Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và một số quốc gia Đông Nam Á
A. PHẦN MỞ ĐẦU.
1. Lý do chọn đề tài.
Đông Nam Á hiện nay là khu vực có nền kinh tế phát triển khá năng
động. Đây được coi là điểm đến tương đối bình yên của thế giới những
năm vừa qua. Một trong những yếu tố thu hút sự chú ý của thế giới với
khu vực này chính là nền văn hóa phong phú đa dạng của khu vực này.
Ngày nay nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã dành nhiều thời gian để tìm
hiểu về quá trình phát triển của cư dân khu vực nhằm đưa ra những nhận
định chính xác nhất về đặc điểm văn hóa nơi đây.
Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á. Chúng
ta là đất nước giao thoa giữa nhiều nền văn hóa, từ Trung Quốc xuống,
Ấn Độ sang và Đông Nam Á hải đảo vào nên nền văn hóa rất phong phú
đa dạng. Các yếu tố văn hóa này khi vào Việt Nam đều được bản địa hóa
trở thành nền văn hóa mang bản sắc của riêng chúng ta. Tuy nhiên khi
nghiên cứu văn hóa Việt, có nhà nghiên cứu văn hóa đã nhận xét “Việt
Nam là một Đông Nam Á thu nhỏ”. Lời nhận xét này khiến chúng ta vô
cùng tự hào với bạn bè thế giới và khu vực.
Hơn nữa Việt Nam còn là quốc gia có truyền thống “Uống nước nhớ
nguồn. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” nên từ ngàn xưa chúng ta luôn có thái
độ trân trọng quá khứ. Mỗi người Việt Nam khi sinh ra đến lúc trở về với
đất mẹ đều có niềm thành kính khi nhắc nhở về tổ tiên của gia tộc và
những vị anh hùng đã có công bảo vệ xây dựng đất nước.
Do đó khi nghiên cứu về văn hóa dân gian của Đông Nam Á chúng
ta không thể không nghiên cứu về yếu tố tôn giáo tín ngưỡng truyền
thống của khu vực này. Bởi vì tôn giáo tín ngưỡng truyền thống chính là
một yếu tố cấu thành văn hóa dân tộc, nó thể hiện suy nghĩ cách nhìn
nhận của con người Đông Nam Á trong thời xa xưa là cơ sở hình thành
của con người khu vực này hiện nay. Với quan điểm đó khi nghiên cứu về
Đây là điều người viết mong muốn đạt được.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp từ các nguồn tài liệu nghiên cứu
về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam và Đông Nam Á.
2
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và một số quốc gia Đông Nam Á
Phương pháp phân tích: Từ những đặc điểm của văn hóa tín ngưỡng
Việt Nam và Đông Nam Á đưa ra những nhận xét, đánh giá.
5. Bố cục tiểu luận.
A. Phần mở đầu.
B. Phần nội dung.
I. Khái quát môi trường tự nhiên – văn hóa và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
của một số quốc gia Đông Nam Á.
II. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt.
III. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở một số quốc gia Đông Nam Á khác.
IV. Nhận xét chung.
C. Phần kết luận.
B. PHẦN NỘI DUNG.
3
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và một số quốc gia Đông Nam Á
I. Khái quát môi trường tự nhiên – văn hóa và tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên của một số quốc gia Đông Nam Á.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và một số quốc gia Đông Nam Á
địa lý cộng với các đặc điểm khí hậu gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều đã làm
cho khu vực này sớm trở thành quê hương của cây lúa nước, từ đó sáng
tạo ra nền văn hóa, văn minh lúa nước. Đời sống tinh thần của cư dân
nông nghiệp trồng lúa nước Đông Nam Á có những nét đặc trưng như: có
tính chất tương đối đồng nhất về nhân văn cộng đồng nó được biểu hiện
qua cơ cấu tổ chức làng xóm, xã thôn với những quy định chung, tập tục
chung được biểu hiện ở ý thức bảo tồn tín ngưỡng cổ xưa, những nguyên
lý triết học cổ xưa mà khởi nguyên của chúng ta là những tín ngưỡng
sùng bái vật giáo nguyên thủy, quan niệm hợp nhất giữa vũ trụ và tiểu vũ
trụ, những mối giao hòa giữa vật với tâm.
Ở vị trí ngã tư đường từ Đông sang Tây và nằm kề hai nền văn minh
sớm được thiết chế chặt chẽ là Trung Hoa và Ấn Độ nên Đông Nam Á
ảnh hưởng và tiếp nhận văn hóa từ ngoài vào rất nhiều và đó là lẽ đương
nhiên. Nhưng trong quá trình tiếp nhận văn hóa ngoại lai, Đông Nam Á
luôn lựa chọn, thích nghi một cách chủ động và do có bản lĩnh nên vẫn
giữ được bản sắc của mình. Chính điều đó tạo cho Đông Nam Á một bức
tranh văn hóa phong phú, đa dạng và rất nhiều đặc sắc.
3. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
Cùng sinh ra và lớn lên trong một khu vực địa lý, cùng có chung một
cơ tầng văn hóa là nông nghiệp lúa nước cư dân Đông Nam Á đều có
chung một yếu tố tín ngưỡng bản địa như nhau. Tín ngưỡng sùng bái tự
nhiên, tín ngưỡng phồn thực… Xuất phát từ quan niệm “vạn vật hữu
linh”, cư dân Đông Nam Á cho rằng mỗi người sinh ra đều có một nhóm
hồn nhất định. Hồn theo cư dân Đông Nam Á có quan hệ mật thiết với
cuộc đời mỗi người. Nếu hồn thoát khỏi xác con người sẽ chết. Nhưng
chết không có nghĩa là hết. Quan niệm này là cơ sở cho việc ra đời tín
ngưỡng thờ cúng người đã mất và trước hết và quan trọng nhất là thờ
cúng ông bà tổ tiên gia đình, dòng họ. Việc thờ cúng vừa có ý nghĩa nhớ
là hương vị màu sắc keo dính thỏa mãn niềm tin tôn giáo, đáp ứng nhu
cầu của chủ thể tôn giáo.
Tục thờ cúng tổ tiên dần dần được mở rộng không chỉ thờ những
người có công sinh dưỡng đã khuất mà còn tôn thờ những người có công
khai phá mảnh đất đã nuôi dưỡng con người hay những người đã tạo nên
6
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và một số quốc gia Đông Nam Á
những nghề nuôi sống con người gắn bó thế hệ này và thế hệ khác. Lúc
này tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được thể hiện dưới nhiều hình thức khác
nhau. Trong quá trình tiếp biến văn hóa diễn ra liên tục thì ảnh hưởng của
văn hóa Trung Quốc, Ấn Độ, Ả Rập và phương Tây đã tác động mạnh mẽ
lên những mặt của các thành tố văn hóa bản địa. Mặc dù vậy, dưới những
tác động này tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên không những bị phai nhạt lãng
quên còn hết sức phong phú đa dạng về hình thức biểu hiện lẫn nội dung
và gắn với nhiều tôn giáo khác. Chính vì vậy thờ cúng tổ tiên luôn là một
nét văn hóa đặc trưng trong văn hóa tín ngưỡng của nhiều dân tộc Đông
Nam Á.
II. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt.
Ở nước ta với niềm tin rằng tổ tiên ông bà sẽ phù hộ độ trì cho con
cháu và về phần mình, con cháu phải tỏ lòng biết ơn và tưởng nhớ đến
người sinh thành ra mình hầu hết các dân tộc đều có tục thờ cúng tổ tiên.
Nhưng điển hình nhất là người Việt. Trên cơ tầng Đông Nam Á ông cha
ta đã tiếp nhận ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa ở hai phương diện đó
là sự mô phỏng dòng họ phụ hệ, hệ thống các nghi lễ phức tạp. Ngày giỗ
các cụ trong nhà con cháu phải có mặt thể hiện lòng trung thành với tổ
tiên sau đó cùng thụ lộc tạo bầu không khí ấm cúng. Đây chính là nét đặc
trung trong tục thờ cúng tổ tiên của người Việt thể hiện mối quan hệ duy
thành từ thời nguyên thủy với niềm tin thiêng liêng rằng tổ tiên đã chết sẽ
che chở phù giúp cho con cháu, được thể hiện thông qua nghi lễ thờ
phụng. Nó là sự phản ánh đức tin tâm linh về quyền hành của người đứng
đầu thị tộc phụ hệ, gia đình phụ hệ được duy trì và phát triển trong xã hội
có giai cấp sau này, là sự biết ơn tưởng nhớ về tôn thờ những người có
công sinh thành tạo dựng và bảo vệ cuộc sống.
Trước đây vấn đề này đã được nhiều nhà nghiên cứu chú ý đề cập
đến. Do tính chất quan trọng nên từ lâu nó đã trở thành đối tượng nghiên
cứu không chỉ của học giả trong nước mà còn của các học giả nước ngoài
đặc biệt là người Pháp. Họ coi đây là tín ngưỡng rất sâu sắc, thống nhất
trong toàn dân, phát triển bền vững qua các thời đại. Trong thời kỳ Pháp
thuộc, các học giả Việt nam cũng công bố một số công trình về tục thờ
cúng tổ tiên như Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, Việt Nam văn
8
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và một số quốc gia Đông Nam Á
hóa sử cương của Đào Duy Anh. Sau hòa bình lập lại, vấn đề này ít được
chú ý hơn. Điều này do hạn chế của hoàn cảnh lịch sử khách quan do Việt
Nam vừa bước ra khỏi cuộc kháng chiến trường kì 9 năm vô cùng gian
khổ ác liệt nên cần phải dồn sức tái thiết đất nước, nhiệm vụ đặt lên hàng
đầu lúc này là nhiệm vụ chính trị thống nhất đất nước. Nhưng ở miền
Nam cũng có một số tác phẩm liên quan đến vấn đề này: Xã hội Việt
Nam của Lương Đức Thiệp (1950), Nếp cũ của Toan Ánh (1963)... Sau
khi miền Nam được giải phóng hoàn toàn, đất nước thống nhất. Cùng với
sự đổi mới về kinh tế, chính sách tôn giáo của ta cũng mềm dẻo hơn nên
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được khôi phục lại và phát triển mạnh mẽ.
Gần đây có một số công trình nghiên cứu về tục thờ cúng tổ tiên được
công bố như các sách về địa lý: Địa chí Ninh Bình, Địa chí Vĩnh Phúc,
Nam Á nhưng chúng ta hiểu biết ít về khu vực do đó không thể hiểu sâu
về mình nhất là những vấn đề sâu sa như cội nguồn dân tộc, đời sống văn
hóa truyền thống.
1.1 Cách tổ chức sản xuất và đời sống của người Việt.
Với đặc thù vị trí địa lý như vậy, Việt Nam tạo nên nền sản xuất
nông nghiệp với phương thức canh tác lúa nước tiểu canh và chăn nuôi
tiểu gia sức gia cầm. Điều này khác hẳn với Trung Hoa cũng là canh tác
nông nghiệp nhưng căn bản là nông nghiệp khô quảng canh, chăn nuôi
đại gia súc với đồng cỏ lớn.
Làm lúa nước phải chăm lo đến thủy lợi. Nước cho cây lúa là việc
hàng đầu. Môi trường nước ở đây là kết quả tổng thể của đặc điểm địa lý,
địa hình, khí hậu. Chính yếu tố này tạo thành sắc thái riêng trong tập quán
sinh hoạt của cư dân Việt. Yếu tố nước ảnh hưởng trực tiếp vào hoạt động
thờ cúng tổ tiên đó là chén nước lã không thể thiếu trên bàn thờ gia đình
Việt Nam. Cư dân nông nghiệp lúa nước có cuộc sống định cư, những
người sống gần nhau thành xóm làng. Để thắt chặt cộng đồng mà chủ yếu
dựa trên quan hệ làng xóm có lối sống “bán anh em xa mua láng giềng
gần” khá lỏng lẻo người ta đã áp dụng quan hệ thân tộc bằng cách dùng
các danh từ chỉ quan hệ gia đình làm các đại từ nhân xưng trong xã hội.
Tính cộng đồng và tính tự trị là hai đặc trưng bao trùm nhất của làng
xã. Biểu tượng truyền thống của tính cộng đồng là ngôi đình – cây đa –
10
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và một số quốc gia Đông Nam Á
bến nước. Trong đó ngôi đình là biểu tượng khái quát nhất, tập trung nhất
của làng xã về mọi phương diện. Tính tự trị của người Việt được thể hiện
qua biểu tượng truyền thống là lũy tre làng. Bên trong lũy tre làng, mỗi
làng xã Việt Nam như một quốc gia thu nhỏ được tổ chức chặt chẽ có kỷ
quan dân chủ có mối quan hệ duy trì chặt chẽ trên cơ sở huyết thống hơn
là một chỉnh thể của bộ máy quy củ nếu ta so sánh với gia đình Trung
Quốc. Điều này cắt nghĩa tại sao tục thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam chưa
bao giờ là độc quyền gia trưởng hoặc trưởng nam trong gia đình người
Việt.
1.3 Cách tổ chức sinh hoạt văn hóa tinh thần.
Người Việt Nam sống bằng canh tác nông nghiệp lúa nước nên sự
gắn bó với thiên nhiên càng lâu dài và bền chặt. Từ sự phụ thuộc vào
nhiều yếu tố khác nhau của tư duy tổng hợp và trong lĩnh vực tín ngưỡng
là tín ngưỡng đa thần. Trong sự sùng bái tự nhiên đó có tục thờ thần động
vật và thờ thần thực vật. Nếp sống tính cách hòa hiếu ủa loại hình văn hóa
nông nghiệp lúa nước dẫn đến người Việt tục thờ các con vật hiền như:
hươu, nai… riêng cư dân nông nghiệp lúa nước Việt Nam còn thờ một số
động vật dưới nước như rắn, cá sấu…
Từ quan niệm “vạn vật hữu linh” là thực sự thờ từng bộ phận của
thiên nhiên dẫn đến sùng bái con người là một tất yếu khách quan. Trong
con người có cái vật chất và tinh thần. Cái tinh thần khó nắm bắt nên
người ta đã thần thánh hóa nó bằng quan niệm linh hồn. Theo quan niệm
của người Việt Nam, người chết tuy không còn là một thực thể hữu hình
song nó vẫn tồn tại ở dạng khác với mức độ cao hơn và người ta coi đó là
cuộc sống chính, bất diệt là nhân thần. Và mối quan hệ giữa người sống
và người đã chết không phải là mối quan hệ bình thường mà ở mức độ
cao hơn đó là bằng tâm linh và thông qua thờ cúng.
2. Ảnh hưởng của các tôn giáo đối với tục thờ cúng tổ tiên của
người Việt.
Cùng với tồn tại xã hội đã nêu trên, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người Việt – cư dân trồng lúa nước vùng châu thổ còn chịu ảnh hưởng tác
động sâu sắc từ các tín ngưỡng khác đặc biệt là tôn giáo ngoại nhập.
2.1. Ảnh hưởng của Phật giáo.
12
biểu hiện rõ trên hai phương diện: tục thờ cúng mang yếu tố cộng đồng
và nó được biểu hiện ở những nghi thức thờ cúng và tang tế.
13
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và một số quốc gia Đông Nam Á
Sở dĩ người Việt chấp nhận Nho giáo vào tục thờ cúng tổ tiên của
mình là bởi vì ý thức cội nguồn trong tục thờ cúng tổ tiên của người Việt,
mối giao hòa tâm linh trong niềm tôn kính và tiếc thiêng cao độ với người
đã khuất khi gặp trong Nho giáo chữ “hiếu, kính, nhân”… Và khi thâu
tóm Nho giáo vào lĩnh vực này người Việt đã tìm đến chỗ dựa tinh thần,
hành động.
Nội dung và nghi lễ thờ cúng của người Việt mang đậm tinh thần
Nho giáo. Bị thẩm thấu và khúc xạ qua yếu tố văn hóa bản địa, tinh thần
Nho giáo và sự biến đổi phù hợp với tâm thức người đọc. Người Việt thờ
cúng tổ tiên không khiên cưỡng nặng nề mà nó mang tính dung dị, đời
thường giàu tính thực tiễn. Ở những gia đình không có con trai con gái
được quyền thừa tự, được phần hương hỏa để thờ cúng tổ tiên. Trong dân
gian lưu truyền câu ca đề cao tính bình đẳng của người phụ nữ trong việc
thờ cúng:
Phụ mẫu em cũng như phụ mẫu chàng
Hai bên phụ mẫu tạc bốn chữ vàng thờ chung.
Chịu ảnh hưởng của Nho giáo sâu sắc song tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên của người Việt vẫn có nét đặc thù mang bản sắc văn hóa Việt Nam.
2.3 Ảnh hưởng của Đạo giáo.
Không chỉ chịu ảnh hưởng, tác động của Phật giáo, Nho giáo tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt còn chịu ảnh hưởng khá sâu đậm
của Đạo giáo. Ngay từ đầu Đạo giáo du nhập vào nước ta mang đậm tính
3. Tâm thức dân gian đối với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người Việt.
3.1 Quan niệm của người Việt về tổ tiên.
Khái niệm về tổ tiên của người Việt rất phong phú, quan niệm sâu
sắc nhưng cũng mang tính sinh hoạt đời thường “chim có tổ, người có
tông”. Tục thờ cúng tổ tiên của người Việt chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc
nhưng nó mang nét khu biệt: vai trò người phụ nữ được coi trọng, người
Việt Nam nhớ đến cả ông và bà.
Quan niệm về tổ tiên của người Việt không bó gọn trong phạm vi gia
đình. Những người sáng tạo hay phát huy các ngành nghề được gọi là tổ.
Cả dân tộc Việt Nam chung một tổ:
15
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và một số quốc gia Đông Nam Á
Hồng Bàng là tổ nước ta
Nước ta khi ấy gọi là Văn Lang
Theo phép ứng xử của người Việt khi ông bà cha mẹ còn sống phải
phụng dưỡng, nghe lời dạy bảo. Khi mất đi thì phải thờ cúng. Như vậy tổ
tiên ở đây không phải là cái gì thuộc về quá khứ. Tổ tiên luôn tồn tại bên
cạnh con cháu, luôn có sự liên lạc mật thiết qua sự thờ cúng.
3.2 Ảnh hưởng của tín ngưỡng nguyên thủy đối với với việc thờ
cúng tổ tiên của người Việt.
Với quan niệm vạn vật hữu linh thì con người với tư cách là một sinh
vật có nhận thức thì thể xác là hữu hình, linh hồn là vô hình theo ý nghĩa
hết sức trìu tượng. Linh hồn là bất diệt. Khi người ta chết là cơ thể
chuyển từ trạng thái động sang trạng thái tĩnh theo triết lý âm dương thì
cõi dương sang cõi âm. Đó là thế giới bên kia, thế giới vĩnh hằng.
Khởi thủy, tục thờ cúng tổ tiên của người Việt chỉ nằm trong ý
và tổ tiên đất nước gắn chặt với nhau trong tưởng niệm và thờ cúng. Trên
thế giới ít có bộ tộc người tưởng niệm và thờ cúng những tổ tiên đầu tiên
của mình như tục thờ các vua Hùng ở Việt Nam.
Trong ý thức người Việt thờ cúng tổ tiên cả nước, các vua Hùng đã
khắc sâu hàng trăm năm, nếu không nói là hàng ngàn năm đó là hệ thống
tôn giáo dân tộc của nước ta xuyên suốt lịch sử cho đến ngày nay. Tạo
thành một hệ thống song hành với thờ cúng tổ tiên của từng gia tộc, từng
gia đình cái này nương tựa cái kia không thể tách rời.
III. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở một số quốc gia Đông Nam Á
khác.
1. Thái Lan.
Thái Lan nằm ở giữa khu vực Đông Nam Á, trải dài 1620km từ Bắc
đến Nam và 775km từ Đông sang Tây. Thái Lan có biên giới phía Bắc
tiếp giáp với Lào và Myanmar, phía Đông giáp với Campuchia và vịnh
Thái Lan, phía Tây giáp Myanmar và Ấn Độ Dương, phía Nam giáp
Malayxia. Với diện tích 513000km2, là một quốc gia có diện tích lớn thứ
hai trong khu vực, dân số là 64,6 triệu người với nhiều thành phần dân
tộc, nền văn hóa mang tính đa dạng, phong phú và thống nhất.
17
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và một số quốc gia Đông Nam Á
Người Thái là cư dân trồng lúa nước. Cuộc sống vật chất phụ thuộc
vào việc làm ra cây lúa, hạt thóc. Ở Thái Lan luôn đề cao tính cộng đồng,
tập thể. Do điều kiện sống và cách thức làm ăn như vậy nên xã hội truyền
thống của người Thái Lan là cuộc sống gia đình hạt nhân mở rộng.
Những đặc trưng này đã ảnh hưởng trực tiếp tới quan niệm tôn giáo của
người Thái Lan. Ngay từ xa xưa người Thái cho rằng con người ta khi
tàn tích của đạo Balamon và các nghi thức thờ phụng tổ tiên còn tồn tại
khá đậm nét đặc biệt ở nông thôn.
Ở Campuchia các gia đình không có bàn thờ tổ tiên đặt trong nhà.
Hàng năm theo tục lệ, ông bà tổ tiên được lên thăm con cháu trong vòng
15 ngày vào tháng 9 dương lịch gọi là lễ Đôn Tà. Đây là một trong những
ngày lễ lớn nhất ở Campuchia.
Như vậy người Campuchia cũng tin rằng cuộc sống không chấm dứt
sau cái chết, đó là sự chia tay tạm thời của người chết với người sống.
Bởi vậy con cháu thờ phụng tổ tiên không chỉ làm cho người chết khỏi
giận dữ về sự thiếu thành kính của mình mà còn là sự mong muốn tổ tiên
tham gia và phù trợ cho mình trong mọi việc.
3. Ở Philippin.
Philippin là một quần đảo bao gồm 7107 hòn đảo nằm chủ yếu ở
biển Đông, biển Philippin, Sulu, Celebes. Philippin vừa là quốc gia vừa là
khu vực lịch sử dân tộc học trùng với những ranh giới của quần đảo. diện
tích là 300000km2, dân số là 89468677 người (2006).
Tại đây mặc dù người công giáo chiếm đa số nhưng họ vẫn có điện
thờ cúng tổ tiên trong nhà. Trong đời sống tinh thần của họ có sự pha trộn
của công giáo với các tín ngưỡng dân gian. Người dân có lòng tin vào
linh hồn, vào cuộc sống sau cái chết. Cái chết đối với họ đơn giản như sự
thay hình đổi dạng. Một người chết vẫn tiếp tục những sinh hoạt bình
thường của mình trong thế giới của các linh hồn. Hầu như mọi người
Philippin đều công nhận việc các linh hồn có khả năng quay trở lại trần
thế vì thế họ đặt ra những lễ cầu hồn và những nghi lễ dẫn dắt linh hồn
đến với cái thế giới dành riêng cho chúng.
19
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và một số quốc gia Đông Nam Á
20
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và một số quốc gia Đông Nam Á
Tính đặc thù ấy là kết quả tổng hợp từ những đặc trưng về dân tộc,
tâm lý, tình cảm… trên nền tảng chung của môi trường tự nhiên Việt
Nam. Tất cả những yếu tố đó lại được đặt vào trong một diễn trình lịch
sử đặc biệt của Việt Nam. Điều này làm cho tục thờ cúng tổ tiên của
người Việt có những nét chung của nhân loại, của khu vực nhưng vẫn
mang nét riêng của mình.
Với người Việt hiện nay thờ cúng tổ tiên vẫn hoàn toàn bảo lưu được
yếu tố tâm linh như ông bà. Điều này có nghĩa những giá trị tâm linh cổ
xưa vẫn tồn tại đầy đủ những sức sống của nó trong nghi thức thờ cúng tổ
tiên của người Việt hiện nay. Thờ cúng tổ tiên ở người Việt được “cố
định” ở một chiều sâu tâm thức không phai nhạt. Người Việt có sự khẳng
định con người, cá nhân, không đoạn tuyệt với “dòng giống” dù là trên
phạm vi dân tộc hay phạm vi gia đình. Trong khi hướng tới tương lai
người Việt không hề cắt đứt với quá khứ. Ký ức lịch sử, ký ức gia đình
càng sâu đậm thì sự khẳng định con người cá nhân càng sâu sắc. Thờ
cúng tổ tiên ở Việt Nam như cái gì máu thịt cho dù môi trường xã hội có
thay đổi thế nào đi chăng nữa.
C. PHẦN KẾT LUẬN.
21
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và một số quốc gia Đông Nam Á
4. Trần Văn Giàu. Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam.
NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1992.
5. Bùi Tất Niên. Gia lễ. NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1992.
6. Phan Ngọc. Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới. NXB Văn hóa
Thông tin. Hà Nội, 1994.
7. Lê Xuân Quang. Thờ thần ở Việt Nam. NXB Hải Phòng, 1996.
8. Nguyễn Minh San. Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam. NXB Khoa
học Xã hội. Hà Nội, 1994.
9. Ngô Văn Doanh. Những phong tục độc đáo Đông Nam Á. NXB Văn
hóa Thông tin. Hà Nội, 1996.
10. Ngô Đức Thịnh (chủ biên). Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt
Nam. NXB Khoa học Xã hội, 2001.
23