Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản ở công ty ở công ty xuất nhập khẩu VIPEX - Pdf 52

LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới đang ra sức
đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh
tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng về xuất khẩu đồng thời
thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm sản xuất trong nước có hiệu
quả.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần khẳng định tầm quan trọng
đặc biệt của công tác xuất khẩu và coi đó là 1 trong 3 chương trình kinh
tế lớn phải tập trung thực hiện, có đẩy mạnh xuất khẩu, mở cửa ra thế
giới bên ngoài Việt Nam mới có điều kiện thực hiện thắng lợi các mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội, ổn định đời sống nhân dân, bắt kịp nền
kinh tế thế giới.
Với một nền kinh tế 70% dân số sống bằng nghề nông, Việt Nam
xác định mặt hàng xuất khẩu chủ lực là các sản phẩm nông nghiệp, bất
cứ nông sản nào cũng có thể xuất khẩu để đổi lấy ngoại tệ tạo vốn đầu
tư nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại phục vụ cho quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà.
Tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế, Công ty xuất nhập
khẩu VIPEX cũng góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nước nhà, đồng thời cũng tìm ra cho mình một lĩnh vực kinh
doanh đầy hấp dẫn, đó là xuất khẩu các mặt hàng nông sản.
Hoạt động xuất khẩu nông sản của Công ty những năm qua có khá
nhiều tiến bộ, song bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một vài
khó khăn trong khâu tìm nguồn hàng, tìm thị trường xuất khẩu, dự trữ,
bảo quản hàng hoá, ổn định tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản hàng
năm...
Xuất phát từ thực tiễn trên tôi quyết định chọn đề tài: “THỰC
TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN Ở CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU VIPEX ”
Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung Bỏo cỏo thực tập được chia
làm 3 chương :
1

này, hạn chế tới mức thấp nhất hiện tượng tranh mua, tranh bán.
Công ty xuất nhập khẩu VIPEX ra đời trong hoàn cảnh đó, nhận nhiệm vụ
trước Bộ Ngoại thương góp phần giải quyết vấn đề trên bằng các biện pháp kinh
tế để thu hút được các đầu mối đã bung ra nhằm tập trung về một mối.
Công ty xuất nhập khẩu VIPEX được chính thức thành lập ngày
15/12/1990 theo Quyết định số 1356/TCCB của Bộ ngoại thương (nay là Bộ
Thương mại).
Đặt trụ sở tại số 3 Xó Đàn - Quận Đống Đa - Hà Nội.
Công ty trực thuộc Bộ Thương mại, hoạt động theo chế độ hạch toán kinh
doanh, có tư cách pháp nhân, vốn và tài khoản riêng tại Ngân hàng.
Quá trình phát triển của Công ty xuất nhập khẩu VIPEX kể từ ngày thành
lập tới nay có thể chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn I: Từ 15/12/1990 đến cuối 1995
Đây là giai đoạn đầu của Công ty với một biên chế gồm 50 cán bộ công
nhân viên có trình độ nghiệp vụ còn thấp, tư tưởng nhận thức chưa được đổi
mới, thiếu năng động, chờ văn bản, chờ cơ sở tự đến với mình. Cơ sở vật chất
3
nghèo nàn, vốn liếng ban đầu chỉ có gần 700.000.000 đồng.
Lúc này mối quan hệ của Công ty với các đơn vị cơ sở chưa được xác lập,
đối với nước ngoài tên tuổi Công ty còn quá mới mẻ.
Thời kỳ này Công ty đang chập chững, dò bước đi sao cho đúng hướng.
Công ty nhận thức vấn đề cốt lõi là phải ổn định tổ chức, tự bồi dưỡng, đào tạo
cán bộ, bên cạnh đó gửi cán bộ đi đào tạo trong và ngoài nước. Công ty đặt
nhiệm vụ phải xây dựng một quỹ hàng hoá phong phú, đa dạng vì đó cũng là
tiền, là vốn, có như vậy mới đủ sức lực cho Công ty phát triển.
Giai đoạn II: Từ năm 1996 đến cuối 2000.
Giai đoạn này Công ty đã đào tạo, bồi dưỡng được một đội ngũ cán bộ kinh
doanh vững mạnh và một tổ chức tương đối hợp lý. Số cán bộ công nhân viên
của Công ty là 200 người, trong đó có trên 60% đã qua đại học, cao đẳng. Công
ty tập trung xây dựng một số vấn đề được xem là trọng điểm, đó là vấn đề

1992 71.889.790
1993 93.940.183
1994 2.624.995
1995 81.109.952
1996 852.835.115
1997 2.294.617.070
1998 2.084.271.142
Tổng cộng 5.487.462.451
Tuy nhiên, trong thời kỳ này Công ty gặp nhiều khó khăn, Nhà nước nợ
đọng vốn của Công ty từ 1992 - 1997 là tiền Công ty ứng trước để nhập nguyên
liệu cho sản xuất 2,5 triệu USD, tiền hàng Công ty tham gia giao lạc, cà phê cho
Liên Xô cũ, Đông Âu theo Nghị định thư trị giá 4,5 triệu Rúp, chênh lệch do
điều chỉnh giá gần 1 tỷ đồng không được giải quyết.
Giai đoạn III: từ 2001 đến nay.
Ngày thành lập Công ty vốn lưu động chỉ có gần 700.000.000 đồng, đến nay
đã có gần 40 tỷ đồng. Công ty luôn đảm bảo được đời sống cho cán bộ công
nhân viên, tiền lương không ngừng tăng lên. Trong năm 2001, Công ty đã có
quan hệ giao dịch với gần 30 thị trường nước ngoài, trong đó có quan hệ mua
bán thực sự là 25 thị trường. Có những thị trường lớn như Hàn Quốc, Đài Loan,
Nhật, Singapore, Indonesia, Maylaysia, Thái Lan, Anh, Pháp, Hà Lan, Italia,
Hungarie.
5
BIỂU SỐ 3: TỔNG KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨU
CỦA CÔNG TY GIAI ĐOẠN 2001 - 2009
Năm Kim ngạch XNK thực hiện (USD) Mức tăng
(%)
Mức hoàn thành kế hoạch
Bộ giao (%)
2001 40.655.000 91,5 102
2002 27.021.000 68,4 100

động công tác trong từng kỳ kế hoạch (quí, năm). Điều tiết vốn nhằm mục tiêu
kinh doanh có hiệu quả nhất, quay vòng nhanh.
3. Khối phục vụ:
- Phòng hành chính: phục vụ nhu cầu văn phòng phẩm của Công ty, bảo
đảm công tác lễ tân, bảo quản quản lý tài sản của Công ty và của cán bộ công
nhân viên trong giờ làm việc, sửa chữa lớn, sửa chữa thường xuyên tài sản.
- Phòng kho vận: quản lý kho và phương tiện cho thuê, chuyên chở, đảm
bảo kho hàng và xuất nhập chính xác.
4. Khối kinh doanh gồm các phòng nghiệp vụ:
- Phòng nghiệp vụ 1, 5, 6, 7 : Kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp.
- Phòng nghiệp vụ 2 : Chuyên nhập khẩu.
- Phòng nghiệp vụ 3 : Chuyên gia công hàng xuất khẩu.
- Phòng nghiệp vụ 4 : Chuyên lắp ráp xe máy.
- Các liên doanh:
+ Công ty TNHH Phát triển Đệ Nhất tại 53 Quang Trung - Hà Nội.
+ Liên doanh chế biến gỗ Đà Nẵng.
- Cửa hàng:
Cửa hàng giới thiệu sản phẩm 28 Trần Hưng Đạo và 46 Ngô Quyền.
- Hệ thống chi nhánh:
+ Chi nhánh tại Hải Phòng.
+ Chi nhánh tại Đà Nẵng.
+ Chi nhánh tại TP - HCM.
- Hệ thống các cơ sở sản xuất:
+ Xí nghiệp may Hải Phòng.
+ Xưởng lắp ráp xe máy ở Tương Mai - Hà Nội.
+ Xưởng sản xuất và chế biến gỗ thuộc phòng nghiệp vụ 6 tại Cầu Diễn
7
- Từ Liêm - Hà Nội.
Công ty đã có một bộ máy tổ chức khá hoàn chỉnh, có tương đối đầy đủ các
phòng ban. Tuy nhiên, phân công chuyên môn hoá chưa được quán triệt, nhất là

năng cung ứng dồi dào, nguồn vốn đầu tư lại không nhiều. Vấn đề hiện nay của
Công ty là nghiên cứu đầu vào, đầu ra hợp lý, đảm bảo hàng của Công ty được
thị trường chấp nhận và tiếp nhận ngày càng nhiều, có khả năng cạnh tranh với
các đơn vị khác, cũng như với các nước xuất khẩu nông sản khác trên thế giới.
4-/ Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty:
Từ năm 2006 trở lại đây, hoạt động kinh doanh của Công ty diễn ra tương
đối thuận lợi. Nền kinh tế mở đã tạo điều kiện cho Công ty mở rộng buôn bán.
Tuy nhiên, tình hình cạnh tranh gay gắt giữa các Công ty xuất nhập khẩu làm
công tác xuất nhập khẩu đặt ra một thử thách lớn, buộc Công ty phải xây dựng
cho mình một chiến lược kinh doanh hướng vào thị trường với đầu vào và đầu ra
hợp lý, lại phải phù hợp với thế và lực của Công ty.
Trên cơ sở đó, ban lãnh đạo Công ty Xuất nhập khẩu VIPEX nhận định
chiến lược kinh doanh của Công ty là đa dạng hoá mặt hàng và phương thức
kinh doanh, không ngừng tận dụng và tìm hiểu thời cơ, xây dựng củng cố địa
bàn kinh doanh cũ, chủ động tìm bạn hàng mới.
Từ năm 2006, Công ty đã có những bước tiến đáng khích lệ thể hiện qua biểu sau:
9
BIỂU SỐ 6: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA CÔNG TY GIAI ĐOẠN 2006 - 2009
Năm
Chỉ tiêu
Đơn vị tính 2006 2007 2008 2009
Tỷ lệ %
2007/2006 2008/2007 2009/2008
Tổng kim ngạch XNK 1000 USD 56.611 63.356 78.433 64.449 89,35 123,80 82,17
Xuất khẩu 1000 USD 23.909 23.538 32.587 23.083 98,45 138,44 70,83
Nhập khẩu 1000 USD 32.702 39.818 45.846 41.366 121,76 115,14 90,23
Doanh thu từ h/đ SXKD triệu đồng 273.441 317.280 330.350 357.220 116,03 104,12 108,13
Lợi nhuận triệu đồng 4.800 5.321 5.768 5.411 110,9 108,4 93,8
Lợi nhuận/Doanh thu % 0,57 0,49 0,43 0,42 - - -

1-/ Những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động xuất khẩu của Công ty:
1.1-/ Thuận lợi:
* Về công tác tổ chức cán bộ: là một Công ty có truyền thống làm ăn
nghiêm túc, Công ty luôn quan tâm đến công tác tổ chức cán bộ với ý thức con
người là nhân tố quyết định tất cả.
Trước hết, Công ty chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng để các
Cán bộ công nhân viên thấy hết những thuận lợi - khó khăn khách quan và chủ
quan, từ đó thấy được trách nhiệm của bản thân trong việc xây dựng Công ty,
giáo dục sự gắn bó với Công ty. Bên cạnh công tác chính trị tư tưởng là những
việc làm thiết thức tạo công ăn việc làm cho các cán bộ, chăm lo xây dựng đoàn
kết nội bộ. Công ty luôn quan tâm đến công tác đào tạo và đào tạo lại cán bộ, có
chương trình rõ ràng, dành chi phí hợp lý cho đào tạo, kết hợp đào tạo chính quy
trong nước với đào tạo ở nước ngoài. Đến năm 2009 đã có 118 lượt người được
đào tạo mới về vi tính, ngoại ngữ và nghiệp vụ.
* Về phương thức kinh doanh: kinh doanh và hiệu quả kinh doanh đóng vai
trò quyết định sự tồn tại và phát triển của Công ty. Công ty quan tâm đến việc đa
dạng hoá kinh doanh, đón trước những lĩnh vực có hiệu quả về mặt xã hội và
kinh tế. Ví dụ như ngoài các mặt hàng nông sản chủ lực lạc, cà phê, hạt tiêu, cao
su, Công ty còn mở rộng xuất khẩu thêm cả các mặt hàng như chè, ngô, dầu lạc,
mây tre, cói, gạo, sắn,...là những mặt hàng không có hiệu quả kinh tế xã hội cao
nhưng đã góp phần tạo công ăn việc làm cho hàng vạn người và đem lại một
khoản lợi nhuận không nhỏ. Từ lĩnh vực xuất nhập khẩu, Công ty nhanh chóng
mở rộng thêm hoạt động đầu tư vào ngân hàng (EIB), sản xuất hàng xuất khẩu,
kinh doanh địa ốc, kinh doanh dịch vụ, phương châm kinh doanh là bám vào
nhu cầu thị trường trong và nước ngoài, bám vào nhu cầu khách hàng tạo ra
những mặt hàng truyền thống và bạn hàng tin cậy.
12
* Đa dạng hoá hoạt động kinh doanh sản xuất, xuất nhập khẩu và làm dịch
vụ trên cơ sở tính toán năng lực quản lý trình độ cán bộ và hiệu quả công việc.
Trong những năm qua, Công ty đã đề ra chủ trương và biện pháp cụ thể để đẩy

mà kinh doanh quy mô lớn có hiệu quả không thể dựa trên triết lý kinh doanh
13
theo kiểu "thương vụ" đơn thuần.
Nhiều mặt hàng xuất khẩu khác đều giảm về số lượng và trị giá như: hạt
điều, tờ tằm, sản phẩm từ tơ tằm, hàng gia công may mặc,... thậm chí có mặt
hàng không có thị trường tiêu thụ như ngô. Công ty bị mất nhiều bạn hàng kinh
doanh truyền thống lâu năm.
Thêm vào đó, thị trường trong nước sức mua giảm do khả năng thanh toán
hạn hẹp, do vậy nhiều mặt hàng tồn đọng lớn, tiêu thụ chậm, ảnh hưởng đến
kinh doanh hàng nhập khẩu. Trong khi đó kinh doanh hàng xuất khẩu cạnh tranh
gay gắt trong nước, giá biến động mạnh nhiều hơn cả giá ngoại, ngoài nước
khách hàng lợi dụng ép giá bất lợi trong giao dịch. Hiện tượng gian lận thương
mại mặc dầu Nhà nước tìm cách hạn chế đã giảm nhưng vẫn còn gây hậu quả
xấu.
* Năm 2004, Công ty còn có một khó khăn lớn là đến hạn góp vốn cho liên
doanh 53 Quang Trung bằng 11 tỷ đồng, đầu tư xây dựng số 7 Triệu Việt Vương
và đầu tư vốn cho hoạt động tài chính. Trong công tác tổ chức cán bộ vẫn nổi
cộm vấn đề chất lượng cán bộ đáp ứng yêu cầu kinh doanh xuất nhập khẩu còn
chưa nhiều, số cán bộ có trình độ quản lý các mặt hàng xuất khẩu kinh doanh
còn thiếu và yếu.
* Hiện nay trên cả nước có hơn 2000 doanh nghiệp được phép xuất nhập
khẩu trực tiếp. Các Tổng công ty này chi phối sản xuất - lưu thông hầu hết các
mặt hàng xuất nhập khẩu lớn như: Gạo, cà phê, cao su, hải sản, may mặc, phân
bón, sắt thép, ximent,... trong đó có nhiều mặt hàng thuộc danh mục kinh doanh
của Công ty. Sự cạnh tranh không chỉ diễn ra ở thị trường xuất khẩu mà cả ở thị
trường tạo nguồn. Số lượng nhà xuất khẩu tăng dẫn đến tình trạng hỗn loạn trên
thị trường, khi có nhu cầu xuất khẩu thì tranh nhau mua và tranh nhau xuất
khẩu. Trong đó cũng phải kể đến sự kém chất lượng do cố ý của một số lô hàng
xuất khẩu tạo ra nhiều mức giá, làm cho người nhập khẩu ở nước ngoài nghi ngờ
chất lượng hàng Việt Nam và sự khác biệt của nhiều mức giá đối với cùng một

thực hiện
Tỷ lệ %
Giá trị thực
hiện
Tỷ lệ %
Giá trị thực
hiện
Tỷ lệ %
1 Lạc nhân 3.342.427 48,19 1.857.443 28,03 1.234.800 20,31
2 Cà phê 876.500 12,64 1.437.255 21,69 1.227.732 20,20
3 Cao su 986.200 14,22 1.215.600 18,34 1.507.839 24,80
4 Hạt tiêu 1.230.487 17,74 1.437.975 21,70 1.201.506 19,76
5 Hạt điều 500.000 7,21 678.924 10,24 907.312 14,93
Tổng cộng 6.935.614 100 6.627.197 100 6.079.189 100
Từ năm 2007 đến nay, kết quả xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ
yếu của Công ty có những thay đổi mạnh mẽ. Năm 2009, tổng giá trị xuất khẩu
nông sản là 6.079.189 USD, đã giảm đi 856.425 USD so với năm 2007 là
6.935.614 USD (tương đương với 12,35%). Như vậy là có sự giảm sút đáng kể
trong hoạt động xuất khẩu nông sản của Công ty từ năm 2007 đến 2009. Giá trị
xuất khẩu đang từ 6.935.614 USD năm 1999 giảm xuống còn 6.627.197 USD
15
năm 2008, rồi tiếp tục xuống còn 6.079.189 USD năm 2009, điều này ảnh
hưởng không nhỏ tới hiệu quả kinh doanh của toàn Công ty. Qua đánh giá tổng
kết các năm cho thấy nguyên nhân chính làm tổng giá trị xuất khẩu nông sản
giảm sút rõ rệt là do mặt hàng lạc nhân gây ra vì mặt hàng này giảm mạnh cả về
giá trị lẫn tỷ trọng trong cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu, trong khi đó các mặt
hàng cà phê, cao su, tiêu hạt điều đều tăng lên cả về tỷ trọng và giá trị thực hiện
nhưng vẫn chỉ chiếm phần nhỏ trong cơ cấu nông sản xuất khẩu.
Năm 2007, giá trị xuất khẩu lạc nhân là 3.342.427 USD gần bằng 2 lần giá
trị xuất khẩu năm 2009 và tỷ trọng đang từ 48,19% (năm 2007) xuống còn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status