Đảng bộ huyện tiền hải (thái bình) lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2015 - Pdf 52

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------

VŨ THỊ THU TRANG

ĐẢNG BỘ HUYỆN TIỀN HẢI (THÁI BÌNH)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------

VŨ THỊ THU TRANG

ĐẢNG BỘ HUYỆN TIỀN HẢI (THÁI BÌNH)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: T.S Lê Thị Quỳnh Nga




MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
CHƢƠNG 1. LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ
NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN TIỀN HẢI ........... 6
1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên

– xã hội và thực trạng kinh tế nông

nghiệp huyện Tiền Hảitrƣớc năm 2000 ......................................................... 6
1.1.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội ...................................................................... 6
1.1.2 Tình hình kinh tế nông nghiê ̣p huyê ̣n Tiề n Hải trước năm 2000 ........... 10
1.2. Lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2005 ..... 14
1.2.1 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của TW Đảng và Đảng bộ
tỉnh Thái Bình .................................................................................................. 14
1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ huyện Tiền Hải về phát triển kinh tế nông
nghiệp tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXIV (2000). ............................... 19
1.2.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện. .................................................................. 23
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 31
CHƢƠNG 2. LÃNH ĐạO ĐẩY MạNH PHÁT TRIểN KINH Tế NÔNG
NGHIệP CủA ĐảNG Bộ HUYệN TIềN HảI Từ NĂM 2006 ĐẾN NĂM
2015 ................................................................................................................. 32
2.1 Chủ trƣơng phát triển kinh tế nông nghiệp ......................................... 32
2.1.1 Chủ trương phát triển kinh tế của TW Đảng và Đảng bộ tỉnh Thái Bình ... 32
2.1.2 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Tiền Hải .. 39
2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện ................................................................... 45
2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng thị trường........... 46
2.2.2 Chỉ đạo chuyển đổi, hình thành các vùng chuyên canh cây trồng và các
gia trại, trang trại chăn nuôi........................................................................... 47


ĐCSVN

: Đảng cộng sản Việt Nam

HTX

: Hợp tác xã

HTXDV

: Hợp tác xã dịch vụ

KH – KT

: Khoa học – Kỹ Thuật

KTNN

: Kinh tế nông nghiệp

NN & PTNT

: Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Nxb

: Nhà xuất bản

TW

có ý nghĩ a cấ p bách, quan trọng để thúc đẩ y nhanh tăng trưởng, phát triể n kinh tế ,
xã hội để từng bước thực hiê ̣n mục tiêu: "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằ ng,
dân chủ văn minh".
Hòa mình vào sự phát triển chung của đất nước và phát huy truy ền thố ng tố t
đe ̣p của quê hương Đảng bô ̣ huy ện Tiền Hải một huyện thuần nông của tỉnh Thái
Bình, vừa mang trong mình những đặc điểm chung của nền kinh tế nông nghiệp của
đất nước, vừa có những đặc điểm riêng biệt của vùng lúa quê Bắc Bộ. Để phát triển
kinh tế Nông nghiệp, Đảng bộ huyện Tiền Hải đã quán triệt và vận dụng đường lố i ,
chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước vào công tác lãnh đạo phát triển
kinh tế nông nghiệp của huyện. Quá trình vận dụng, thực hiện chủ trương, đường lối
của Đảng về CNH, HĐH Nông Nghiệp tại địa phương là một vấn đề cần thiết và có
ý nghĩa thực tiễn lớn. Nhất là thời gian sau khi thực hiện nội dung CNH, HĐH nông
nghiệp đã được đề ra từ đại hội Đảng lần thứ VIII. Việc nghiên cứu về quá trình lãnh
đạo của Đảng bộ huyện Tiền Hải phần nào làm rõ quá trình nhận thức, vận dụng chủ
trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp ở địa phương.

1


Với mục tiêu tìm hiểu những vấn đề trên, chúng tôi đã quyết định chọn vấn
đề:“Đảng bộ huyện Tiền Hải (Thái Bình) lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ
năm 2000 đến năm 2015” làm đề tài cho Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử
Đảng Cộng Sản Việt Nam
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấ n đề xây dựng và phát triể n kinh tế nông nghiê ̣p

đã thu hút rấ t nhiề u sự

quan tâm của các nhà nghiên cứu . Đế n nay có rấ t nhiề u công trin
̀ h nghiên cứu liên

(1996 – 2006) Luâ ̣n án tiế n si ̃ Lich
̣ sử Đảng , Trường ĐHKHXH & NV; Luâ ̣n văn
Thạc sĩ Lịch sử , Học viện Chính Trị Quốc gia Hồ Chí Min h, Nguyễn Tuấ n Thành
(2006) Đảng bộ tỉnh Bắ c Giang lãnh đạo phát triển nông nghiê ̣p , nông thôn trong

2


những năm (1997 – 2006); Luâ ̣n văn Tha ̣c si ̃ Lich
̣ sử Đảng , Trung tâm đào ta ̣o , bồ i
dưỡng giảng viên lý luâ ̣n Chiń h tri, ̣ Đại học Quốc gia Hà Nội, Bùi Quang Thọ(2010),
Đảng bộ Tỉnh Thái Bình lãnh đạo thực hiê ̣n CNH , HĐH nông nghiê ̣p, nông thôn từ
năm (1995 – 2005); Luâ ̣n văn Tha ̣c si ̃ Lich
̣ sử Đảng, học viện Chính trị - Hành chính
quố c gia Hồ Chí Minh, Nguyễn Thi ̣Năm(2009), Quá trình thực hiện đường lố i CNH,
HĐH nông nghiê ̣p, nông thôn của Đảng ở tỉnh Hà Tây (1996 – 2000); Luâ ̣n văn Tha ̣c
sĩ Lịch sử Đảng, Trường Đa ̣i ho ̣c KHXH & NV (Đa ̣i ho ̣c Quố c gia Hà Nô ̣i), Hà Nội,
Tố ng Văn Chung (2011), Những nhân tố kinh tế xã hội t ác động đến sự chuyển cư
của cư dân nông thôn trong quá trình CNH, HĐH...
Những luâ ̣n văn , luâ ̣n án trên đã nêu lên đươ ̣c quá trình lañ h đa ̣o của Đảng
đố i với viê ̣c phát triể n kinh tế nông nghiê ̣p ở một số điạ phương, trong đó bao gồm
có tỉnh Thái Bình. Các công trình này đã để lại nhiều tư liệu cần thiết để tác giả tham
khảo, kế thừa.
Cho tới nay , các công trình viết về tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp
huyê ̣n Tiề n Hải không nhiề u, có một số công trình nghiêncứu dưới góc đô ̣ lich
̣ sử như:
Lịch sử Đảng bộ huyện Tiền Hải( 1926 – 2010) Nxb Chin
́ h Tri ̣Quố c gia – Sự Thâ ̣t –
Hà Nội 2011; Trầ n Thi ̣Hòa (2010), Chuyể n di ̣ch cơ cấ u kinh tế nông nghiê ̣p theo
hướng CNH, HĐH của huyê ṇ Tiề n Hải – Tỉnh Thái Bình… tuy nhiên các công trình

5. Nguồn sử liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn sử liệu
Để thực hiện đề tài này tôi đã tham khảo các nguồn tư liệu như sau:
- Các văn kiện Đa ̣i hô ̣i đa ̣i biể u toàn quố c của Đảng , các ghị quyết của TW
Đảng; các chỉ thi ̣, nghị quyết của Bộ Chính trị, các văn bản pháp luật của Nhà nước
có liên quan tới kinh tế nông nghiệp.
- Các nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình
, các quyết định UBND tỉnh
.
- Các nghị quyết, báo cáo , chỉ th ị về phát triển nông nghiệp của Đảng bộ
huyện Tiền Hải.
- Các luận án, luận văn, sách chuyên khảo, các bài báo đăng trên các tạp chí
về lĩnh vực kinh tế nông nghiệp.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp như: lịch sử và logic, thống
kê, so sánh, quan sát thực tế.
6. Đóng góp của Luâ ̣n văn
- Hệ thống hóa chủ trương và quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế nông
nghiệp của Đảng bộ huyện Tiền Hải trong 15 năm phát triển gần đây.
- Cung cấp một số nhận xét, kinh nghiệm lịch sử góp phần cho công tác hoạt
động chủ trương phát triển KTNN của địa phương.

4


- Góp phần tìm hiểu lịch sử Đảng tại địa phương.
7. Kế t cấ u của Luâ ̣n văn
Bố cục ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận
văn có bố cục:
Chương 1: Lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm

nhập thương mại, thông tin khoa học kỹ thuật, tiếp thu thành tựu khoa học tiên tiến, khả
năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức cá nhân trong nước và ngoài nước.
Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ được bồi đắp bởi phù sa của các con
sông lớn như Sông Hồng, Trà Lý. Do đặc trưng vùng châu thổ sông Hồng nên địa
hình của huyện khá bằng phẳng và nghiêng dần từ Đông Bắc sang Tây Nam. Tuy
với đặc điểm của bãi bồi ven biển nên địa hình của huyện có dạng lồng chảo vùng
trũng ở phía nội đồng, vùng cao ở ven biển. Vùng trũng chủ yếu là các xã: Tây
Phong, Tây Tiến, Đông Lâm, có độ cao Trung Bình là 0,5 – 0,6 so với mặt nước
biển. Vùng cao ven biển chủ yếu ở các xã: Đông Minh, Đông Trà, Đông Hoàng,
Đông Quý có độ cao trung bình là 1m so với mặt nước biển rất thuận lợi cho việc
canh tác nông nghiệp.

6


Đất ở đấy chủ yếu là đất phù sa màu mỡ, phân bố trên địa hình khá bằng
phẳng, thích hợp với việc trồng lúa, cây hoa màu, cây công nghiệp có năng xuất
cao, có khả năng thâm canh, tăng vụ. Huyện có diện tích đất tự nhiên rộng song lại
có đặc điểm đất đai rất phức tạp và khó khăn hơn các huyện nội đồng. Đất chua
mặn nhiều, có thể chia thành ba miền khác nhau khoảng 45% diện tích đất vùng
ngọt, 30% diện tích đất vùng đệm, 25% diện tích đất phèn mặn. Địa hình đất đai cao
trũng khác nhau có độ chênh lệch lớn, nên công tác thủy lợi tưới tiêu khó khăn. Sự
khác biệt về chất đất của huyện, không những khó khăn thử thách lớn đối với sản
xuất nông nghiệp, mà trái lại huyện đã biến những khó khăn đó trở thành động lực,
phát triển ngành nông nghiệp đa dạng với nhiều lĩnh vực, cây trồng, con vật nuôi
mà không chỉ đơn thuần là sản xuất lúa. Do vậy công tác khai phá và cải tạo vùng
đất này để phục vụ sản xuất nông nghiệp luôn là một yêu cầu cấp thiết, vô cùng
quan trọng tới sự phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện.
Tiền Hải nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa mang nhiều nét đặc trưng của
khí hậu duyên hải, mùa đông thường thì ấm hơn, mùa hè thì mát hơn so với các

động mạnh vào tháng 1, 6,7,12. Vì vậy nước mặn có thể theo chế dộ nhật triều vào
sâu trong nội địa ở các sông lớn như Trà Lý độ mặn (muối 1% vào sâu tới 8km,
sông Hồng vào tới 10Km).
Diện tích đất tự nhiên 28.698 ha do phù sa sông Hồng bồi đắp, trong đó diện
tích đất trong đê là 20.037 ha chiếm 70% diện tích, ngoài đê biển 8.661 ha chiếm
30% diện tích. Diện tích đất nông nghiệp 16.684 ha có 23km bờ biển thuận lợi cho
nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản và vận tải du lịch, có 3 cửa sông lớn đổ ra biển là
sông Hồng, sông Trà Lý và sông Lân, hàng năm đưa triệu m³ phù sa ra biển tạo ra
những bãi bồi lớn. Cứ khoảng 20 – 30 năm lại được thêm một xã mới, hiện nay có
khoảng gần 10.000 ha đất bãi bồi ven sông, ven biển tập trung ở khu Cồn Vành,
Cồn Thủ. Đây là tiềm năng to lớn của huyện đã và đang được khai thác nhất là việc
nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản và trồng rừng phòng hộ, tạo cảnh quan phát triển
du lịch. Tiền hải có mỏ khí đốt ở xã Đông cơ trữ lượng lớn, hiện nay đang được
khai thác để phục vụ cho các ngành công nghiệp như: Sứ, thủy tinh, gạch ốp lát,
gạch micado, xi măng trắng, điện khí đốt, sứ vệ sinh cao cấp...
Ngoài ra Tiền Hải còn có nước khoáng với chất lượng tốt đang được khai
thác ở độ sâu gần 500m, sản xuất nước khoáng theo công nghệ tiên tiến với quy mô
lớn phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu như nước khoáng Vital.
Dân số và nguồn nhân lực : Tiền Hải là huyện đồng bằng ven biển cư dân
sống tập trung trong huyện ngày một đông. Theo kết quả điều tra tới năm 2009 thì

8


dân số của huyện ước tính là 224.854 ngàn người với 55.632 hộ, trong đó dân số
trong nông nghiệp chiếm gần 85%. Mật độ dân số trung bình là 890 người/km²
huyện, thôn xóm đan xen lẫn nhau. Đến nay có 100% số xã có đường ôtô đi qua
trung tâm xã và đường rải đá láng nhựa. Từ 1993 đến nay toàn huyện đã rải được
trên 300km, năm 1999 bàn giao một số tuyến đường cho tỉnh quản lý, hiện nay
huyện còn quản lý 90km. Đường thôn xã rải đá láng nhựa 95km, đường bê tông

tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH. Tuy nhiên nguồn lao động còn nhiều hạn
chế, chủ yếu là lao động phổ thông, trình độ thấp, phân công lao động giữa các
ngành, các địa phương không hợp lý; mặt khác do tính chất thời vụ trong sản xuất
nông nghiệp nên tình trạng thiếu việc làm là một sức ép lớn. Do vậy trong tương lai
để đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thì việc đào tạo, nâng cao
chất lượng lao động, phân bố lại lao động là điều cần thiết.
Là huyện “đất chật người đông” cũng là một sức ép lớn đối với sản xuất
nông nghiệp, diện tích đất theo đầu người thấp. Các ngành kinh tế khác còn kém
phát triển, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh dẫn đến đất nông nghiệp ngày càng thu
hẹp, gây khó khăn trong giải quyết việc làm, do nhu cầu về việc làm của người lao
động ngày càng tăng dẫn đến lao động đi làm việc tự do ở các tỉnh ngày càng nhiều.
Do vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để tăng năng suất, sản lượng lương thực, giải
quyết việc làm cho người lao động là điều cấp thiết, đòi hỏi Đảng bộ huyện phải có
chủ trương, giải pháp đúng đắn, phù hợp để lãnh đạo phát triển kinh tế cũng như
kinh tế ngành nông nghiệp của huyện ngày càng phát triển.
1.1.2 Tình hình kinh tế nông nghiê ̣p huyê ̣n Tiền Hải trước năm 2000
Đầu thập kỷ 80 của thế kỉ XX, nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh
tế - xã hội trầm trọng. Tháng 12/1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã được
triệu tập, Đại hội đã chỉ ra những sai lầm, thiếu xót và đưa ra đường lối đổi mới
toàn diện nền kinh tế, trong đó có kinh tế nông nghiệp.
TW Đảng đã đánh giá thực trạng nông nghiệp nước ta, xác định mục tiêu,
quan điểm đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nước ta. Trên cơ sở đó,
đề ra phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế xã hội nông thôn dựa trên những
quan điểm chủ yếu là: Đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng coi trọng
đúng mức sản xuất lương thực, tăng nhanh sản lượng, năng xuất, nâng cao chất
lượng sản xuất và chế biến lương thực. Tăng tỷ trong chăn nuôi trong giá trị sản
phẩm nông nghiệp. Thâm canh mở rộng diện tích một số cây công nghiệp, mở rộng
phát triển cây ăn quả và xây dựng thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn... Thực
hiện chính sách giao quyền tự chủ ruộng đất cho nông dân. Tiếp đó là coi trọng thực


Đảng bộ đã chỉ rõ mục tiêu phát triển kinh tế của huyện trong 5 năm (1996 –
2000) nông nghiệp đạt 790 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 8,7%
chiếm 65,5% năng suất lúa ổn định. Sản lượng lương thực quy ra thóc 180 – 200

11


ngàn tấn. Để đạt được mục tiêu huyện đã đưa ra những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể
để phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện nhà trong 5 năm (1996 – 2000).
Chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã tạo ra bước đột phá trong nông
nghiệp đó là hình thành nên các vùng chuyên canh có quy mô lớn tạo ra một khối
lượng sản phẩm lớn. Tính đến năm 1995 tổng giá trị sản xuất đạt 650 tỷ đồng, tốc
độ tăng trưởng hàng năm trên 10%. Giá trị sản lượng canh tác đạt 25 triệu đồng,
năng suất lúa đạt 100ta/ha.
Toàn huyện đã chuyển đổi được 155 ha vùng úng, trũng cấp lúa bấp bênh,
không cho năng suất cao sang thả cá, cho thu nhập gấp 2 – 5 lần so với cấy lúa. Khu
vực đất nhiễm mặn trồng cây lúa hiệu quả thấp huyện đã quyết định chuyển đổi
sang trồng cói là 123 ha. Ngoài ra huyện đề ra các chương trình chuyển đổi các loại
cây có hiệu quả kinh tế chưa cao sang trồng một số cây lương thức có tính xuất
khẩu và có hiệu quả cao như cây dưa chuột, xa lát, ăn quả...cải tạo được hơn 1.000
ha vườn tạp.
Ngành chăn nuôi có bước phát triển mới với một diện mạo mới, nhiều vật
nuôi mới được nhân giống và đưa vào sản xuất như Bò Lai sin, Vịt siêu trứng, Lợn
hướng lạc...Năm 1995 tổng lợn đạt 65.000 con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng được
5.500 tấn/năm, trâu bò là 13.200 con tăng so với năm 1990 là 785 con.
Phong trào nuôi trồng thủy sản được phát triển mạnh mẽ như là: nuôi cá
nước ngọt. Số diện tích chuyển sang đào ao thả cá nước ngọt là 1.156 ha, sản lượng
cá mỗi năm đạt 3,425 tấn gấp 2 lần so với 1990.
Điển hình là nuôi tôm sú, cua và ngao, năm 1995 đạt 130 tấn tôm và
cua/ha/năm, ngao đạt 3.000 tấn/ha/năm. Huyện đã và đang chú trọng đầu tư vào

Ngành chăn nuôi biến chuyển mạnh mẽ, đang dần khoe ra diện mạo mới của
mình. Trong huyện đã hình thành các công ty nhân giống vật nuôi, kích thích quá
trình mở rộng diện tích nuôi cá, tôm, ngao... Điển hình là diện tích nuôi trồng thủy
hải sản được mở rộng, tính đến năm 2000 huyện đã có 3.068 ha trong đó nuôi tôm
sú và cua đạt 1.640 ha, cho sản lượng là 300 tấn/ha/năm. Ngoài ra sản lượng chăn
nuôi gia sức gia cầm cũng tăng mạnh, tính đến năm 2000 số lượng trâu và bò đạt
được 8.256 con. Lợn đạt 76.133 con trong đó sản lượng thịt hơi xuất chuồng là
6.759 tấn tăng lên so với năm 1995 là 1.259 tấn.
Như vậy, nền kinh tế nông nghiệp của huyện trước năm 2000 phát triển
tương đối toàn diện, cả về trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy hải sản. Tuy
nhiên trong quá trình lãnh đạo kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Tiền Hải vẫn
còn bộc lộ nhiều hạn chế và khuyết điểm. Cụ thể là:

13


Vấn đề chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế theo hướng thị trường còn
yếu, chưa tận dụng ưu điểm của huyện về điều kiện tự nhiên – xã hội để thúc đẩy
phát triển kinh tế nông nghiệp. Do vậy một số địa phương trong huyện còn bỡ ngỡ,
chưa thích nghi kịp thời, gặp nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất. Xác định
nuôi trồng thủy là thế mạnh của huyện nhưng lại chưa chú trọng đầu tư.
Công tác quy hoạch các vùng chuyên canh, sản xuất hàng hóa chưa được
Đảng bộ huyện, các cấp các ngành quan tâm, đầu tư đúng mức dẫn đến nhiều mô
hình chỉ mang tính chất nhỏ lẻ, phân tán, tự phát làm cho hiệu quả kinh tế chưa
được cao, sản xuất chưa gắn liền với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ.
Người nông dân vẫn sản xuất nhưng đầu ra của snar phẩm thì không đáp ứng .
KHKT, công nghệ ứng dụng trong sản xuất còn hạn chế, cơ giới hóa nông
nghiệp chưa cao. Các mô hình sở hữu tư nhân, hộ gia đình còn thấp, mô hình sở
hữu nhà nước vẫn là cơ bản. Chính vì vậy, không khuyến khích được tính tự chủ
trong nhân dân, dễ nảy sinh tính ỷ lại trong sản xuất.

hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái từng vùng”. Đại hội
đưa ra định hướng phát triển nông nghiệp ở từng vùng, trong đó định hướng phát
triển cho vùng đồng bằng sông Hồng “ phát triển nông nghiệp hàng hóa đa dạng.
Cùng với lương thực đưa vụ đông thành một thế mạnh, hình thành các loại vùng
chuyên canh rau, cây ăn quả, thịt, hoa; mở rộng nuôi trồng thủy sản. Phát triển
công nghiệp chế biến và cơ khí phục vụ nông nghiệp” [52; tr 182].
Theo tinh thần của Đại hội, phương hướng kinh tế nông nghiệp trong thời gian
tới sẽ là :“Chuyển đổi nhanh cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn; xây
dựng các vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh phù hợp với tiềm năng và lợi thế về
khí hậu, đất đai và lao động của từng vùng, từng địa phương. Ứng dụng nhanh khoa
học công nghệ vào sản xuất, nhất là ứng dụng công nghệ sinh học, gắn nông nghiệp
với công nghiệp chế biến; gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ; hình thành liên kết
công - nông nghiệp – dịch vụ ngay trên địa bàn nông thôn” [52; tr 267].
Đại hội xác định công đường CNH, HĐH, ở nước ta cần và có thể rút ngắn
vừa có những bước đi tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt. Trong đó, CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn là khâu có vài trò quyết định.
Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, ngày 18/3/2002
tại Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã đưa ra nghị
quyết số 15 – NQ/TW về “ đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ
2001 – 2010”. Nghị quyết đã đưa ra những nhận thức rõ nét về vài trò và vị trí của
công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn, đưa ra những chủ trương, chính sách

15


nhằm đẩy mạnh phát triển CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn. Nghị quyết cũng
nêu nên mục tiêu tổng quát và lâu dài của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là
xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn hiệu quả và bền vững có năng
xuất cao, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; xây dựng nông
thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ

nuôi 30,8%, dịch vụ 4,8%, giữ vững sản lượng lương thực trên 1 triệu tấn/năm, giá
trị sản xuất/ha canh tác 35 triệu đồng trở lên [58; tr 46 - 47].
Nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, tỉnh ủy Thái
Bình đã ban hành Nghị quyết số 04 – NQ/TW “về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật
nuôi trong nông nghiệp giai đoạn 2001 – 2008”. Nghị quyết đã khẳng định và chỉ
rõ: “ ... sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế trọng yếu của tỉnh. Về chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, vật nuôi là giải pháp cơ bản để phát triển nông nghiệp toàn diện và
bền vững, là con đường tất yếu để CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, đồng thời
phát huy mạnh mẽ được tiềm năng nhân tố con người, góp phần ổn định vững chắc
tình hình nông thôn” [4; tr 3].
Để thực hiện Nghị quyết có hiệu quả, Tỉnh ủy đã nêu ra các giải pháp sau:
Tập trung tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục làm chuyển biến sâu sắc nhận
thức của các cấp, các ngành và người sản xuất về yêu cầu cấp bách phải chuyển đổi
mạnh mẽ cơ cấu cây trồng, vật nuôi để chuyên sản xuất nông nghiệp sang sản xuất
nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, nâng
cao thu nhập và đời sống nhân dân.
Tiến hành quy hoạch, quy vùng chuyển đổi các loại cây trồng, vật nuôi, đảm
bảo tính đồng bộ giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ; tạo vùng sản xuất hàng hóa tập
trung bao gồm: vùng chăn nuôi, vùng cây nông nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, vùng
chuyên màu, vùng lúa giống, lúa chất lượng cao, vùng nuôi trồng thủy hải sản...
Tích cực tìm kiếm mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản, thực phẩm, tìm
kiếm khảo nghiệm đưa vào sản xuất đại trà các loại cây, con có giá trị kinh tế cao,
có thị trường tiêu thụ và phù hợp với điều kiện tự nhiên. Củng cố quan hệ sản xuất trong
nông nghiệp và nông thôn. Ban hành và triển khai thực hiện một số cơ chế chính sách: giao
quyền sử dụng đất cho nông dân, dồn điền đổi thửa, hỗ trợ kinh phí...
Tháng 2/2002 Tỉnh ủy Thái Bình đã ban hành Nghị quyết số 07 về công tác
đồn điền đổi thửa xác định: “Thực hiện dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp, từ nhiều
thửa nhỏ thành thửa lớn là nguyện vọng tha thiết, bức xúc của nông dân là yêu cầu
cấp bách của việc đẩy mạnh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status