BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ LAN PHƯƠNG
TÁC ĐỘNG CỦA THAM NHŨNG ĐẾN NỢ
CÔNG CỦA CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT
TRIỂN Ở CHÂU Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ LAN PHƯƠNG
TÁC ĐỘNG CỦA THAM NHŨNG ĐẾN NỢ
CÔNG CỦA CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT
TRIỂN Ở CHÂU Á
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN HỒNG THẮNG
Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2018
1.6.
Nội dung đề tài ................................................................................................... 5
CHƯƠNG 2.CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM ............ 7
2.1.
Cơ sở lý thuyết.................................................................................................... 7
2.1.1.
Nợ công ........................................................................................................ 7
2.1.2.
Tham nhũng ................................................................................................. 7
2.1.3.
Lý thuyết nợ công ........................................................................................ 9
2.2.
Mối quan hệ tham nhũng và nợ công ............................................................... 12
2.3.
Bằng chứng thực nghiệm .................................................................................. 14
CHƯƠNG 3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................ 27
3.2.
Mô hình nghiên cứu .......................................................................................... 32
3.3.
Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 34
3.4.
Dữ liệu nghiên cứu ........................................................................................... 35
CHƯƠNG 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................... 37
4.1.
Sơ bộ dữ liệu và ma trận tương quan................................................................ 37
4.2.
Kết quả kiểm định tính dừng ............................................................................ 44
4.3.
Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi ............. 45
4.4.
Kết quả ảnh hưởng của tham nhũng đến nợ công của các quốc gia................. 47
Bảng 4.7. Kết quả hồi quy ảnh hưởng của tham nhũng đến tỷ lệ nợ công của các quốc
gia ................................................................................................................................... 47
1
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1.
Lý do lựa chọn đề tài
Nợ công được xem như là công cụ quan trọng trong việc điều hành chính sách
tài khóa của quốc gia do nợ công được sử dụng như là một nguồn vốn bù đắp sự chênh
lệch giữa chi ngân sách và thu ngân sách. Cho nên chủ đề về nợ công nhận được nhiều
sự quan tâm bởi các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách triên toàn cầu
trong thời gian vừa qua. Tuy rằng có ưu điểm trong việc bù đắp thâm hụt ngân sách,
nhưng việc sử dụng nợ công được xem như là con dao hai lưỡi. Chẳng hạn như, một
mặt, việc sử dụng nợ công hiệu quả có thể làm tăng trưởng kinh tế cho quốc gia và
giúp Chính phủ đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội. Về mặt lý thuyết, bằng cách sử
dụng nợ để tài trợ cho các dự án đầu tư có thể cải thiện năng lực sản xuất của quốc gia
và tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế (Cohen, 1993). Tuy nhiên, khi quốc gia phụ thuộc
đáng kể vào nợ công và quản lý nợ công không hiệu quả thì có thể làm gia tăng rủi ro
kinh tế vĩ mô và cản trở sự phát triển kinh tế của quốc gia. Thậm chí trong trường hợp
các khoản nợ công mà quốc gia đang vay mượn đang được hưởng ưu đãi nhiều hơn, thì
một mức nợ công cao đòi hỏi chi phí trả lãi càng cao, điều này cho thấy quốc gia sẽ
không có cơ sở thu thuế rộng. Kết quả là, Chính phủ không còn việc nào khác phải cắt
giảm việc phân bổ chi tiêu chính phủ để hạn chế sự gia tăng trong nợ công, mà những
khoản mục trong chi tiêu chính phủ này lại có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh
Mục tiêu đầu tiên: luận văn xem xét tác động của tham nhũng đến nợ công của
các quốc gia đang phát triển ở Châu Á.
Mục tiêu thứ hai: từ các kết quả đạt được, luận văn đưa ra các hàm ý chính sách
dành cho các nhà hoạch định chính sách của quốc gia trong công tác kiểm soát nợ công
của quốc gia.
1.3.
Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu, luận văn đưa ra câu hỏi nghiên cứu như sau:
3
Tham nhũng có tác động đến nợ công của các quốc gia đang phát triển ở Châu
Á hay không?
1.4.
Dữ liệu nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn sử dụng dữ liệu của các quốc gia ở Châu Á trong giai đoạn 1996 –
2016. Cụ thể, luận văn nghiên cứu mẫu nghiên cứu bao gồm 33 quốc gia đang phát
triển ở Châu Á từ năm 1996 đến 2016 với 660 quan sát.
Đối tượng nghiên cứu
Các đối tượng nghiên cứu trực tiếp trong luận văn là nợ công, tham nhũng, lạm
phát, tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, chi tiêu chính phủ, tăng trưởng dân số của
các quốc gia.
𝛽 ∗
(1)
4
𝐷𝐸𝐵𝑇
là giá trị trễ của biến phụ thuộc, hàm ý nợ công ở năm trước
𝐶𝑂𝑅𝑅 là tham nhũng của quốc gia được đo lường bởi 02 biến tham nhũng
được thu thập từ WGI của Ngân hàng Thế giới (WorldBank), tham nhũng được thu
thập từ ICRG. Đồng thời, luận văn thực hiện tương tự như các nghiên cứu trước đây đã
làm và đưa từng đại diện cho tham nhũng vào mô hình nghiên cứu để phân tích tác
động của tham nhũng đến nợ công của các quốc gia ở Châu Á. Trong đó giá trị của hai
chỉ tiêu của WGI và ICRG cao thì ngụ ý các quốc gia đang có mức tham nhũng thấp,
và ngược lại các quốc gia có mức tham nhũng cao khi giá trị của hai chỉ tiêu của WGI
và ICRG thấp. Cụ thể, chỉ số tham nhũng của ICRG (CORR1) có mức độ dao động
trong khoảng từ 0 đến 6, trong đó giá trị của CORR1 càng tăng đến giá trị 6 thì cho
thấy tham nhũng của quốc gia thấp và ngược lại (Kotlanova và Kotlan, 2012). Tương
tự vậy, giá trị kiểm soát tham nhũng của WGI (CORR2) càng tiến về giá trị -2.5 càng
cho thấy quốc gia đang có mức độ tham nhũng càng cao, ngược lại khi giá trị của
CORR2 tiến về mức 2.5 thì cho thấy tham nhũng càng ít. Nhưng để cho người đọc dễ
hiểu, không mắc cái sai lầm hay ảo tưởng sai về tham nhũng khi sử dụng hai đại diện
này, luận văn nhân các chỉ số này với giá trị -1, để hàm ý rằng khi các chỉ số này tăng
thì cho thấy tham nhũng đang cao và ngược lại.
𝐺𝑂𝑉𝐸𝑋𝑃 là chi tiêu chính phủ được tính bởi tỷ lệ chi tiêu chính phủ trên GDP
𝐺𝐷𝑃𝑃𝐶𝐺𝑅 là Mức độ biến động trong thu nhập trên đầu người của quốc gia
cứu mà luận văn áp dụng.
Chương 4. Kết quả nghiên cứu
Chương này luận văn sẽ thể hiện thống kê mô tả và ma trận tương quan của các
biến có trong mô hình giải thích nợ công của quốc gia bằng cách phân tích các tác
động của các yếu tố này đến nợ công. Đồng thời luận văn trình bày kết quả kiểm tra tự
tương quan và phương sai thay đổi từ đó lựa chọn phương pháp hồi quy phù hợp và
tiến hành thảo luận kết quả đạt được.
6
Chương 5. Kết luận
Chương này luận văn sẽ tổng hợp lại các kết quả đạt được khi giải thích nợ công
của quốc gia. Đồng thời luận văn trình bày một số hàm ý chính sác từ các kết quả đạt
được, cũng như nêu lên hạn chế và hướng mở rộng cho các đề tài sau này.
7
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM
2.1.
Cơ sở lý thuyết
2.1.1. Nợ công
học, Cao đẳng, Trung Cấp).
Hiện nay, có tương đối ít tổ chức thực hiện và đo lường tham nhũng của các
quốc gia trên thế giới. Trong số các tổ chức này phải kể đến Ngân hàng Thế giới với bộ
số liệu Chỉ tiêu Quản trị Thế giới, Tập Đoàn PRS với bộ Hướng dẫn Quốc tế về Rủi ro
Quốc gia và Tổ chức Minh Bạch Quốc tế với bộ chỉ số nhận thức tham nhũng
(Corruption Perception Index).
Đầu tiên, kể từ năm 1995, Tổ chức Minh bạch Quốc tế đã công bố chỉ số nhận
thức tham nhũng CPI. Mỗi năm, chỉ số của Tổ chức Minh bạch Quốc tế sẽ cho thấy
mức độ tham nhũng trong khu vực công của quốc gia đang là bao nhiêu và xếp hạng
thứ bao nhiêu trong tổng số các quốc gia được công bố chỉ số nhận thức tham nhũng.
Ví dụ như trong năm 2013, chỉ số nhận thức tham nhũng đã đo lường mức độ tham
nhũng của khu vực công ở 177 quốc gia. Trong đó, giá trị của chỉ số nhận thức tham
nhũng biến động từ 0 đến 100, với số điểm của chỉ số này bằng 0 thì đại diện cho mức
độ tham nhũng rất cao.
Ngân hàng Thế giới công bố bộ Chỉ tiêu Quản trị Thế giới WGI. Theo đó, Ngân
hàng Thế giới đã tóm tắt tình hình chất lượng thể chế của 212 quốc gia trên thế giới
dựa vào 06 khía cạnh quản trị. Các khía cạnh này bao gồm tiếng nói và trách nhiệm
giải trình, sự ổn định của chính trị, hiệu quả của chính phủ, chất lượng của các quy
9
định, nhà nước pháp quyền và kiểm soát tham nhũng. Trong đó các khía cạnh này biến
động từ -2.5 đến 2.5, cụ thể, với giá trị kiểm soát tham nhũng càng tiến về giá trị -2.5
càng cho thấy quốc gia đang có mức độ tham nhũng càng cao, ngược lại khi giá trị tiến
về mức 2.5 thì cho thấy tham nhũng càng ít.
Cuối cùng, được thành lập vào năm 1979, Tập đoàn PRS là một trong những
nhà cung cấp các dự báo rủi ro chính trị và rủi ro quốc gia. Trong đó, tập đoàn PRS đã
thuyết lựa chọn công là thiếu các ưu đãi cho cử tri để theo dõi chính phủ một cách hiệu
quả (Buchanan, 1967). Anthony Downs, trong một trong những cuốn sách nói về lựa
chọn công sớm nhất, “Lý thuyết kinh tế dân chủ”, chỉ ra rằng cử tri phần lớn là không
biết gì về các vấn đề chính trị và rằng sự thiếu hiểu biết này là hợp lý. Mặc dù kết quả
của cuộc bầu cử có thể rất quan trọng, nhưng phiếu bầu của một cá nhân hiếm khi
quyết định một cuộc bầu cử (Buchanan và Tullock, 1962). Các nhà kinh tế nghiên cứu
thuyết lựa chọn công chỉ ra rằng sự không biết về khuyến khích này là hiếm trong khu
vực tư nhân.
Các nhà kinh tế nghiên cứu lý thuyết lựa chọn công cũng kiểm tra hành động
của các nhà lập pháp. Mặc dù các nhà lập pháp dự kiến sẽ theo đuổi "lợi ích công
cộng", họ đưa ra quyết định về cách sử dụng các nguồn lực của người khác, chứ không
phải của chính họ (Gordon, 2008). Hơn nữa, những tài nguyên này phải được cung cấp
bởi người nộp thuế và những người sẽ bị tổn thương bởi các quy định cho dù họ có
muốn cung cấp cho họ hay không. Các chính trị gia có thể có ý định chi tiền một cách
khôn ngoan. Tuy nhiên, các quyết định hiệu quả sẽ không tiết kiệm tiền riêng của họ và
cũng không cung cấp cho họ bất kỳ phần nào của cải mà họ tiết kiệm được cho công
dân. Không có phần thưởng trực tiếp để chống lại các nhóm lợi ích mạnh mẽ để trao
lợi ích cho công chúng, những người mà thậm chí không nhận thức được lợi ích hoặc
lợi ích từ những người đã trao cho họ (Buchanan, 1967).
11
Ngoài lý thuyết lựa chọn công, lý thuyết động về chi tiêu công, thuế và nợ công
cũng có thể giải thích sự thay đổi trong nợ công của quốc gia. Cụ thể lý thuyết này xây
dựng trên phương pháp làm đẹp thuế nổi tiếng với chính sách tài khóa được tiên phong
bởi Barro (1979). Cách tiếp cận này dự đoán rằng các chính phủ sẽ sử dụng thặng dư
ngân sách và thâm hụt ngân sách như một bộ đệm để ngăn chặn thuế suất thay đổi quá
chính sách.
2.2.
Ảnh hưởng của tham nhũng đến nợ công
Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham nhũng hay tham ô là hành vi của người
lạm dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc cố ý làm trái pháp luật để phục vụ cho lợi ích cá
nhân. Acemoglu và Verdier (2000) khẳng định tham nhũng là sản phẩm phụ của quá
trình can thiệp của chính phủ. Lý thuyết kinh tế học công cộng đã chỉ ra rằng các quyết
định của cán bộ công quyền thường bị chi phối bởi hành vi tìm kiếm đặc lợi mà một
trong những biểu hiện của nó là tham nhũng, hối lộ. Những khoản tiền tham nhũng, hối
lộ luôn có sức hấp dẫn lớn đối với các chủ thể tìm kiếm đặc lợi. Chỉ với một mức tỷ lệ
phần trăm “hoa hồng” nhỏ trong một dự án công có chi phí lên tới hàng triệu, thậm chí
hàng trăm triệu đôla cũng sẽ trở thành một khoản tiền đủ để cám dỗ tham nhũng. Khi
cán bộ công quyền bị chi phối bởi hành vi tìm kiếm đặc lợi, họ có động cơ để tham gia
kiểm soát và gây ảnh hưởng tới các quyết định liên quan tới quy mô tổng chi đầu tư,
lựa chọn các dự án đầu tư, thiết kế dự án và quá trình triển khai dự án. Hệ quả là việc
kiểm soát chi tiêu đầu tư gặp khó khăn, dự án được đầu tư khi chưa thực sự cần thiết
đầu tư, dự án được đầu tư với quy mô và công suất không phù hợp với nhu cầu, dự án
được đầu tư với yêu cầu kỹ thuật và mỹ thuật không phù hợp so với nhu cầu, dự án
được đầu tư ở thời điểm và địa điểm không hợp lý, thiết bị công trình của dự án có
chất lượng thấp làm giảm tuổi thọ của dự án…
Nhà kinh tế học thể chế đoạt giải Nobel, Douglass C. North đã khẳng định: “Sự
phát triển giàu có của một quốc gia không phải chủ yếu do nó giàu có tài nguyên như
dầu mỏ, cũng không phải do sự cần cù của số đông người lao động mà chủ yếu là do
13
14
nhà điều hành chính sách, các nhà chính trị gia của quốc gia không có sự nhất quán
trong việc quản lý nợ công. Nói cách khác, một quốc gia có chất lượng thể chế tốt (đặc
biệt là mức độ tham nhũng thấp) có thể giúp các nước quản lý nợ công tốt hơn bằng
cách giảm thiểu chi phí đi vay, rủi ro tài chính thấp và phát triển thị trường nợ trong
nước (Tarek và Ahmed, 2017). Ngược lại, tham nhũng càng cao sẽ càng làm cho quốc
gia vay nợ nhiều hơn và chi tiêu chính phủ nhiều hơn (Wei và Zeckhauser, 1999; Tanzi
và Davoodi, 2002; Cooray và các cộng sự, 2017). Trong khi đó sự gia tăng trong mức
độ vay nợ xuất phát từ việc thu ngân sách, bởi lẽ nguồn thu ngân sách của quốc gia để
tài trợ cho các khoản chi tiêu chính phủ giảm mạnh (Audu, 2004; Kaufam, 2010), do
đó sẽ thúc đẩy động cơ Chính phủ thực hiện vay nợ nhiều hơn để có đủ nguồn vốn tài
trợ. Kết quả là mức độ nợ công của quốc gia ngày càng gia tăng.
2.3.
Bằng chứng thực nghiệm
Grechyna (2010) giải thích tác động của tham nhũng và các yếu tố đại diện cho
chất lượng thể chế đến tỷ lệ nợ công của các quốc gia. Điểm mới của tác giả là nhắm
vào các quốc gia có thu nhập cao bởi do các đề tài nghiên cứu trước đây đều phân tích
mẫu nghiên cứu các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp. Trong đó mẫu nghiên cứu
của tác giả thu thập bao gồm 23 quốc gia thuộc nhóm OECD trong giai đoạn nghiên
cứu từ năm 1995 đến năm 2007. Mô hình nghiên cứu của các tác giả sử dụng với biến
phụ thuộc là tỷ lệ nợ công của các quốc gia và các yếu tố như tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ
thất nghiệp, tham nhũng, chi phí sử dụng nợ và các yếu tố đại diện cho chất lượng thể
chế được sử dụng như là các biến độc lập của mô hình nghiên cứu. Qua đó tác giả nhận
thấy rằng các quốc gia trong mẫu nghiên cứu có tỷ lệ nợ công bình quân đạt 48% so
với GDP. Đồng thời, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy GMM để ước lượng mô
phủ càng cao, chi phí sử dụng nợ càng cao thì có khuynh hướng tiếp cận với các khoản
vay nợ và gia tăng tỷ lệ nợ công của quốc gia. Ngược lại, tác giả cũng tìm thấy rằng
tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp có thể được sử dụng như một công cụ để giảm
thiểu tỷ lệ nợ công của các quốc gia vì cho thấy tác động ngược chiều đến tỷ lệ nợ
công của các quốc gia.
16
Van Bon (2015) nghiên cứu mối quan hệ giữa nợ công và lạm phát của các quốc
gia. Trong đó mẫu nghiên cứu của tác giả bao gồm 60 quốc gia đang phát triển ở Châu
Á, Mỹ La Tin, và Châu Phi trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 1990 đến năm 2014.
Mô hình nghiên cứu của tác giả gồm hai mô hình tương ứng với hai biến phụ thuộc là
nợ công và lạm phát. Ở mô hình nghiên cứu biến phụ thuộc là nợ công thì tác giả sử
dụng các biến độc lập như lạm phát, thu nhập quốc gia, đầu tư tư nhân, lực lượng lao
động, thu chính phủ, cơ sở hạ tầng, độ mở thương mại. Qua đó tác giả nhận thấy rằng
các quốc gia trong mẫu nghiên cứu có tỷ lệ nợ công bình quân đạt 68.175% so với
GDP. Đồng thời, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy GMM để ước lượng mô hình
nghiên cứu và tìm thấy rằng đầu tư tư nhân, độ mở thương mại có tác động cùng chiều
đến tỷ lệ nợ công của các quốc gia ở mức ý nghĩa 10%. Điều này cho thấy rằng các
quốc gia càng có đầu tư tư nhân càng cao, và càng mở cửa thương mại hội nhập với thế
giới thì có khuynh hướng tiếp cận với các khoản vay nợ và gia tăng tỷ lệ nợ công của
quốc gia. Ngược lại, tác giả cũng tìm thấy rằng lạm phát, thu nhập quốc gia, thu chính
phủ đều có thể được sử dụng như một công cụ để giảm thiểu tỷ lệ nợ công của các
quốc gia vì cho thấy tác động ngược chiều đến tỷ lệ nợ công của các quốc gia. Bên
cạnh đó, nghiên cứu của tác giả cũng tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng nợ công sẽ
làm gia tăng lạm phát của các quốc gia đang phát triển có trong mẫu nghiên cứu.
Pereima và các cộng sự (2015) nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
rằng các quốc gia trong mẫu nghiên cứu có tỷ lệ nợ công bình quân đạt 65.92% so với
GDP. Đồng thời, các tác giả sử dụng phương pháp hồi quy GMM để ước lượng mô
hình nghiên cứu và tìm thấy rằng tham nhũng đều thể hiện tác động cùng chiều đến tỷ
lệ nợ công của các quốc gia có trong mẫu nghiên cứu ở mức ý nghĩa 10% trong hầu hết
các phương trình hồi quy. Mặc dù đã có đưa thêm biến bình phương của tham nhũng
nhằm nắm bắt mối quan hệ phi tuyến giữa tham nhũng và tỷ lệ nợ công, tuy nhiên hệ
số hồi quy của biến bình phương này lại không có ý nghĩa thống kê ở mức 10%. Điều
này hàm ý rằng các quốc gia càng có mức độ tham nhũng càng cao thì sẽ làm gia tăng
tỷ lệ nợ công của các quốc gia. Ngoài ra, chi tiêu chính phủ và kinh tế ngầm lại có tác
18
động cùng chiều đến tỷ lệ nợ công của các quốc gia ở mức ý nghĩa 10%. Điều này cho
thấy rằng các quốc gia càng chi tiêu chính phủ càng nhiều và có nền kinh tế ngầm thì
có khuynh hướng tiếp cận với các khoản vay nợ và gia tăng tỷ lệ nợ công của quốc gia.
Ngược lại, các tác giả cũng tìm thấy rằng thu nhập quốc gia, vốn con người và chỉ số
chính trị có thể được sử dụng như một công cụ để giảm thiểu tỷ lệ nợ công của các
quốc gia vì cho thấy tác động ngược chiều đến tỷ lệ nợ công của các quốc gia.
Tarek và Ahmed (2017) nghiên cứu tác động của các thành phần của chất lượng
thể chế đến tỷ lệ nợ công của các quốc gia, bao gồm tác động của tham nhũng. Trong
đó mẫu nghiên cứu của các tác giả thu thập bao gồm 17 quốc gia thuộc khu vực Trung
Đông và Bắc Phi trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 1996 đến năm 2015. Mô hình
nghiên cứu của các tác giả sử dụng với biến phụ thuộc là tỷ lệ nợ công của các quốc
gia và các yếu tố như thu nhập quốc gia, chi tiêu chính phủ, vốn con người, tỷ lệ thất
nghiệp, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, và các thành phần của chất lượng thể chế bao
gồm kiểm soát tham nhũng, hiệu quả chính phủ, nhà nước pháp quyền, chất lượng các
quy định, tiếng nói và trách nhiệm giải trình và sự ổn định chính trị được sử dụng như
đó các tác giả nhận thấy rằng các quốc gia trong mẫu nghiên cứu có tỷ lệ nợ công bình
quân đạt 49.5% so với GDP. Đồng thời, các tác giả sử dụng phương pháp hồi quy
GMM để ước lượng mô hình nghiên cứu và tìm thấy rằng tham nhũng đều thể hiện tác
động cùng chiều đến tỷ lệ nợ công của các quốc gia có trong mẫu nghiên cứu ở mức ý
nghĩa 10% ở các phương trình hồi quy. Điều này hàm ý rằng các quốc gia càng có mức
độ tham nhũng càng cao thì sẽ làm gia tăng tỷ lệ nợ công của các quốc gia. Ngoài ra,
thu nhập quốc gia, chi phí vay nợ, chi tiêu chính phủ có tác động cùng chiều đến tỷ lệ
nợ công của các quốc gia ở mức ý nghĩa 10%. Điều này cho thấy rằng các quốc gia
càng chi tiêu chính phủ càng nhiều, có thu nhập quốc gia càng cao và càng có chi phí
vay nợ cao thì có khuynh hướng tiếp cận với các khoản vay nợ và gia tăng tỷ lệ nợ
công của quốc gia. Ngược lại, các tác giả cũng tìm thấy rằng tăng trưởng kinh tế, lạm
phát, dân số, ổn định chính trị và dòng vốn ODA đều có thể được sử dụng như một
20
công cụ để giảm thiểu tỷ lệ nợ công của các quốc gia vì cho thấy tác động ngược chiều
đến tỷ lệ nợ công của các quốc gia.
Henri (2018) nghiên cứu tác động của tham nhũng đến tỷ lệ nợ công của các
quốc gia. Trong đó mẫu nghiên cứu của tác giả thu thập bao gồm 29 quốc gia thuộc
khu vực Châu Phi trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2000 đến năm 2015. Mô hình
nghiên cứu của tác giả sử dụng với biến phụ thuộc là tỷ lệ nợ công của các quốc gia và
các yếu tố như tham nhũng, chi tiêu chính phủ, lạm phát, độ mở thương mại, chi tiêu
quân đội, thu nhập trên đầu người dân số và độ ổn định chính trị được sử dụng như là
các biến độc lập của mô hình nghiên cứu. Qua đó tác giả nhận thấy rằng các quốc gia
trong mẫu nghiên cứu có tỷ lệ nợ công bình quân đạt 70.40% so với GDP. Đồng thời,
tác giả sử dụng phương pháp hồi quy GMM để ước lượng mô hình nghiên cứu và tìm
thấy rằng tham nhũng đều thể hiện tác động cùng chiều đến tỷ lệ nợ công của các quốc