Một số nhận xét, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Cổ phần Bia Hoà Bình. - Pdf 52

LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta ngày càng phát triển và đổi mới. Với nền kinh tế thị trường
các doanh nghiệp Nhà nước cũng như doanh nghiệp tư nhân ngày càng lớn mạnh
một cách rõ rệt. Khi nền kinh tế phát triển thì các mối quan hệ kinh tế ngày càng
trở nên đa dạng và phức tạp. Do đó, việc thu thập và xử lý thông tin ngày càng
đòi hỏi phải được nâng cao về mọi mặt. Để phù hợp với sự phát triển này, các
doanh nghiệp phải hoàn thiện công việc kế toán nhất là công việc hạch toán kế
toán nguyên vật liệu.
Hiện nay các doanh nghiệp được Nhà nước giao quyền tự chủ về tài
chính. Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải tổ chức các công tác kế
toán đảm bảo hợp lý làm sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Để góp phần cho
doanh nghiệp phát triển, hoạt động đúng hướng thì Lãnh đạo doanh nghiệp
phải có thông tin chính xác về tình hình tài chính, tình hình hoạt động của
doanh nghiệp để có những điều chỉnh hợp lý, phù hợp với tình hình thị trường.
Vì vậy doanh nghiệp cần phải phát huy khả năng hạch toán kế toán, xác định
nhu cầu vốn cho sản xuất doanh nghiệp, tạo nguồn tài chính để đáp ứng nhu
cầu đã xác định, phải theo dõi, kiểm tra, quản lý chặt chẽ việc nhập, xuất,
quản lý nguyên vật liệu doanh nghiệp mình.
Từ những lý do và nhận thức ấy mà em đã liên hệ về thực tập tại Công ty
Cổ phần Bia Hoà Bình, với mục đích học hỏi những kinh nghiệm ở thực tế nói
chung và nghiên cứu tìm hiểu quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh qua
phương pháp hạch toán ở phòng Tài vụ của Công ty Cổ phần Bia Hoà Bình nói
riêng.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Đức Toàn
Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Bia Hoà Bình được sự giúp
đỡ tận tình của Giám đốc Công ty, các cô chú trong phòng Kế toán, phòng
Hành chính tổng hợp em đã bước đầu tìm hiểu một cách tổng quan về cơ cấu
tổ chức bộ máy của Công ty, các yếu tố liên quan đến phát triển cũng như
công việc hạch toán kế toán của công ty và em đã thực hiện xong bản chuyên
đề thực tập này.
Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Bia Hoà Bình

Đến tháng 10 - 1991 khi tỉnh Hoà Bình được tái lập Công ty có tên gọi là xí
nghiệp chế biến lương thực, đến năm 1994 xí nghiệp được chuyển làm kinh tế để
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
3
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Đức Toàn
tăng ngân sách tài chính đảng, trong tình hình đổi mới theo quyết đính số 70
QĐ/TU ngày 10 - 10 - 1992 của Tỉnh uỷ và được đổi tên thành Công ty Bia Hoà
Bình.
Thực hiện chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước, ngày 24-
6-2004 UBND tỉnh Hoà Bình có quyết định số 1121/QĐ-UB chuyển Công ty Bia
Hoà Bình thành Công ty Cổ phần Bia Hoà Bình.
Trong nền kinh tế thị trường, do luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản
phẩm mở rộng thị trường tiêu thụ nên sản lượng của Công ty có xu hướng tăng
dần, nhờ thế vị trí của công ty trong sản xuất kinh doanh không bị sút kém đi mà
lại được củng cố vững chắc thêm. Kinh nghiệm hoạt động của công ty sẽ góp
phần hình thành và khẳng định mô hình công nghệ thích hợp cho tỉnh Hoà Bình,
từng bước đóng góp cho ngân sách Nhà nước.
Trong những năm qua, Công ty Cổ phần Bia Hoà Bình đã có những bước
phát triển quan trọng, tốc độ tăng trưởng khá, uy tín được nâng lên rõ rệt, thị
trường tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá trong và ngoài tỉnh không ngừng được mở
rộng và phát triển.
Từ vốn tự có tính cho giá trị dây truyền công nghệ sản xuất cũ là: 1,178 tỷ
đồng, khi thực hiện dự án đầu tư chiều sâu và mở rộng sản xuất. Công ty đã bổ
sung thêm đến nay tổng nguồn vốn của công ty là 6,337 tỷ đồng. Nguồn vốn này
được phân bổ như sau:
- Vốn thiết bị: 5,388 tỷ đồng.
- Vốn xây lắp và kiến thiết cơ bản khác: 0,637 tỷ đồng
- Vốn dự phòng: 0,312 tỷ đồng
Hoạt động của công ty đã đem lại những lợi ích kinh tế như:

doanh sau khi cổ phần đã tương đối ổn định
- Sản lượng qua các năm cho thấy quy mô hoạt động SXKD của công
ty ngày càng được mở rộng: Năm 2004 tăng 60,52% so với năm 2003; năm
2005 tăng 53,65% so với năm 2004. Đạt mức tăng cao như vậy là do đơn vị đã
quan tâm đầu tư, cải tiến quy trình công nghệ sản xuất làm tăng năng suất lao
động.
- Doanh thu năm 2004 tăng 62,76% so với năm 2003 là 57,07%, năm
2005 tăng so với năm 2004 là 33,93%.
- Nộp ngân sách nhà nước qua các năm cũng đều tăng. Năm 2004 tăng
so với năm 2003 là 59,19%. Năm 2005 so với năm 2004 tăng 49,24%.
- Thu nhập bình quân trên tháng của CBCNV năm 2004 so với năm
2003 tăng 66,66%. Năm 2005 so với năm 2004 tăng 26,66%.
Đến nay Công ty đã tạo công ăn việc làm cho 120 lao động.
Trong đó: + Nam có 74 người
+ Nữ có 46 người
Cán bộ công nhân viên có 20 đồng chí có trình độ Đại học, 10 đồng chí có
trình độ Cao đẳng và trung cấp, 30 người là công nhân kỹ thuật và có 60 công
nhân viên lành nghề.
Trong năm 2005, nguồn vốn sản xuất của công ty như sau:
Tổng số vốn kinh doanh là: 4.730.000.000 đ
Trong đó:
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
6
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Đức Toàn
- Vốn cố định là: 4.600.000.000 đ
- Vốn lưu động là: 130.000.000 đ
Với số vốn như vậy công ty tạo công ăn việc làm cho 120 người trong
công ty và một số lao động tự do hiện đang làm đại lý bán bia ở một số nơi ngoài
nhà máy. Hiện thu nhập bình quân của cán bộ công nhân viên chưa cao (700.000

Nguyên vật liệu hạt:
Malt,gạo
Nghiền
Nấu
lọc
Bã bia
Nước hoa cau
Nồi hơi
Chiết bia chai
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
8
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Đức Toàn
Thanh trùng
Dập nút
Dán nhãn
Thành phẩm
Rửa chai

Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
9
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Đức Toàn
Quy trình sản xuất bia là quy trình sản xuất phức tạp kiểu liên tục. Để sản
xuất ra sản phẩm công ty bia sử dụng nguyên vật liệu chính là Malt (đại mạch),
gạo tẻ, hoa cau và đường. Tuy nhiên nếu chỉ dùng nguyên liệu chính là Malt và
cao hoa để sản xuất thì chất lượng sản phẩm thơm ngon, rất tốt, nhưng giá thành
lại rất cao bởi vì Malt là một nguyên liệu ngoại nhập. Để tiết kiệm chi phí giảm
giá thành sản phẩm và tận dụng thế mạnh Việt Nam là một trong những nước
xuất khẩu gạo đứng thứ 3 trên thế giới ( Năm 2003 ). Công ty đã dùng gạo để

0
C sau khi đặt các thông số kỹ thuật cần thiết thì chuyển sang giai
đoạn lên men phụ
- Giai đoạn lên men phụ: ở nhiệt độ 0 - 2
0
C cuối giai đoạn lên men phụ
bơm CO2 để tạo ga. Khi đạt các thông số kỹ thuật cần thiết thì chuyển sang giai
đoạn chiết lọc
* Giai đoạn chiết lọc:
Sau khi sản phẩn qua giai đoạn lên men được chuyển sang bộ phận lọc để
lấy sản phẩm bia trong và loại bỏ bã men. Kết thúc giai đoạn lọc tuỳ từng loại
bia mà tiến hành chiết.
+ Nếu là bia hơi thì sau khi lọc đã là bia hơi được đưa vào téc chứa và tiến
hành xuất bán.
+ Nếu là bia chai thì sau khi qua giai đoạn lọc, chuyển sang tiếp bộ phận
lọc và thanh trùng, tức là chai được đưa vào máy rửa sạch, đóng bia vào chai dập
nút dán nhãn, nhập kho.
1.2.2. Đặc điểm tổ chức sản xuất:
Do đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất bia là quy trình công nghệ sản
xuất phức tạp kiểu liên tục nên toàn bộ quy trình sản xuất bia được tổ chức thành
hai phân xưởng chính: Phân xưởng bia và phân xưởng cơ khí phụ trợ.
- Phân xưởng sản xuất bia bao gồm:
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
11
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Đức Toàn
+ Tổ quản lý 1: Một quản đốc và một phó giám đốc
+ Tổ xay nghiền: Nghiền gạo và Malt.
+ Tổ nấu và tổ men: Thực hiện giai đoạn nấu và lên men.
+ Tổ lọc chiết CO2: Thực hiện triết bia theo yêu cầu kỹ thuật và thanh trùng.

- Giám đốc: Là người điều hành hoạt động hàng ngày của công ty và chịu
trách nhiệm trước HĐQT về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao. HĐQT
bổ nhiệm một người trong HĐQT làm giám đốc và kiêm luôn chủ tịch HĐQT.
Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty .
- Ban kiểm soát: Do đại hội cổ đông bầu ra và quy định số lượng từ 3 - 5
người. Ban kiểm soát phải bầu một người làm trưởng ban, trưởng ban kiểm soát
phải là cổ đông của công ty thay mặt các cổ đông trong công ty kiểm soát các
hoạt động của công ty, chủ yếu là vấn đề về tài chính. Vì vậy trong ban kiểm soát
phải có ít nhất 1 thành viên có trình độ kế toán. Ban kiểm soát phải chịu trách
nhiệm trước đại hội cổ đông về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
- Phòng tổ chức hành chính: Giúp ban giám đốc trong công tác tổ chức
kinh doanh bố trí mạng lưới, tổ chức nhân sự, công tác lao động, công tác hành
chính quản trị, thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước đối với CBCNV,
đảm bảo quyền lợi về văn hoá, vật chất, tinh thần và sức khoẻ của CBCNV.
- Phòng kế toán tài vụ: Có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc về chính
sách, chế độ tài chính, thể lệ kế toán tài chính của Nhà nước. Phản ánh đầy đủ
kịp thời thường xuyên toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính của công ty.
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
13
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Đức Toàn
- Phòng kinh doanh đầu tư có nhiệm vụ nắm bắt nhu cầu thị trường để xây
dựng và tổ chức, thực hiện các phương án kinh doanh có hiệu quả, tổ chức lực
lượng hàng hoá, chất lượng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Trực tiếp thực
hiện nghĩa vụ mua bán buôn của công ty, theo dõi các đại lý, theo dõi nhu cầu thị
trường, mua sắm trang thiết bị đồ dùng cho đơn vị, mở quầy dịch vụ và bán lẻ.
Đồng thời phòng kinh doanh phụ trách về mua vật tư của công ty.
- Phòng bảo vệ: Có nhiệm vụ bảo vệ tài sản, hàng hoá của công ty, mạng
lưới cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty
SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BIA HOÀ BÌNH

tiền mặt, viết phiều thu, chi. Cuối tháng tổng hợp vào sổ bảng kê, bảng phân bổ,
đối chiếu với thực tế, phát hiện kịp thời những sai sót, nhầm lẫn có thể xảy ra. Từ
đó kiểm kê lại hoá đơn chứng từ và có biện pháp xử lý kịp thời những sai sót.
- Kế toán vật liệu, TSCĐ, hàng hoá, tiền lương, thống kê: Có nhiệm vụ tập
hợp các chứng từ nhập, xuất vật liệu của các thủ kho gửi lên, kiểm tra sổ kho,
nhận bảng chấm công của các tổ sản xuất, theo dõi tăng giảm TSCĐ, tính khấu
hao từng quý để đưa vào giá thành sản phẩm.
- Thủ quỹ: Có nhiệm vụ giữ quỹ, trực tiếp thu chi tiền mặt, ngân phiếu.
Kế toán trưởng kiêm kế toán tổng hợp
Kế toán thanh toán
Kế toán TSCĐ, NVL, hàng hoá kiêm thống kê sản xuất
Thủ quỹ
SƠ ĐỒ BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BIA HOÀ BÌNH
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
16
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Đức Toàn
1.4.2 Hình thức sổ kế toán đang áp dụng tại Công ty Cổ phần Bia Hoà Bình
Để phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty, trình độ quản
lý nói chung và trình độ đội ngũ cán bộ kế toán nói riêng.C ông ty lựa chọn hình
thức kế toán chứng từ ghi sổ
Hình thức kế toán chứng từ ghi sổ gồm các thể loại số kế toán sau:
+ Chứng từ ghi sổ
+ Sổ cái
+ Sổ, thẻ kế toán chi tiết.
- Công ty thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê Kiểm kê định kỳ:
Trình tự hạch toán Kế toán Nguyên vật liệu theo hình thức chứng từ ghi sổ
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
S cái TKổ
152

Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
18
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Đức Toàn
2.THỰC TRẠNG KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BIA HOÀ BÌNH
2.1 . Khái quát về vật liệu tại Công ty cổ phần Bia Hoà Bình
2.1.1 Đặc điểm nguyên vật liệu ở công ty:
Với nhiệm vụ sản xuất bia hơi, bia chai, công ty phải sử dụng nhiều loại vật
liệu khác nhau với một khối lượng tương đối lớn. Do đó việc vận chuyển, bảo
quản không tốt để gây ra hư hỏng ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm. Vấn đề
đặt ra cho công tác quản lý và hạch toán vật liệu khá nan giải, đồng thời phải tìm
ra phương pháp bảo quản, vận chuyển đối với từng loại vật liệu.
- Xét về mặt chi phí: nguyên vật liệu chiếm tỉ trọng lớn trong toàn bộ chi
phí sản xuất và trong giá thành sản phẩm. Vì vậy, chỉ cần một biến động nhỏ về
chi phí nguyên vật liệu cũng gây ảnh hưởng đến giá thành đáng kể.
- Nguyên vật liệu được công ty khai thác từ nguồn mua ngoài của các cá
nhân và tập thể như: mua hoa malt của công ty xuất nhập khẩu Hà Nội, mua
đường của nhà máy đường Vạn Điển. Mua bột trợ lọc của nhà máy hoá chất Việt
Trì...
- Nguyên vật liệu của công ty chỉ sử dụng vào hoạt động sản xuất chính là:
sản xuất bia không có sản xuất phụ
- Trong quá trình sản xuất, ở các tổ sản xuất có phế liệu thu hồi như: bã bia
bán cho khách hàng có nhu cầu sử dụng giá trị thu được, được giảm trừ chi phí
vào giá thành Bia.
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
19
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Đức Toàn
2.1.2-Phân loại và đánh giá nguyên vật liệu ở công ty cổ phần Bia Hoà

20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Đức Toàn
Tại công ty hiện nay trong công tác kế toán, vật liệu sử dụng giá thực tế để
hạch toán cụ thể là:
a. Đối với nguyên vật liệu mua ngoài: giá thực tế dùng để hạch toán là giá
ghi trên hoá đơn hoặc ghi trên hợp đồng kỳ trước, phù hợp với giá ghi trên phiếu
nhập kho.
Cụ thể: Trong tháng 4-2006 mua 500 kg đường của nhà máy Vạn Điển giá
thực tế là: 6000đ/kg.
b. Các khoản chi phí thu mua thực tế phát sinh được kế toán theo dõi trên
TK 331-phải trả cho người bán. Riêng với các loại chi phí thu mua khác: chi phí
vận chuyển bốc dỡ, bảo quản... Vì phần lớn vật liệu đều được người bán chở đến
tận nơi, nên đã được ghi trong hoá đơn. Nhưng có trường hợp, công ty phải đảm
nhận chuyên trở vật tư, toàn bộ chi phí vận chuyển được tính vào chi phí sản
xuất không tính vào giá thành vật liệu.
c. Việc hạch toán phải chân thực. Do vậy việc tính giá thực tế vật liệu xuất
dùng là một công việc không thể thiếu được của kế toán vật liệu. Công ty chỉ
đánh giá vật liệu theo giá thực tế và áp dụng phương pháp nhập trước-xuất trước
nên giá thực tế vật liệu xuất kho chính là giá mua vật liệu ghi trên hoá đơn của
từng lần nhập kho:
Cụ thể:
Tháng 3-2006 không có tồn kho đầu tháng:
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
21
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Đức Toàn
Nhập mua: 400kg đường giá 5.900đ/kg
Nhập mua: 500kg đường giá 6000đ/kg.
Ngày 20/03/2006: Xuất cho xí nghiệp bia: 80kg
Vậy giá thực tế của đường xuất kho ngày 20/3/2006 là: 80kg x 5.900đ =

Việc hạch toán chi tiết vật liệu giữa kho và phòng kế toán được thực
hiện theo một trong các phương pháp hạch toán do Nhà nước quy định.
Hiện tại chế độ Nhà nước quy định những phương pháp hạch toán chi
tiết vật liệu như sau:
2.2.2.1. Phương pháp ghi thẻ song song:
* Tại kho:
Thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi, phản ánh tình hình nhập - xuất - tồn
kho của từng vật liệu theo chỉ tiêu hiện vật. Thẻ kho do phòng kế toán lập cho
từng danh mục vật liệu, hàng ngày căn cứ vào chứng từ nhập, xuất thủ kho ghi
vào các thẻ kho và cuối cùng tính ra số tồn kho. Sau khi ghi chép, tập hợp các
phần và phân loại các chứng từ rồi giao cho phòng kế toán thông qua phiếu
giao nhận chứng từ.
* Tại phòng kế toán:
Sử dụng sổ chi tiết vật liệu để ghi tình hình nhập xuất - tồn kho hàng
ngày theo chỉ tiêu số lượng và giá trị, sổ chi tiết vật liệu cũng được mở cho
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
23
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Đức Toàn
từng danh mục vật liệu. Hàng ngày sau khi nhận được các chứng từ của thủ
kho, kế toán phải kiểm tra hoàn chỉnh chứng từ rồi ghi chép trên sổ chi tiết vật
liệu và định kỳ phải kiểm tra số liệu trên thẻ kho và sổ chi tiết vật liệu. Cuối
tháng tính ra số tồn kho và đối chiếu số liệu của phòng kế toán tổng hợp.
Ưu điểm:
Việc ghi sổ thẻ kho đơn giản, rõ ràng dễ kiểm tra đối chiếu số liệu, phát
hiện sai sót trong việc ghi chép quản lý chặt chẽ cả mặt hiện vật và giá trị cùng
loại vật liệu.
Nhược điểm:
Ghi chép trùng lặp giữa kho và phòng kế toán, khối lượng ghi chép
công việc quá lớn. Công việc dồn vào cuối tháng nên hạn chế tính kịp thời của

Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
25
25

Trích đoạn Phương pháp mức dư: ( Sổ số dư ). 2 Trường hợp hàng về chưa có hoá đơn: Vật liệu đã mua trong tháng và đã về nhập kho nhưng cuối tháng chưa nhận được hoá đơn kiêm 5 Đối với chi phí thu mua vật liệu Kế toán tổng hợp nhập vật tư từ các nguồn khác. Tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu ở công ty:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status