THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong sinh học 9”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy
3. Tác giả: Họ và tên: ……………….
Nam (nữ): Nữ
Ngày tháng/năm sinh: …………………
Trình độ chuyên môn: Đại học
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên – trường THCS Tráng Liệt
Điện thoại: ……………………..
4. Đồng tác giả (nếu có)
Họ và tên;
Ngày tháng/năm sinh;
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ, đơn vị công tác;
Điện thoại:
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có) : Trường: THCS Tráng Liệt
Số điện thoại:
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Giảng dạy Sinh học 9 và một số môn
trong chương trình THCS.
8. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: tháng 3 năm học 2014 – 2015
HỌ TÊN TÁC GIẢ (KÍ TÊN)
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN
ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
1
3.1. Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến.
- Với những hình ảnh, số liệu, những tình huống về ô nhiễm, suy thoái môi trường thì
học sinh rất hào hứng tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến môi trường bị ô nhiễm, suy
thoái. Hậu quả của việc ô nhiễm suy thoái môi trường là gì và từ đó các em ý thức được
việc bảo vệ môi trường của bản thân đồng thời tìm ra các giải pháp chống ô nhiễm môi
trường.
- Qua việc áp dụng sáng kiến tôi thấy học sinh có những tiến bộ rõ rệt, đặc biệt sự tiến
bộ không chỉ về mặt kiến thức mà còn tiến bộ về ý thức đạo đức, kĩ năng ứng xử với
môi trường.
3.2. Khả năng áp dụng sáng kiến.
- Sáng kiến được áp dụng với bộ môn sinh học cấp THCS nói chung và bộ môn sinh
học lớp 9 nói riêng.
3.3. Lợi ích của sáng kiến.
- Học sinh có hứng thứ hơn trong học tập, có thái độ yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống
của bản thân và mọi người.
3.4. Giá trị và kết quả đạt được của sáng kiến.
- Trước khi chưa áp dụng sáng kiến kiến thức về môi trường của học sinh rất hạn chế,
các em còn mơ hồ, chưa ý thức được vai trò của môi trường đối với bản thân và sự sống
vì vậy chưa hình thành cho mình thói quen, năng lực và những hành động bảo vệ môi
trường.
- Sau khi áp dụng sáng kiến ý thức về môi trường của học sinh tăng lên rõ rệt. Các em
hiểu được khái niệm, ý nghĩa của môi trường đối với bản thân và với sự sống, từ đó các
em hình thành ý thức, thái độ, kĩ năng và các năng lực bảo vệ môi trường.
3.5 Đề xuất và khuyến nghị.
- Các cấp lãnh đạo cần quan tâm đến đội ngũ giáo viên giảng dạy môn sinh học ở bậc
THCS, thường xuyên tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.
Tổ chức các buổi thảo luận, tìm hiểu các sáng kiến có chất lượng, có khả năng ứng dụng
rộng rãi.
cần có biện pháp khôi phục môi trường, bảo vệ thiên nhiên để phát triển bền vững .
4
Trong các môn học ở cấp THCS Sinh học là một trong những môn học giúp học sinh
có những hiểu biết về khoa học, về thế giới sống, kể cả con người trong mối quan hệ với
môi trường, có tác dụng tích cực trong việc giáo dục thế giới quan nhân sinh quan khoa
học nhằm nâng cao chất lượng của cuộc sống. Môn sinh học ở trường phổ thông có khả
năng tích hợp các nội dung giáo dục BVMT, đặc biệt trong phần 2 của chương trình sinh
học 9: “Sinh vật và môi trường”.
Để hình thành cho các em có những kiến thức về môi trường, mối quan hệ giữa con
người và môi trường, tài nguyên và môi trường, ô nhiểm môi trường, suy thoái môi
trường.Có thái độ hành vi về môi trường như có ý thức bảo vệ môi trường, sử dụng hợp
lí tài nguyên thiên nhiên, có tình cảm yêu quý thiên nhiên, đất nước tôn trọng giữ gìn
những vẻ đẹp thiên nhiên, di sản văn hoá, có thái độ thân thiện với môi trường...
Xuất phát từ những lí do trên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “ Tích hợp giáo dục bảo vệ
môi trường trong chương trình sinh học 9” với mong muốn góp một phần nhỏ bé của
mình vào việc giáo dục học sinh bảo vệ môi trường, đồng thời làm sáng tỏ bản chất của
việc bảo vệ môi trường từ đó đề xuất biện pháp tổ chức tích hợp giáo dục bảo vệ môi
trường trong chương trình sinh học 9 nhằm góp phần bảo vệ môi trường xanh - sạch đẹp. Giúp học sinh biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống.
Qua việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập giáo viên điều chỉnh và nâng cao chất
lượng dạy học nhằm phát triển tư duy, khám phá kiến thức mới phát huy tính tích cực
của học sinh, HS hình thành năng lực tự học, năng lực tư duy.
2. Cơ sở lí luận
2.1 Nghị quyết số 41 của trung ương ngày 15 - 11 - 2004 của bộ chính trị về môi
trường trong thời kỳ công nghiệp hoá. hiện đại hoá đất nước đã chỉ rõ : Đưa nội dung
giáo dục BVMT , sách giáo khoa của hệ thống giáo dục quốc dân, tăng dần thời lượng
tới hình thành môn học chính khoá đối với cấp học phổ thông .
2.2. Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo trên, giáo dục BVMT được Bộ Giáo dục đào tạo
đã ra chỉ thị về việc tăng cường công tác giáo dục BVMT xác định nhiệm vụ trọng tâm
pháp tối ưu để giáo viên đánh giá được kết quả học tập của HS. Người ta đã chứng minh
và khẳng định rằng không thể đánh giá học sinh qua một bài tích hợp mà phải trải qua
6
nhiều bài tích hợp, đặc biệt là trải qua một quá trình dài với sự cố gắng, nỗ lực của chính
bản thân người học.
Qua việc giảng dạy trên lớp cũng như việc bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi tôi thấy ý
thức BVMT của HS chưa cao kể cả ở nhà và khi ở trường.
3.2: Về tình hình môi trường Việt Nam hiện nay:
Trong những năm qua chỉ số tăng trưởng kinh tế của nước ta không ngừng nâng cao,
tuy nhiên sự phát triển kinh tế chưa đảm bảo với việc cân bằng với việc BVMT, vì vậy
môi trường của Việt Nam bị xuống cấp nhanh, nhiều nơi môi trường bị ô nhiễm nghiêm
trọng, có nơi đã đến mức báo động.
3.2.1. Về đất đai:
Diện tích đất canh tác trên đầu người giảm sút, chất lượng đất giảm do xói mòn, rửa
trôi. Đất nghèo dinh dưỡng do các quá trình thoái hóa hóa học, hiện tượng đất bị khô
hạn, sa mạc hóa, mặn hóa, phèn hóa tăng lên. Ô nhiễm do chất thải, do sử dụng phân hóa
học và chất độc hóa học tăng.
3.2.2. Suy thoái rừng:
Diện tích rừng ngày càng thu hẹp. Theo thống kê diện tích rừng qua các thời kì như
sau:
Năm
1945
1976
1980
chất thải còn thấp, xử lí chất thải chưa đảm bảo đúng kĩ thuật gây hiện tượng ô nhiễm
nặng.
Ngoài ra điều kiện vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm ở đô thị và khu vực nông
thôn còn rất thấp. Nhiều vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra.
*) Nguyên tắc thực hiện:
- Đảm bảo tính đặc trưng và tính hệ thống của bộ môn.
- Không làm nặng thêm kiến thức sẵn có, chọn lọc những nội dung có thể lồng ghép
GDMT một cách tự nhiên, nhẹ nhàng mà vẫn hiệu quả.
- Các hình thức tích hợp GDBVMT:
- Khái niệm “Tích hợp GDBVMT” là sự kết hợp một cách có hệ thống các kiến thưc
GDMT và kiến thức môn học thành một noioj dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ nhau
dựa trên các mối quan hệ về lí luận, thực tiễn được đề cập trong bài học.
*) Tích hợp GDBVMT được thực hiện theo 3 mức độ như sau:
- Mức độ lồng ghép toàn phần
+ Mục tiêu và nội dung của bài học phù hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung của
GDBVMT.
VD cụ thể:
Tên bài
Địa chỉ, nội dung GDMT
Mức độ
Bài 49 : Quần xã - Các loài trong quần xã luôn có quan hệ mật thiết với Dạng lồng
sinh vật
nhau. Số lượng cá thể trong quần xã luôn được khống ghép
chế ở mức độ phù hơp với khả năng của môi trường,
8
tạo nên sự cân bằng sinh học trong quần xã.
Bài 50: Hệ sinh - Các sinh vật trong quần xã luôn gắn bó với nhau bởi Dạng lồng
Bài 56-57 Thực - Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường. Hậu quả ô
hành Tìm
hiểu nhiễm môi trường.
môi trường địa - Biện pháp chống ô nhiễm môi trường ở địa phương.
phương
Bài 58:
Tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận, chúng ta Dạng lồng
Sử dụng hợp lí tài cần phải sử dụng một cách tiết kiệm và hợp lí vừa đáp ghép
nguyên
thiên ứng nhu cầu sử dụng tài nguyên của xã hội hiện
nhiên
tại,vừa đảm bảo duy trì lâu dài các nguồn tài nguyên
cho thế hệ mai sau. Bảo vệ rừng và cây trên trái đất sẽ
có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ đất, nước
và các tài nguyên sinh vật khác.
Bài
59:
Khôi
Dạng lồng
Thực - Nâng cao ý thức của học sinh trong viêc BVMT ở Dạng lồng
hành vận dụng đia phương bằng những việc làm thiết thực, hiệu quả.
ghép
luật BVTM …
- Mức độ lồng ghép bộ phận
Chỉ một phần bài học có mục tiêu và nội dung GDBVMT:
Ví dụ cụ thể.
- Bài 29: Bệnh tật di truyền ở người: các bệnh tật di truyền ở người do ảnh hưởng của
các tác nhân vật lí và hóa học trong tự nhiên, do ô nhiễm môi trường hoặc do rối loạn
trong trao đổi chất nội bào. Từ đó HS xác định biện pháp BVMT bằng cách đấu tranh
chống sản xuất, thử, sử dụng vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học và các hành vi gây ô nhiễm
môi trường. Sử dụng và tuyên truyền vận động mọi người cùng sử dụng đúng quy cách
các thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ.
- Dạng lồng ghép một phần.
- Mức độ liên hệ hay kết hợp giữa liên hệ và lồng ghép:
+ Ở dạng này kiến thức GDMT không được đưa vào chương trình và SGK nhưng dựa
vào nội dung bài học GV có thể liên hệ đưa vào phần có liên quan tới bài giảng.
VD cụ thể.
10
- Bài 25: Thường biến: Sau khi HS hiểu kiểu hình là kết quả của sự tương tác giữa kiểu
gen và môi trường vì vậy muốn có năng suất cao trong sản xuất nông nghiệp cần chú ý
bón phân hợp lí cho cây. Từ đó giáo dục HS ý thức BVMT khi bón phân cho cây.
+ Dạng liên hệ.
*) Các hình thức tổ chức dạy học GDBVMT:
nhiệm vụ.
Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề:
- GV cần tạo ra các tình huống có vấn đề.
- yêu cầu HS giải quyết vấn đề.
- GV tổng hợp kết luận.
Phương pháp giao bài tập cho HS ở nhà.
- VD bài Thực hành “ Tìm hiểu mô trường ở địa phương” GV yêu cầu HS tìm hiểu
trường môi trường ở địa phương mình đạc biệt các khu ô nhiễm từ đó đề xuất các biện
pháp khắc phục.
4. Một số biện pháp thực hiện:
4.1 Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường.
- Giáo dục ý thức BVMT trong nhà trường và trong cộng đồng.
- Mỗi cá nhân phải nghiêm túc thực hiện luật BVMT.
- Tuyên truyền để HS hiểu ý nghĩa của môi trường với cuộc sống.
4.2 Tăng cường công tác quản lí nhà nước trong việc BVMT:
- Quản lí môi trường bằng pháp luật.
- Phục hồi phát triển rừng.
- Có biện pháp quản lí chặt chẽ các cơ sở kinh doanh, nhà máy thải chất thải gây ô
nhiễm.
- Thực hiện tốt chương trình Quốc gia về “ Biến đổi khí hậu”
4.3 Áp dụng công nghệ trong bảo vệ môi trường.
- Áp dụng công nghẹ sạch, đầu tư xử lí chất thải.
4.4 Mở rộng hợp tác Quốc tế trong lĩnh vực BVMT.
- Tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ sự tài trợ về công nghệ, tài chính trong lĩnh vực
BVMT.
12
*). Bài soạn cụ thể “ Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong chương trình sinh
học 9” qua bài “Tác động của con người đối với môi trường”
HOẠT ĐỘNG 1: TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI TỚI MÔI TRƯỜNG
QUA CÁC THỜI KÌ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI (14’)
* Mục tiêu: HS chỉ ra được tác động hai mặt có lợi và có hại của con người qua các
thời kì phát triển của xã hội.
Hoạt động của thầy
Hoạt động của trò
Nội dung
- GV yêu cầu nhóm trình bày nội - Đại diện nhóm trình I. Tác động của con
dung chuẩn bị ở nhà.(Năng lực tự bày (có thể dùng cả tranh người tới môi trường
học)
miêu tả).
qua các thời kì phát
- GV chiếu tranh các thời kì phát - Các nhóm theo dõi nội triển của xã hội.
triển của xã hội.
dung → Ghi nhớ.
- Tác động của con
- GV cho lớp thảo luận nhưng theo - Các nhóm có thể đặt người
trật tự và có ý thức xây dựng.(Năng câu hỏi trong nội dung + Thời kì nguyên
lực hoạt động nhóm, năng lực giao vừa trình bày hoặc đề thuỷ: Đốt rừng, đào
tiếp, giải quyết vấn đề, năng lực nghị trình bày lại một hố săn bắt thú dữ làm
quản lí)
đoạn nào đó. Ví dụ:
của con người qua các thời kì có
lớn
ảnh hưởng tới môi trường không?
14
hội
nông
chăn nuôi. Phá rừng
làm khu dân cư, khu
sản xuất làm thay đổi
đất và tầng nước mặt.
+
hội
công
nghiệp: Khai thác tài
nguyên bừa bãi, xây
dựng nhiều khu công
nghiệp làm đất càng
thu hẹp. Rác thải rất
HOẠT ĐỘNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI LÀM SUY THOÁI TỰ NHIÊN
(13’)
quả
rất
trong bảng 53.1 em hãy cho biết còn hoạt dựng nhà máy lớn, chất xấu.
động nào của con người gây suy thoái môi thải công nghiệp nhiều.
trường?
+ Mất cân bằng
- Một vài nhóm trình bày sinh thái
- Trình bày hậu quả của việc chặt phá rừng nội dung đã chuẩn bị từ + Sói mòn đất
bừa bãi và gây cháy rừng?
nhà.
gây lũ lụt diện
- Cho thảo luận giữa các nhóm sau đó yêu - Các nhóm khác theo rộng, hạn hán
cầu HS khái quát nội dung thành những vấn dõi, nhận xét, bổ sung.
đề cơ bản(Năng lực giải quyết vấn đề)
kéo dài, ảnh
- HS có thể kể: lũ quét ở hưởng
mạch
* Cháy rừng: Đất, nước ngầm, đời sống của Hà Giang..., Lở đất, sạt lở nước ngầm.
- Con người đã làm gì để bảo vệ - HS nghiên cứu SGK III. Vai trò của con
và cải tạo môi trường.(Năng lực tr.159
tư duy, giải quyết vấn đề)
người trong việc bảo
- Kết hợp kiến thức từ vệ và cải tạo môi
- GV nhận xét và giúp HS hoàn sách báo trao đổi nhóm trường tự nhiên.
chỉnh nội dung kiến thức.
thống nhất ý kiến.
- Hạn chế sự gia tăng
*Tích hợp GDBVMT: Cho biết - Đại diện nhóm trình dân số.
thành tựu con người đã đạt được bày đáp án nhóm khác - Sử dụng có hiệu quả
trong việc bảo vệ và cải tạo môi bổ sung.
nguồn tài nguyên.
trường?
- Pháp lệnh bảo vệ sinh
- HS kể thêm:
- Em hãy cho biết tình hình ô + Phủ xanh đồi trọc.
vật.
- Học bài kết hợp vở ghi và SGK
- Trả lời các câu hỏi và bài tập từ 1-2 Tr. 160
- Tìm hiểu: Ô nhiễm môi trường là gì? Các tác nhân chủ yếu gây ô nhiễm.
- Hướng dẫn câu 2: Con người từ khi xuất hiện trên trái đất cho đến nay đã không
ngừng tác động vào thiên nhiên, làm biến đổi thiên nhiên.
Thời kì nguyên thuỷ, con người sống hoà đồng với tự nhiên, họ sống chủ yếu
bằng hình thức săn bắn và hái lượm, nên làm nguồn tài nguyên thiên nhiên không hề suy
giảm. Chỉ khi con người tìm và biết dùng lửa mới gây ra hậu quả nghiêm trọng tới rừng
(cháy rừng) làm giảm số lượng các loài trên Trái Đất.
Ở xã hội nông nghiệp, do nhu cầu ăn, ở, dùng đất canh tác, chăn nuôi, nên diện
tích rừng bị thu hẹp, làm thay đổi tầng nước mặt, đất trở lên khô cằn.
Sang xã hội công nghiệp, máy móc ra đời đã tác động quá mạnh mẽ tới môi
trường sống. Việc cơ giới hoá đã tạo ra nhiều vùng đất trồng trọt, các ngành công nghiệp
khai khoáng phát triển, đô thị hoá ngày càng tăng đã lấy đi nhiều vùng đất tự nhiên và
đất trồng trọt, làm suy giảm môi trường, gây ô nhiễm môi trường do tích tụ của một số
chất phế thải, những chất độc hại đã gây ra những hậu quả đáng sợ về mặt sinh thái và rễ
gây mất cân bằng sinh thái.
5. Kết quả đạt được
- Cùng một nội dung kiểm tra sau khi học xong tôi đã tiến hành kiểm tra trên 2 lớp 9A
và 9B , trình độ của 2 lớp đồng đều như nhau.
- Lớp 9A dạy theo phương pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường như đã trình bày ở
trên thì thấy không khí làm bài tốt hơn phát huy được tính tự giác, tích cực, tự lực, tính
chủ động, sáng tạo của học sinh. Học sinh tự vận dụng kiến thức thực tế vào bài học, và
tự đề ra được nhiều phương pháp để bảo vệ môi trường, vì vậy các em đều làm được bài
và nắm vững hơn, tạo ra hứng thú, HS hình thành được các năng lực tự học, tự quản lí,
năng lực tư duy, phát triển được ngôn ngữ giao tiếp, yêu thích môn học.
- Lớp 9B tiến hành dạy học bằng sự kết hợp các phương pháp dạy học, ít có sự tích hợp
với giáo dục môi trường, không khí làm bài căng thẳng, kém hào hứng, số em làm được
17
SL %
Trung bình
Yếu
Sl
%
Sl
%
Sl
%
9A (39)
10
25.6
20
51.3
9
tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, các em biết vận dụng những kiến thức đã được
học và sự liên hệ của chính bản thân mình vào việc bảo vệ môi trường được “Xanh –
Sạch - Đẹp” nên các em đã làm bài tốt hơn, hiểu sâu, nhớ lâu hơn.
- Qua đó thấy được sự cần thiết, tầm quan trọng của việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi
trường không những cho kết quả tốt hơn trong thực tế ở trường học, mà còn hiệu quả
hơn trong thực tiễn cuộc sống ở địa phương hay các em còn tuyên truyền rộng rãi về bảo
vệ môi trường…
⇒ Từ kết quả trên tôi thấy hình thức đổi mới kiểm tra đánh giá có ưu, nhược điểm:
5.1. Ưu điểm
- Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong Sinh học 9 đã phát huy được nội lực, tư
duy tích cực, độc lập, sáng tạo của HS trong quá trình vận dụng vào bài học.
- HS giải quyết thành công các vấn đề là động cơ trí tuệ kích thích trực tiếp lòng ham mê
học tập, đó chính là động lực của quá trình dạy học.
- Học sinh tự đánh giá, tự điều chỉnh vốn tri thức của bản thân là cơ sở hình thành
phương pháp tự học đó chính là động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững của mỗi cá
nhân trong cuộc sống.
- Giải quyết các vấn đề nhỏ vừa sức của học sinh được tổ chức thường xuyên trong quá
trình học tập, là phương thức để học sinh tiếp cận với xu hướng mới, hình thành và giải
quyết các vấn đề có nội dung khái quát rộng hơn.
- Giữa thày và trò có thông tin qua lại 2 chiều, từ đó thày hiểu rõ về tình hình học tập
của trò hơn và có phương pháp điều chỉnh thích hợp.
- Phương pháp này rất thích hợp với mọi đối tượng HS, từ đó phát hiện và phân loại
được từng đối tượng học sinh. Từ đó giáo viên kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với từng
19
đối tượng học sinh và uốn nắn cũng như giao bài tập phù hợp với từng đối tượng học
sinh, có như vậy mới có thể đạt được kết quả cao trong dạy học.
5.2. Hạn chế
- Khó biên soạn, mất nhiều thời gian, khó khăn trong đo lường khả năng sắp xếp, lập
bằng hoạt động thực tiễn về thiên nhiên, về môi trường, phát triển năng lực giải quyết
các vấn đề gặp phải, rèn luyện khả năng tư duy, óc sáng tạo một phẩm chất không thể
thiếu của người lao động trong xã hội ngày nay.
- Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong Sinh học giúp cho GV và HS nhìn lại kết
quả dạy và học sau từng phần kết quả học tập của HS có tác dụng củng cố, mở rộng
những điều đã học và thúc đẩy HS học tập tốt hơn khi tiếp tục học sang các phần mới.
Qua đó tôi thấy nếu GV tích cực sử dụng phương pháp này sẽ nâng cao được chất lượng
giáo dục, bởi thông qua phương pháp dạy học này đã rèn cho các em phương pháp tự
học, tự nghiên cứu, khả năng tư duy sáng tạo, cách thức trình bày một vấn đề, tích cực
trong hoạt động vận dụng kiến thức. Nội dung kiến thức sẽ được các em hiểu sâu và nhớ
lâu hơn bởi kiến thức mà các em có được là do tự mình vận động và xuyên suốt quá
trình học để làm bài.
- Trong quá trình thực hiện sẽ gặp không ít những khó khăn, vướng mắc đòi hỏi GV
cũng như HS phải quyết tâm thực hiện vì mục tiêu bảo vệ môi trường xanh, sạch đẹp,
đồng thời nâng cao chất lượng dạy và học. Mặc dù có nhiều cố gắng song chắc chắn
chuyên đề mà tôi đã nghiên cứu không tránh khỏi những hạn chế, rất mong được sự góp
ý của các cấp lãnh đạo, tổ chuyên môn và đồng nghiệp.
2. Khuyến nghị
- Các cấp lãnh đạo cần quan tâm đến đội ngũ giáo viên giảng dạy bộ môn sinh học ở
bậc THCS, xây dựng phòng bộ môn đạt chuẩn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảng
dạy của giáo viên.
- Đầu tư kinh phí, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng trực quan, mẫu vật để giáo viên đổi
mới phương pháp được thuận lợi.
21
- GV tích cực sử dụng, khai thác có hiệu quả đồ dùng dạy học đặc biệt các phương tiện
dạy học tiên tiến hiện đại (giáo án điện tử), với phương tiện này có thể giúp giáo viên
đưa ra các câu hỏi, tranh ảnh, bảng phụ, một đoạn phim về môi trường dễ dàng cho HS
quan sát rồi hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động khám phá.