Đặc điểm rung nhĩ và tình hình điều trị dự phòng thuyên tắc mạch ở bệnh nhân rung nhĩ - Pdf 52

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AFI
ANP
BN
BNP
COPD

:
:
:
:
:

CRT
CHA2DS2-

mạn tính)
: Cardiac resynchroniztion therapy (tạo nhịp đồng bộ cơ tim)
: Congestive Heart Failure, Hypertension, Age ≥75 [Doubled],

VASc

Atrial Fibrillation Investigators (bộ tiêu chuẩn đánh giá rung nhĩ)
Atrial natriuretic peptide (peptid lợi niệu nhĩ)
Bệnh nhân
B-type Natriuretic Peptide (peptid lợi tiểu Natri typ B)
Chronic obstructive pulmonary disease (bệnh phổi tắc nghẽn

Diabetes, Stroke [Doubled] - Vascular disease, Age 65-74, Sex
category (female gender) (suy tim, tăng huyết áp, tuổi ≥75, đái


:
:
:
:
:
:
:

điểm rung nhĩ ở vùng Vịnh)
International nornalised Ratio (chỉ số bình thường hóa quốc tế)
Khoảng tin cậy 95%
New York Heart Association (Hội tim mạch New York)
Radiofrequence (sóng cao tần)
Rung nhĩ
Siêu âm
Siêu âm tổng quát
Transient ischemic attack – Cơn thiếu máu não thoáng qua
Tăng huyết áp

i


DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Cách tính điểm theo thang điểm CHADS2..........................................10
Bảng 1.2. Khuyến cáo sử dụng thuốc kháng vitamin K trên bệnh nhân RN không
có bệnh van tim....................................................................................................10
Bảng 1.3. Phân tầng nguy cơ đột quỵ theo thang điểm CHA2DS2-VASc..............11
Bảng 1.4. Nguy cơ đột quỵ hàng năm theo thang điểm CHA2DS2-VASc.................11
Bảng 1.5. Khuyến cáo điều trị phòng ngừa đột quỵ theo thang điểm CHA2DS2VASc....................................................................................................................12

Biểu đồ 3.2. Nhóm nguyên nhân rung nhĩ...........................................................25
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ các yếu tố trong thang điểm CHADS2 ở bệnh nhân rung nhĩ
không do bệnh van tim.........................................................................................27
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ các yếu tố trong thang điểm CHA2DS2-VASc ở bệnh nhân
rung nhĩ không do bệnh van tim..........................................................................28

iv


MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ........................................................................................................1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU.....................................................................3
1.1. TỔNG QUAN VỀ RUNG NHĨ..................................................................3
1.2. HUYẾT KHỐI, THUYÊN TẮC Ở BỆNH NHÂN RUNG NHĨ................7
1.3. ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG THUYÊN TẮC Ở BỆNH NHÂN RUNG NHĨ...8
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................14
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU..................................................................14
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................................................15
2.3. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU....................................................................18
2.4. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU......................................................................19
2.5. KHÍA CẠNH ĐẠO ĐỨC.........................................................................19
2.6. ĐỊNH NGHĨA BIẾN SỐ..........................................................................19
2.7. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI..........................................................................23
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU................................................................24
3.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA RUNG NHĨ.................................................24
3.2. TÌNH HÌNH ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG THUYÊN TẮC Ở BỆNH NHÂN
RUNG NHĨ......................................................................................................28
3.3. INR Ở BỆNH NHÂN RUNG NHĨ...........................................................30
Chương 4. BÀN LUẬN.......................................................................................32

khuyến cáo thì việc đạt mục tiêu dự phòng huyết khối cũng gặp nhiều khó khăn,
đặc biệt với các trường hợp nguy cơ cao và có chỉ định sử dụng thuốc kháng
đông.
Thuốc kháng vitamin K có lịch sử lâu đời, tuy nhiên có khá nhiều nhược
điểm: đáp ứng không dự báo được, bắt đầu và hết tác dụng chậm, khoảng trị
liệu, nhu cầu phải theo dõi xét nghiệm INR (International nornalised Ratio) định
kỳ, nhu cầu điều chỉnh liều thường xuyên ở một số bệnh nhân, tương tác với rất
nhiều thuốc khác và với nhiều loại thức ăn[10]. Đó là lý do khiến cho việc sử
dụng thuốc kháng vitamin K trên thực tế còn khá hạn chế. Một điều tra ở Trung
Quốc cho thấy 35,5% bệnh nhân rung nhĩ nguy cơ cao không được dùng bất cứ
một thuốc chống huyết khối nào[29]. Ở Hàn Quốc tỉ lệ này là 26,1%[24]. Còn ở
1


Đài Loan chỉ có 28,3% bệnh nhân có tiền sử đột quị và rung nhĩ được điều trị
bằng thuốc kháng vitamin K[16].
Trong số những bệnh nhân được điều trị bằng thuốc kháng vitamin K,
không quá 50% có INR nằm trong khoảng trị liệu (2-3). Điều tra GULF SAFE
(Gulf Survey of Atrial Fibrillation Events) trên 2.043 bệnh nhân rung nhĩ tại 6
quốc gia vùng vịnh cho thấy chỉ có 46% bệnh nhân có INR trong khoảng 2-3, tỉ
lệ có INR dưới 2 là 38% và trên 3 là 16%[33]. Hiện nay đã có những thuốc điều
trị dự phòng thuyên tắc ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim với cơ chế
ức chế trực tiếp thrombin với nhiều ưu điểm so với thuốc kháng vitamin K như:
hiệu quả cao, ít nguy cơ chảy máu, không đòi hỏi phải theo dõi INR... Tuy
nhiên, những thuốc này không có vai trò trong điều trị rung nhĩ do bệnh van tim
cũng như bệnh nhân mang van cơ học – một nguyên nhân rung nhĩ khá phổ biến
ở Việt Nam[15]. Mặt khác, giá thành của các loại thuốc này còn cao đối với
bệnh nhân ở Việt Nam nói chung và ở Đắk Lắk nói riêng. Do đó thuốc kháng
vitamin K vẫn có vai trò quan trọng trong điều trị dự phòng thuyên tắc ở bệnh
nhân rung nhĩ. Ở Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Các

điện sinh lý của nút nhĩ thất và các tổ chức dẫn truyền khác, hoạt động của thần
kinh phế vị và hệ giao cảm, có hay không có đường dẫn truyền phụ, và tác động
của các thuốc[3],[4].
RN gắn liền với sự gia tăng nguy cơ đột quỵ, suy tim và tỷ lệ tử vong do
mọi nguyên nhân nhất là ở phụ nữ. Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân RN gần gấp đôi
so với bệnh nhân có nhịp xoang bình thường và có mối liên quan với các bệnh
tim tiềm ẩn[4].
1.1.3. Cơ chế rung nhĩ
Moe và Abildskow đưa ra giả thuyết, cơ chế của rung nhĩ là vào lại đa
sóng nhỏ (multiple re – entrant wavelet). Cơ chế này được chứng minh bằng mô
hình điện tử và bằng khảo sát ghi bản đồ ở tâm nhĩ (mapping studies). Hiện nay,
dựa vào nghiên cứu trên động vật và trên bệnh nhân, có 3 cơ chế của rung nhĩ:
- Vào lại đơn độc, ổn định vòng nhỏ
- Vào lại đa sóng nhỏ, không ổn định
3


- Ổ đơn độc phát ra các sóng có chu kỳ ngắn
Các cơ chế này không riêng biệt trên bệnh nhân, ở một bệnh nhân vào các
thời điểm khác nhau, có thể có nhiều cơ chế cùng xảy ra[6],[28].

Hình 1.1. Cơ chế vòng vào lại
A: Bình Thường B: Đa vòng vào lại gây rung nhĩ
(nguồn: mykentuckyheart.com)
1.1.4. Phân loại rung nhĩ
Có nhiều hệ thống phân loại rung nhĩ. Dưới đây là hệ thống phân loại đơn
giản và thường dùng trong lâm sàng.
- Rung nhĩ lần đầu phát hiện: khi phát hiện lần đầu hoặc không biểu hiện
triệu chứng hoặc tự hết và không biết chắc chắn thời gian kéo dài cơn và chưa
phát hiện rung nhĩ trước đó.

Khoảng 30% đến 45% rung nhĩ kịch phát và 20% đến 25% rung nhĩ bền
bỉ (dai dẳng) xảy ra ở bệnh nhân trẻ mà không có bệnh lý nào (rung nhĩ đơn
độc). Mặc dù rung nhĩ có thể xảy ra mà không kèm bệnh lý tim mạch nền ở
người lớn tuổi, sự thay đổi cấu trúc và chức năng tim đi cùng với tuổi, như sự
gia tăng tính xơ cứng cơ tim, có thể đi kèm với rung nhĩ[3],[4].
1.1.5.3. Bệnh nội khoa phối hợp với rung nhĩ
- Béo phì là một yếu tố nguy cơ quan trọng cho sự phát triển của rung nhĩ.
Giảm bớt cân nặng là gắn với thoái triển dãn nở nhĩ trái. Các bệnh tim mạch đặc
biệt phối hợp với rung nhĩ bao gồm bệnh van tim (thường gặp nhất bệnh van hai
lá), suy tim, bệnh mạch vành và tăng huyết áp (nhất là khi có dày thất trái).
- RN có thể phối hợp với bệnh cơ tim phì đại, bệnh cơ tim dãn, bệnh tim
bẩm sinh đặc biệt là thông liên nhĩ ở người lớn. Những nguyên nhân khác có thể
5


có gồm bệnh cơ tim hạn chế (ví dụ như bệnh amylosis, xơ nội mạc cơ tim....),
những khối u ở tim, và bệnh viêm màng ngoài tim co thắt.
- Những bệnh tim khác, ví dụ như sa van hai lá kèm hoặc không kèm hở
van, vôi hóa các vòng van, tâm phế, dãn vô căn của nhĩ phải phối hợp với tần
suất cao với rung nhĩ.
- Rung nhĩ cũng gặp ở những bệnh nhân với hội chứng ngừng thở khi ngủ.
1.1.5.4. Rung nhĩ gia đình (di truyền)
Rung nhĩ gia đình được định nghĩa như là một rung nhĩ đơn độc có ở
nhiều người trong một gia đình, phổ biến hơn so với những nhận định trước đây,
nhưng nên phân biệt với RN thứ phát của những bệnh di truyền khác như bệnh
cơ tim có tính gia đình.
1.1.5.5. Các ảnh hưởng thần kinh tự động trong rung nhĩ
Nhìn chung, RN qua trung gian của hệ phó giao cảm xuất hiện vào ban
đêm hay sau các bữa ăn, trong khi RN liên quan đến hệ giao cảm xuất hiện trên
bệnh nhân ban ngày có bệnh tim, RN qua trung gian của hệ phó giao cảm là hình

Cục máu đông ở bệnh nhân RN hay thấy trong tiểu nhĩ thường khó thấy
qua siêu âm tim qua lồng ngực. Doppler tiểu nhĩ trên siêu âm qua thực quản là
phương pháp có độ đặc hiệu và nhạy hơn để đánh giá chức năng tiểu nhĩ trái và
phát hiện sự hình thành huyết khối. Cục máu đông thường gặp ở bệnh nhân RN
có đột quỵ hơn bệnh nhân không bị đột quỵ. Mặc dù theo dõi lâm sàng là cơ bản
để dự đoán sự hình thành huyết khối đòi hỏi tiến triển của RN trong 48 giờ, các
cục máu đông được xác định bởi siêu âm thực quản thường có thời gian ngắn
hơn.
Huyết khối hình thành với tam chứng của Wirchow: ứ máu, rối loạn chức
năng nội mạc, và tăng yếu tố đông máu. Những nghiên cứu siêu âm thực quản
của nhĩ trái và tiểu nhĩ trái trong thời gian chuyển từ RN sang nhịp xoang đã
chứng minh giảm tốc độ dòng chảy tiểu nhĩ trái có quan hệ với sự mất chức
năng co cơ học trong thời gian RN. Sự choáng váng của tiểu nhĩ trái dường như
là thủ phạm của sự gia tăng của biến cố lấp mạch sau chuyển nhịp bất kể bằng
phương pháp nào (điện, thuốc, tự nhiên). Choáng váng nhĩ cực đại ngay lập tức
sau sốc điện với quá trình cải thiện chức năng của nhĩ trong vài ngày, nhưng đôi
khi kéo dài 3-4 tuần và phụ thuộc vào thời gian của RN. Các quan sát chỉ ra rằng
sau thủ thuật tim mạch 80% hiện tượng lấp mạch xảy ra sau 3 ngày đầu và phần
7


lớn xảy ra trong vòng 10 ngày sau. Sự choáng váng nhĩ thấy nhiều ở bệnh nhân
RN có bệnh tim thiếu máu cục bộ hơn ở bệnh nhân mắc bệnh tim do THA hay
RN đơn độc. Mặc dù sự choáng váng này có thể được làm dịu đi bởi một điều
kiện nào đó hoặc một thời gian ngắn của RN, khuyên dùng chất chống đông
trong thời gian chuyển nhịp ở tất cả bệnh nhân có RN > 48 giờ hoặc không rõ
thời gian, bao gồm RN đơn độc, ngoại trừ khi chống chỉ định thuốc chống đông.
Sự suy giảm dòng chảy bên trong nhĩ trái/tiểu nhĩ trái trong thời gian RN
phối hợp với hiện tượng âm cuộn, hình thành huyết khối, biến cố tắc mạch. Đặc
biệt, có thể thấy âm cuộn bằng SA qua lồng ngực hay qua thực quản trong điều

đường.
INR sẽ được xác định ít nhất là hai tuần lúc bắt đầu điều trị và hai
tháng khi kháng đông ổn định.
Aspirin, 81–325 mg mỗi ngày, được khuyến cáo dùng thay thế kháng
vitamin K ở bệnh nhân có nguy cơ thấp hoặc bệnh nhân có chống chỉ định với
kháng đông loại uống.
Bệnh nhân RN có van tim cơ học, đích kháng đông cần đạt được tùy
thuộc vào loại van, duy trì sao cho INR ≥ 2.5.
Điều trị kháng đông được khuyến cáo ở bệnh nhân cuồng nhĩ cũng giống
như bệnh nhân RN[3],[4].
3.1.2. Những phương pháp đánh giá nguy cơ đột quỵ
- Bộ tiêu chuẩn của AFI (Atrial Fibrillation Investigators) dựa trên sự phân
tích tổng hợp đa biến ở 1.593 người tham gia là những nhóm chứng hay dùng
giả dược của 5 thử nghiệm dự phòng ban đầu ngẫu nhiên có 106 trường hợp đột
quỵ thiếu máu xảy ra trung bình sau 1.4 năm.
- Nghiên cứu Framingham Heart khảo sát những yếu tố nguy cơ đối với đột
quỵ trong số 705 bệnh nhân có rung nhĩ mới phát hiện, loại trừ những trường
hợp đang bị đột quỵ thiếu máu, cơn thiếu máu não thoáng qua hoặc tử vong
trong vòng 30 ngày sau khi được chẩn đoán. Chỉ có những yếu tố tiên lượng
quan trọng của đột quỵ thiếu máu là tuổi (RR = 1.3 mỗi mười năm), giới tính nữ
(RR = 1.9), tiền sử đột quỵ hoặc thiếu máu não thoáng qua (RR = 1.9) và đái
tháo đường (RR=1.8) là phù hợp với những nghiên cứu ban đầu. Huyết áp tâm
thu trở thành một yếu tố tiên lượng đột quỵ quan trọng khi warfarin phụ thuộc
9


thời gian trong mô hình Cox (Cox proportional hazards model).
- Phương pháp phân loại nguy cơ đột quỵ CHADS2 (Cardiac Failure,
Hypertension, Age, Diabetes, Stroke [Doubled] – suy tim, tăng huyết áp, tuổi,
tiểu đường, đột quỵ kép) kết hợp các yếu tố từ nhiều phương pháp nói trên. Chỉ

6

Bảng 1.2. Khuyến cáo sử dụng thuốc kháng vitamin K trên bệnh nhân RN
không có bệnh van tim
CHADS2
Hướng dẫn điều trị kháng vitamin K
0
Aspirin 81 - 325mg/ngày *
1
Aspirin hoặc thuốc kháng vitamin K (INR 2.0 – 3.0)
2
Thuốc kháng vitamin K (INR 2.0 - 3.0)**
* Nếu bệnh nhân dưới 60 tuổi và không có bệnh tim có thể không cần dung aspirin
** Bệnh nhân có van tim nhân tạo duy trì INR ≥ 2.5
Vào năm 2010, Hội Tim mạch châu Âu tổng hợp 12 nghiên cứu lâm
sàng về nguy cơ đột quỵ trong rung nhĩ và nhận thấy rằng cần phải bổ sung một
số yếu tố làm tăng nguy cơ đột quỵ trong thang điểm CHADS2[21]. Từ đó,
thang điểm CHA2DS2-VASc ra đời để đánh giá nguy cơ đột quỵ chi tiết hơn
trong rung nhĩ. Tuổi ≥ 75 trở thành yếu tố nguy cơ chính và được cho 2 điểm, từ
65-74 tuổi được cho 1 điểm (chữ viết tắt A thứ hai trong VASc).
Bảng 1.3. Phân tầng nguy cơ đột quỵ theo thang điểm CHA2DS2-VASc
CHA2DS2-VASc

Đ

10


iểm
C (Congestive heart failure): Suy tim /phân suất tống máu ≤ 40%

1

Tổng điểm
9
Bảng 1.4. Nguy cơ đột quỵ hàng năm theo thang điểm CHA2DS2-VASc
CHA2DS2-VASc score
Tỉ lệ đột quỵ (%/năm)
0 điểm
0
1 điểm
1.3
2 điểm
2.2
3 điểm
3.2
4 điểm
4.0
5 điểm
6.7
6 điểm
9.8
7 điểm
9.6
8 điểm
6.7
9 điểm
15.2
Phân tầng nguy cơ đột quỵ bằng thang điểm CHA2DS2-VASc từ năm
2010 được lấy làm cơ sở cho việc điều trị bằng thuốc kháng đông. Theo đó, chỉ
khi bệnh nhân không có yếu tố nguy cơ (CHA2DS2-VASc = 0) thì mới không


Mặc dù có nhiều phương pháp phân loại nguy cơ đột quỵ để xác định
những bệnh nhân được hưởng nhiều nhất và ít nhất lợi ích từ điều trị kháng
đông, thời điểm để bắt đầu điều trị kháng đông còn đang tranh cãi. Cái mốc của
việc điều trị kháng đông đối với bệnh nhân rung nhĩ rất thay đổi; một số người
quyết định điều trị kháng đông ở nhóm nguy có trung bình, một số khác thì
không. Nguy cơ tắc mạch do huyết khối toàn bộ liên quan đến cuồng nhĩ có thể
hơi có phần thấp hơn so với rung nhĩ, thận trọng khi đánh giá nguy cơ bằng cách
sử dụng tiêu chuẩn phân loại giống nhau cho cả 2 loại loạn nhịp cho đến khi có
thêm những dữ liệu giá trị[3],[4].
1.3.3. Một số nghiên cứu về điều trị dự thuyên tắc ở bệnh nhân rung nhĩ
Thuốc kháng vitamin K có lịch sử lâu đời. Các phân tích gộp đều cho thấy
thuốc kháng vitamin K làm giảm nguy cơ đột quỵ đến 65% so với giả dược và
làm giảm 38% nguy cơ tương đối đột quỵ so với Aspirin[18]. Khả năng bảo vệ
tối đa chống lại đột quỵ thiếu máu ở bệnh nhân rung nhĩ hầu như đạt được với
INR trong khoảng 2.0 đến 3.0, ngược lại INR trong khoảng từ 1.6 đến 2.5 thì chỉ
đạt khoảng 80% hiệu quả điều trị[4]. Tuy nhiên thuốc kháng vitamin K có khá
nhiều nhược điểm: đáp ứng không dự báo được, bắt đầu và hết tác dụng chậm,
khoảng trị liệu hẹp và bị ảnh hưởng nhiều bởi thức ăn do đó khi sử dụng phải
theo dõi chặt chẽ. Đó là lý do khiến cho việc sử dụng thuốc kháng vitamin K
trên thực tế còn khá hạn chế. Ngay cả tại Mỹ, một nghiên cứu trên 13.428 bệnh
nhân được chẩn đoán rung nhĩ trong đó có 11.082 có chỉ định dùng thuốc kháng
vitamin K thì chỉ có 55% bệnh nhân rung nhĩ có chỉ định sử dụng kháng đông
được sử dụng kháng đông để phòng ngừa biến chứng đột quỵ và con số này
giảm xuống còn 35% trên bệnh nhân ≥ 85 tuổi[17]. Một nghiên cứu khác được
thực hiện tại Trung Quốc cho thấy 35,5% bệnh nhân rung nhĩ nguy cơ cao
không được dùng bất cứ một thuốc chống huyết khối nào[29]. Ở Hàn Quốc tỉ lệ
12



V5, V6)
+ Nhịp thất rất không đều: thể hiện bằng các khoảng RR dài ngắn khác
nhau. Đó là hình ảnh loạn nhịp hoàn toàn.
+ Hình dạng QRS: nói chung thường hẹp, nhưng trên cùng 1 chuyển đạo
các thất đồ có khác nhau chút ít về biên độ, thời gian, móc hay trát đậm, đó là do
sóng f chồng lên, cũng như do thất được khử cực ở những mức độ chịu kích
thích khác nhau
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu
- BN hoặc người nhà từ chối cung cấp thông tin cho nghiên cứu.
- Những BN rung nhĩ mà có kèm theo các bệnh về máu, suy thận, xơ gan.
- Những BN rung nhĩ mà có tiền sử dị ứng với thuốc kháng vitamin K,
BN bị đột quỵ xuất huyết não trong vòng 6 tháng, BN loét dạo dày tiến triển.
- Những BN không giao tiếp được bằng tiếng phổ thông (tiếng Việt).

14


2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Cắt ngang mô tả.
2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
* Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng cho 1 tỷ lệ:
n = Z21- /2 p1 2 p 
d

Trong đó:
n: Cỡ mẫu tối thiểu cần điều tra.

Z: Giá trị thu được từ bảng Z ứng với mức ý nghĩa thống kê . Ở đây ta
chọn  = 0,05 ta có Z = 1,96.

hợp được định nghĩa là những trường hợp bệnh nhân được áp dụng điều trị
không đúng với chỉ định. Chỉ định dự phòng được phân loại theo phân tầng
nguy cơ thuyên tắc. Ở bệnh nhân có bệnh van tim, tất cả đều có chỉ định dùng
thuốc kháng vitamine K. Ở bệnh nhân không có bệnh van tim được đánh giá
theo thang điểm CHADS2. Nếu bệnh nhân có điểm CHADS2 < 2 : dự phòng
bằng aspirin 81 – 350mmg/ngày, CHADS2 ≥ 2 : dự phòng bằng thuốc kháng
vitamine K. Nếu bệnh nhân dưới 60 tuổi và không có bệnh tim có thể không cần
dùng aspirin. Kết quả nghiên cứu thử trên 50 bệnh nhân rung nhĩ thấy có 39
bệnh nhân không được điều trị dự phòng phù hợp với phân tầng chỉ định, chiếm
79%.
- Tất cả các bệnh nhân nghi ngờ rung nhĩ được chẩn đoán xác định bằng
ECG 12 chuyển đạo theo tiêu chuẩn nêu trên.
- Tiến hành khám lâm sàng, chỉ định các cận lâm sàng để xác định các
nguyên nhân gây rung nhĩ. Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi xét một sô
nguyên nhân thường gặp nhất của rung nhĩ là: tăng huyết áp, bệnh van tim, suy
tim, bệnh động mạch vành và cường giáp. Tuy nhiên rung nhĩ cũng có thể đơn
độc không kèm theo một nguyên nhân nào gọi là rung nhĩ vô căn.
- Phân tầng nguy cơ thuyên tắc ở bệnh nhân rung nhĩ trên 2 nhóm: có bệnh van tim và
không có bệnh van tim.

Phân loại nguy cơ thuyên tắc ở bệnh nhân rung nhĩ
Nguy cơ thấp
Nguy cơ trung bình
Nguy cơ cao
- Giới nữ
- ≥ 75 tuổi
- Tiền căn đột quỵ, TIA hoặc
- Tuổi 65 – 74

- Tăng huyết áp

1

A2 (Age): Tuổi ≥ 75

1

D (Diabetes): Đái tháo đường

1

S2 (Stroke): Đột quị /cơn thiếu máu não thoáng qua

2

Điểm tối đa

6

Dựa trên số điểm CHADS2 để xác định các trường hợp có chỉ định sử dụng thuốc
kháng vitamin K.

CHADS2
Hướng dẫn điều trị kháng vitamin K
0
Aspirin 81 - 325mg/ngày *
1
Aspirin hoặc thuốc kháng vitamin K (INR 2.0 - 3.0)
2
Thuốc kháng vitamin K (INR 2.0 - 3.0)**
* Nếu bệnh nhân dưới 60 tuổi và không có bệnh tim có thể không cần dùng

2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu
- Thống kê và xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê y học trên máy vi
tính với sự hỗ trợ bằng phần mềm Medcalc 11.5.
- So sánh sự khác biệt giữa các kết quả với mức ý nghĩa 0,05, sử dụng
thống kê Chi bình phương (χ2) để so sánh 2 tỷ lệ và phân tích phương sai, sử
dụng thống kê Student để so sánh 2 giá trị trung bình.
Để hạn chế sai số, phiếu điều tra được thiết kế sao cho phù hợp với bệnh
nhân. Các câu hỏi được nêu ra rõ ràng, dễ trả lời và được tiến hành điều tra thử,
chỉnh sửa nội dung cho đến khi việc điều tra bằng bộ câu hỏi được dễ dàng. Sau
khi điều tra, số liệu sẽ được nhập vào phần mềm Medcalc 11.5 và sàng lọc, làm
sạch số liệu thô trước khi tiến hành phân tích.
2.3. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 04 năm 2014.
2.4. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Khoa Nội tim mạch, bệnh viện tỉnh Đắk Lắk.

18


2.5. KHÍA CẠNH ĐẠO ĐỨC
Nghiên cứu được tiến hành dưới sự cho phép của Hội đồng khoa học sau
khi duyệt đề cương nghiên cứu.
Nội dung nghiên cứu rất thiết thực và cần thiết để chỉ ra thực trạng của
việc dự phòng thuyên tắc trong rung nhĩ từ đó có những giải pháp để góp phần
cho việc điều trị dự phòng này đạt kết quả tốt nhất, tránh cho bệnh nhân rung nhĩ
những biến cố đáng tiếc.
Bệnh nhân tham gia nghiên cứu trên tinh thần tự nguyện.
Toàn bộ số liệu thu thập được chỉ sử dụng cho mục đích khoa học và làm
cơ sở cho việc chăm sóc, điều trị rung nhĩ và phòng ngừa đột quỵ
2.6. ĐỊNH NGHĨA BIẾN SỐ

(11.1mmol/l).
- Không có ĐTĐ: không thỏa mãn tiêu chí trên.
* Suy tim: là biến định tính, có 2 giá trị.
- Có: Chẩn đoán suy tim dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim chức năng
tâm thu giảm hoặc bảo tồn[18]. Có suy tim tức là có suy tim với chức năng thất
trái giảm hoặc suy tim với chức năng thất trái bảo tồn.
Chẩn đoán suy tim với chức năng thất trái giảm
1.Triệu chứng cơ năng điển hình của suy tim
2.Triệu chứng thực thể điển hình của suy tim
3.Phân suất tống máu (EF) thất trái giảm
Chẩn đoán suy tim với chức năng thất trái bảo tồn: cần phải có 4 dấu hiệu
sau:
1.Triệu chứng cơ năng điển hình của suy tim
2.Triệu chứng thực thể điển hình của suy tim
3.Phân suất tống máu (EF) thất trái bình thường hoặc giảm nhẹ và thất trái
không giãn
4.Tổn thương cơ tim thích hợp (phì đại thất trái, giãn nhĩ trái) và/hoặc rối
loạn chức năng tâm trương thất trái.
Triệu chứng của suy tim:
Triệu chứng cơ năng: khó thở gắng sức hoặc khi nghỉ ngơi, mệt mỏi, uể
oải, phù mắt cá chân.
Triệu chứng thực thể: nhịp tim nhanh, khó thở nhanh nông, rale ẩm đáy
phổi, tràn dịch màng phổi, tĩnh mạch cổ nổi, gan to, phù ngoại biên.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status