu là
khi các bên chủ thể trong quan hệ quốc tế tham gia vào ký kết các điều ước
quốc tế thì phải trên cơ sở của sự thỏa thuận và tự nguyện bình đẳng. Đồng
thời, khi đã tham gia vào điều ước quốc tế đó, các quốc gia phải có nghĩa vụ
tuân thủ nội dung mà mình đã cam kết. Tương trợ tư pháp về hình sự đòi hỏi
các quốc gia phải tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc này bởi cơ sở pháp lý của hoạt
động này chính là các điều ước quốc tế đa phương và song phương.


15

Song song với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, tương trợ tư pháp
về hình sự còn phải tuân theo những nguyên tắc được quy định trong pháp
luật quốc gia. Pháp luật Việt Nam mà cụ thể là Luật tương trợ tư pháp năm
2007 đã quy định một số nguyên tắc đối với tương trợ tư pháp nói chung và
tương trợ tư pháp hình sự nói riêng như sau:
Thứ nhất, tương trợ tư pháp về hình sự phải phù hợp với Hiến pháp,
pháp luật của Việt Nam: Đây là nguyên tắc xuyên suốt toàn bộ quá trình hợp
tác trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự. Nguyên tắc này nhằm đảm
bảo cho tương trợ tư pháp luôn tuân thủ chính sách đối ngoại của Đảng và
Nhà nước ta, bảo đảm tôn trọng những quy định của pháp luật quốc tế và pháp

Thứ ba, tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện trên cơ sở nguyên
tắc có đi có lại.
“Có đi có lại” là một trong những nguyên tắc pháp lý quan trọng và phổ
biến. Theo nguyên tắc này, các quốc gia sẽ dành sự đối xử một cách tương
xứng với những gì quốc gia kia dành cho quốc gia mình. Nguyên tắc "có đi có
lại" được áp dụng trong quan hệ giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ khi giữa các
quốc gia đó chưa ký kết điều ước quốc tế song phương, hoặc không cùng
tham gia điều ước quốc tế đa phương nhưng có yêu cầu hợp tác trong lĩnh vực
nào đó.
Hiện nay, trong lĩnh vực tư pháp hình sự, các quốc gia trên thế giới
thường áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”. Nguyên tắc này có ưu thế là trực
tiếp giải quyết nhanh chóng yêu cầu của cả hai bên nhưng phải được thực hiện
trên cơ sở thiện chí, đôi bên cùng hỗ trợ nhau, cùng có lợi. “Có đi có lại” được
áp dụng nhiều trong thực tiễn hợp tác quốc tế giữa các quốc gia và đã trở
thành một nguyên tắc. Tuy nhiên, khi áp dụng nguyên tắc này các quốc gia

5 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016


17

phải cân nhắc rất thận trọng các yếu tố chính trị, pháp lý và đối ngoại sao cho
có lợi về mặt chính trị và không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
quốc gia, không gây phương hại đến an ninh trật tự của quốc gia mình.
Điều 340 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Điều 492 Bộ luật tố tụng
hình sự năm 20156, khoản 2 Điều 4 Luật tương trợ tư pháp năm 2007 quy
định trong trường hợp nước CHXHCN Việt Nam chưa ký hoặc chưa gia nhập
các điều ước quốc tế có liên quan thì việc hợp tác quốc tế trong hoạt động tố
tụng hình sự được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái
pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam, pháp luật quốc tế và tập quán quốc

đương theo quy định của pháp luật hai bên.
Bên cạnh đó, thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự còn phải
tuân thủ nguyên tắc chỉ đạo về hợp tác quốc tế theo ngành, lĩnh vực do cơ
quan chủ quản xác định phù hợp với nguyên tắc chung do Đảng và Nhà nước
ta đã ban hành. Thực hiện các nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan tiến hành tố
tụng phải tuyệt đối tuân thủ quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước ta về đối ngoại; các quy định của bộ, ngành chủ quản
của cơ quan tiến hành tố tụng, về hợp tác quốc tế giữa cơ quan tiến hành tố
tụng Việt Nam với cơ quan tiến hành tố tụng các nước trong đấu tranh phòng,
chống tội phạm.
Các nguyên tắc trên đây luôn luôn gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau,
tạo cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích chính đáng của
công dân, góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ hợp tác giữa các quốc gia.
1.3.Nội dung tương trợ tư pháp về hình sự
Nội dung tương trợ tư pháp về hình sự là toàn bộ những vấn đề liên
quan đến việc thực hiện tương trợ tư pháp hình sự, được quy định trong pháp

7 Nguyễn Ngọc Anh (2014), Sổ tay về công tác tương trợ tư pháp về hình sự, NXB Lao động, Hà Nội.


19

luật mỗi quốc gia cũng như các điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên.
Việc quy định rõ nội dung tương trợ tư pháp về hình sự giúp cho các quốc gia
xác định đúng thẩm quyền tương trợ tư pháp của mình, từ đó thực hiện hoạt
động này một cách hiệu quả, đúng pháp luật.
Pháp luật Việt Nam quy định khá cụ thể về nội dung tương trợ tư pháp
về hình sự bao gồm các hoạt động như: tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên
quan đến vụ án; triệu tập người làm chứng, người giám định; dẫn giải người
đang chấp hành hình phạt tù để cung cấp chứng cứ; thu thập, cung cấp chứng

cũng như pháp lý, góp phần thể chế hoá và thực hiện đường lối đối ngoại đa
phương hoá, đa dạng hoá, tăng cuờng hội nhập, hợp tác quốc tế đã được ghi
nhận trong các Văn kiện của Đảng và Nhà nước ta. Nghị quyết số 49- NQ/TW
ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đã xác định: “Tổ chức thực hiện tốt các điều
ước quốc tế mà Nhà nước ta đã tham gia. Tiếp tục ký kết hiệp định tương trợ
tư pháp với các nước khác, trước hết là với các nước láng giềng, các nước
trong khu vực... Tăng cường sự phối hợp chung trong hoạt động phòng ngừa
và đấu tranh chống tội phạm có yếu tố quốc tế và khủng bố”... Tiếp đó, ngày
22/10/2010, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 48-CT/TW về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình
mới, trong đó nhấn mạnh: “Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong công tác
phòng, chống tội phạm, trước hết là với các nuớc láng giềng, các nước có
quan hệ truyền thống, các nước trong khu vực ASEAN. Tổ chức thực hiện tốt
các công ước quốc tế, hiệp định tương trợ tư pháp, hiệp định hợp tác phòng,
chống tội phạm mà Nhà nước ta đã ký kết hoặc gia nhập. Tiếp tục nghiên cứu
tham gia, ký kết các điều ưóc quốc tế khác liên quan đến công tác phòng,
chống tội phạm” .
Tương trợ tư pháp về hình sự có vai trò quan trọng không chỉ với mỗi
quốc gia mà còn có ý nghĩa quốc tế:
Thứ nhất, tương trợ tư pháp về hình sự góp đấu tranh phòng chống tội
phạm nói chung, tội phạm có yếu tố nước ngoài nói riêng.Thông qua tương trợ
tư pháp về hình sự góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động điều tra, truy tố,


21

xét xử và thi hành án đối với các vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài. Điều
này có ý nghĩa quan trọng trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu
hoá hiện nay.
Sự nỗ lực hợp tác của cộng đồng quốc tế trong việc trừng trị, ngăn

mở rộng sự hiểu biết về công tác chuyên môn. Điều đó là hoàn toàn cần thiết
và có lợi cho công cuộc hội nhập quốc tế, củng cố và nâng cao vai trò và vị
thế của các cơ quan tư pháp của mỗi quốc gia trên trường quốc tế.
Tóm lại, sau khi nghiên cứu một cách tổng quát về hoạt động tương trợ
tư pháp về hình sự, có thể nhận định: Tương trợ tư pháp về hình sự là một
hoạt động hợp tác giữa các quốc gia trong lĩnh vực hình sự với chủ thể là các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền như Viện kiểm sát, Tòa án, Công an và các
cơ quan khác theo quy định của pháp luật mỗi quốc gia. Cũng giống như các
hoạt động hợp tác khác, tương trợ tư pháp về hình sự phải tuân thủ các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế và pháp luật mỗi quốc gia, đặc biệt là
nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp
vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phù hợp
pháp luật quốc gia và nguyên tắc "có đi có lại". Tương trợ tư pháp về hình sự
bao gồm nhiều nội dung như tống đạt giấy tờ; triệu tập người làm chứng, truy
cứu trách nhiệm hình sự...Đây đều những vấn đề quan trọng trong tố tụng hình
sự, đòi hỏi các quốc gia phải có những quy định rõ ràng, cụ thể để hoạt động
này được thực hiện một cách có hiểu quả. Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập
quốc tế và tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp, tương trợ tư pháp
về hình sự là một hoạt động thiết yếu của mỗi quốc gia nhằm bảo vệ an ninh,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân quốc gia mình và góp phần không
nhỏ vào quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, trách nhiệm của
mỗi quốc gia là cần hoàn thiện pháp luật trong nước cũng như gia nhập các
điều ước quốc tế đa phương và song phương về tương trợ tư pháp hình sự để
tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động này.
CHƯƠNG 2


23

TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ THEO ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

tháng 9 năm 2013, Công ước đã có 184 quốc gia thành viên. Việt Nam gia
nhập ngày 04/11/1997.
Mục đích ban hành Công ước này là nhằm thiết lập mối liên kết giữa
các quốc gia trong việc bảo vệ sức khỏe và phúc lợi của nhân loại. Công ước
nhấn mạnh tầm quan trọng của các quốc gia trong ngăn chặn và chống tệ nạn
ma túy.
Công ước quy định các hoạt động chống buôn bán bất hợp pháp các
chất ma túy, các quy định về tội phạm và hình phạt liên quan đến ma túy; hợp
tác giữa các quốc gia trong phòng, chống tội phạm về ma túy…
Công ước về các chất hướng thần năm 1971: Công ước này được thông
qua tại Viên (Áo) năm 1971 ngày 21/02/1971. Tính đến tháng 9 năm 2013,
Công ước đã có 183 quốc gia thành viên. Việt Nam gia nhập công ước ngày
04/11/1997.
Công ước quy định các nước thành viên giúp đỡ lẫn nhau, hợp tác chặt
chẽ với nhau và với các tổ chức quốc tế có thẩm quyền trong chiến dịch
chống buôn bán bất hợp pháp các chất hướng thần; các tội nghiêm trọng do
công dân trong nước hoặc nước ngoài thực hiện phải bị truy tố do bên, nơi tội
phạm được thực hiện hoặc bên, nơi phát hiện người phạm tội, nếu việc dẫn độ
không thể thực hiện được và người thực hiện hành vi phạm tội đó chưa bị xét
xử và chưa bị kết án (các điều 21,22,23 Công ước).
Công ước của Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp các chất
ma tuý và các chất hướng thần năm 1988: Công ước được thông qua ngày
19/12/1988 tại Viên (Áo) và có hiệu lực ngày 11/11/1990. Tính đến thời điểm
ngày 15/7/2013, đã có quốc gia là thành viên của Công ước. Việt Nam gia


25

nhập Công ước ngày 4/11/1997.
Công ước quy định về các bên sẽ dành cho nhau sự tương trợ tư pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status