skkn một số GIẢI PHÁP GIÚP đở học SINH CHƯA HOÀN THÀNH học tốt môn TOÁN lớp 2 - Pdf 52

PHÒNG GDĐT CHÂU PHÚ
TRƯỜNG TH A ĐÀO HỮU CẢNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Châu Phú, ngày 18 tháng 12 năm 2018

BÁO CÁO
KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI :MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP ĐỞ HỌC SINH CHƯA HOÀN THÀNH
HỌC TỐT MÔN TOÁN LỚP 2
I. SƠ LƯỢC LÝ LỊCH TÁC GIẢ:
- Họ và tên:

VÕ VĂN TỐT

- Ngày, tháng, năm sinh:

20/06/1967

Nam

- Nơi thường trú: Ấp Hưng Lợi, xã Đào Hữu Cảnh,huyện Châu Phú,tỉnh An Giang.
- Đơn vị công tác:

Trường Tiểu học A Đào Hữu Cảnh

- Chức vụ hiện nay:

Giáo Viên lớp 2



MÔN TOÁN LỚP 2

- LĨNH VỰC: GIẢI PHÁP TÁC NGHIỆP (GIẢNG DẠY)
III. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN:
Trong những năm qua,toàn Đảng,toàn dân hay toàn xã hội đang quan tâm rất
nhiều đến tình hình học tập của học sinh và chất lượng giáo dục của các trường.Với
nhiều văn bản hướng dẫn chỉ đạo của ngành giáo dục làm sao nâng cao được chất
lượng học tập của học sinh,phòng chống các bệnh tiêu cực trong thi cử và bệnh thành
tích trong giáo dục.
Đã có nhiều văn bản hướng dẫn và chỉ đạo khắc phục tình trạng học lên lớp non
hay ngồi sai lớp.Nhiều văn bản hướng dẫn chỉ đạo xây dựng trường học thân thiện học
sinh tích cực, không để học sinh bên lề lớp học.
Chúng ta phải nhìn nhận một quy luật tất yếu là: Học sinh có học lực chưa hoàn
thành thì dẫn đến việc chán học rồi bỏ học.Nếu một lớp học có nhiều học sinh chưa
hoàn thành thì ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục của một trường;một huyện
có nhiều trường có học sinh chưa hoàn thành thì ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo
dục của một huyện;…... Vậy tương lai của đất nước chúng ta sẽ ra sao? Từ đó, qua
nhiều năm giảng dạy và đúc kết được một số kinh nghiệm khắc phục tình trạng chưa
hoàn thành của học sinh. Đó là " Một số biện pháp giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành
học tốt môn toán lớp 2".
1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến:
Hiện nay, tôi đang công tác tại Đào Hữu Cảnh là một xã vùng trong,vẫn còn là
một vùng đặc biệt khó khăn. Đời sống nhân dân ở đây còn quá nhiều khó khăn, do lo
toan cuộc sống mà nhiều phụ huynh đã phó mặc việc học tập của con em họ cho giáo
viên đứng lớp chúng tôi.Họ không cần quan tâm con em mình học tập như thế nào? Đó
là vấn đề đưa đến tình trạng học chưa hoàn thành của học sinh, đặc biệt là học sinh ở
lớp 2. Các em còn nhỏ, không được sự nhắc nhở của gia đình, các em ham chơi, hay
nghỉ học, hay không chịu tự rèn luyện thêm ở nhà thì lẽ đương nhiên là các em sẽ trở
thành học sinh chưa hoàn thành.

SL HS CHT

TL %

28
29
29

Toán
6
5
4

21, 4 %
17,24 %
13,79%

Đây là những con số không hề nhỏ đối với một lớp học so với tỉ lệ học sinh lưu
ban và bỏ học theo kế hoạch 54 của UBND Huyện châu phú tỉ lệ lưu ban là 3% và bỏ
học 2% Đây là con số đáng báo động, tỉ lệ lưu bang rất cao.Vậy nguyên nhân của thực
trạng này là gì?
1.2/ Nguyên nhân dẫn đến học sinh chưa hoàn thành
- Các em chưa có ý thức tự học, còn ham chơi mà gia đình thiếu quan tâm đến
việc học của các em.
- Phương pháp giảng dạy, giáo dục của giáo viên chưa phù hợp với đối tượng
học chưa hoàn thành nên các em không tiếp thu bài kịp. Và cá biệt còn vài học sinh
không đi học đều nên tiếp thu bài không kịp. Từ đó dẫn đến các em bị hỏng kiến thức.
- Nền nếp học tập chưa tốt, các em còn lơ là trong học tập ảnh hưởng đến việc
tiếp thu bài của các em.
- Giáo viên chưa đầu tư cho việc soạn giảng sao cho phù hợp với đối tượng học

Đó là nhờ những năm qua, tôi luôn theo dõi và tận tình hướng dẫn cho các em
học theo phương pháp mới. Tôi nhận thấy chương trình Toán lớp 2 các em thường
vướng mắc ở các chương: “ Phép cộng có nhớ, phép trừ có nhớ trong phạm vi 100,
tìm một thành phần của phép cộng, trừ, nhân, chia( tìm x ), giải toán có lời văn, …
”. Tôi đã áp dụng một số biện pháp để giúp các em chưa hoàn thành học tốt hơn trong
quá trình học tập. Qua thực nghiệm, các em có tiến bộ và có kết quả khả quan ở cuối
năm. Từ những lý do trên, tôi đã mạnh dạn chọn viết cho mình sáng kiến kinh nghiệm
với đề tài : “PHƯƠNG PHÁP GIÚP ĐỠ HỌC SINH CHƯA HOÀN THÀNH HỌC
TỐT MÔN TOÁN LỚP 2 ”. Đề tài này nhằm để góp phần nâng cao chất lượng môn
Toán ở lớp tôi nói riêng và của khối 2 nói chung, đồng thời cũng là tư liệu cho tôi dạy
tốt vào những năm tiếp theo.
3. NỘI DUNG SÁNG KIẾN:
3.1/ Cơ sở lí luận:
Qua các kì họp của Quốc Hội đều nhắc đến tình hình chất lượng giáo dục của
nước ta còn nhiều hạn chế. Tình trạng chưa hoàn thành của học sinh chưa được khắc
phục triệt để. Và sắp tới đây, đất nước ta lại tiếp tục thay đổi sách giáo khoa để công
tác giáo dục ngày càng hoàn thiện hơn, học sinh được giáo dục toàn diện hơn. Không
còn hiện tượng học sinh chưa hoàn thành. Vậy học sinh chưa hoàn thành là gì ?
4


3.1.1/ Khái niệm :
a/ Học sinh chưa hoàn thành toàn diện : Là những học sinh không hoặc chưa
đạt được chuẩn kiến thức kĩ năng của tất cả các môn học. Thể hiện rõ qua các lần kiểm
tra, nếu các môn đánh giá bằng điểm số thì chỉ đạt được từ 1 đến 4 điểm. Các môn
đánh giá bằng nhận xét thì chưa hoàn thành.
b/ Học sinh chưa hoàn thành từng môn : Là những học sinh không hoặc chưa
đạt được chuẩn kiến thức kĩ năng của một hoặc hai, ba,… môn học nào đó. Thể hiện rõ
qua các lần kiểm tra, nếu các môn đánh giá bằng điểm số thì chỉ đạt được từ 1 đến 4
điểm. Các môn đánh giá bằng nhận xét thì chưa hoàn thành.

nhiều nguyên nhân: Do giáo viên không có phương pháp giảng dạy phù hợp, do ảnh
hưởng của gia đình, do chủ thể các em, do tác động của xã hội...
5


Qua nghiên cứu và theo dõi tôi nhận thấy học sinh học chưa hoàn thành Toán do
các nguyên nhân trên nhưng hai nguyên nhân tác động mạnh mẽ nhất dẫn đến tình
trạng học sinh học chưa hoàn thành là :
+ Các em chưa có ý thức tự học, còn ham chơi mà gia đình thiếu quan tâm đến
việc học của các em.( Trường hợp này có khoảng 6 em )
+ Phương pháp giảng dạy, giáo dục của giáo viên chưa phù hợp với đối tượng
học chưa hoàn thành nên các em không tiếp thu bài kịp. Và cá biệt còn vài học sinh
không đi học đều nên tiếp thu bài không kịp. Từ đó dẫn đến các em bị hỏng kiến thức..
Nên các em chưa thể tiến bộ được. ( Trường hợp này có khoảng 7 em )
Để khắc phục những nguyên nhân trên nhằm giúp các em học tập tốt hơn thì cần
phải có những điều kiện sau:
- Cần được sự quan tâm của mọi người : Thầy cô,người thân và gần gũi nhất là
bạn bè cùng học một lớp .
- Dụng cụ học tập và phương tiện học tập phải đầy đủ hỗ trợ tốt cho học tập.
- Môi trường sống cần trong sáng, lành mạnh nhằm đảm bảo phát triển trí tuệ và
có nhiều thói quen tốt hơn.
- Giáo viên chủ nhiệm phải cải tiến phương pháp giảng dạy để tạo sự hứng thú
trong học tập cho các em, đồng thời thường xuyên quan tâm hướng dẫn các em biết
cách học tập một cách khoa học sẽ mang lại nhiều hiệu quả hơn.
3.2.2/ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
3.2.2.1/ Kết hợp với cha mẹ, ông bà của học sinh để tìm biện pháp thích hợp
nhằm giúp các em học tập tiến bộ.
a. Mục tiêu:
Thời gian học tập trên lớp của các em chỉ chiếm khoảng 1/3. 2/3 thời gian còn
lại là các em ở nhà. Gia đình đóng vai trò rất lớn trong quá trình tự học của các em. Do

giãn có trong tế.
Ví dụ: 3 ngón tay cộng 4 ngón tay được mấy tay? ( 7 ngón tay ). Sau khi học sinh nêu
đúng kết quả thì ta yêu câu các em viết phép tính hoặc nêu phép tính ( 3 + 4 = 7 )
d. Kết quả đạt được :
+ Đối với các em nghèo, cận nghèo thì ngoài việc được sự hổ trợ của Đảng và
Nhà nước, các mạnh thường quân, các em còn được Ban đại diện cha mẹ học sinh giúp
đỡ nên các em cũng đã có đầy đủ đồ dùng học tập. Các em có hứng thú trong học tập
và ham học hơn. Đi học thường xuyên hơn.
+ Đối với các em ham chơi, chưa có ý thức tự học, hay các em sống với ông bà
khi cha mẹ đi làm ăn xa thì nhờ có sự quan tâm của gia đình các em đã học bài và làm
bài đầy đủ trước khi đến lớp. Nhờ đó các em tiếp thu bài tốt hơn.
3.2.2.2/ Tìm hiểu, phân loại đối tượng học sinh chưa hoàn thành môn toán.
a. Mục tiêu:
- Nắm được chỗ hỏng kiến thức của từng em để có biện pháp khắc phục kịp thời.
b. Thực trạng:
Qua quá trình giảng dạy, tôi ghi nhận học lực môn toán của từng học sinh và tôi
chia ra thành 5 nhóm HS chưa hoàn thành :
- Nhóm 1: cộng,trừ,nhân,chia số tự nhiên
+ Khả năng cộng, trừ còn chưa hoàn thành: Khoảng 7 em
+ Khả năng nhân, chia ( trong bảng từ 2 đến 5 ) còn chưa hoàn thành: Khoảng 6
em
- Nhóm 2: Tìm thành phần chưa biết .
Tên gọi và cách tìm các thành của các phép tính cộng, trừ ,nhân, chia. Các em
thường lẫn lộn các tên gọi, không thuộc quy tắc : Khoảng 10 em.
- Nhóm 3 : Đại lượng và đo đại lượng.
+ Đổi đơn vị đo độ dài từ dm sang cm và ngược lại ; dm sang m và ngược lại ; m
sang cm và ngược lại; km sang m và ngược lại. Các em chưa ước lượng được độ dài
của các đơn vị đo dẫn đến đổi sai : Khoảng 5 em.
7



8


- GV hỏi 7 còn thiếu mấy mới được 10 ? ( thiếu 3 ) GV cho HS lên thao tác để
tìm ra kết quả.

- Bớt 3 hoa mai ở hàng 2 vào hàng 1 cho đủ 10, hàng 2 còn lại 2, 10 với 2 là 12.
Vậy 7 + 5 = 12.
- Dựa vào cách tính như trên, GV cho HS thành lập bảng cộng 7.

Các bảng 6, 8, 9 thực hiện tương tự như vậy .
Sau đây là một số hình ảnh minh họa về bảng cộng 9. Cách thực hiện tương tự
như bảng cộng 7. ( Lưu ý GV khi gắn cần thể hiện được ( 9 + 1 = 10 ) hoa cùng 1 màu,
số hoa còn lại gắn khác màu. ) GV có thể thay đổi số bông hoa bằng các vật khác như
quả cam, con ong, con bướm, … cho sinh động hơn, thu hút sự chú ý của các em.

Đây là cách giáo viên hướng dẫn học sinh chưa hoàn thành cách tính nhẫm khi
thực hiện phép cộng. Cá biệt nếu còn học sinh nào chưa nhẫm được thì giáo viên chỉ
mẹo thêm cho học sinh tính tay. Chẳng hạn : Khi yêu cầu học sinh tính 9 + 7 = ? thì
9


giáo viên chỉ cho học sinh đó thực hiện như sau : em nhớ là em đang có 9 chỉ cần đưa
ra 7 ngón tay nữa và đếm thêm cho đến hết số ngón tay thì dừng lại không đếm thêm
nữa. Học sinh bắt đầu đếm : 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16; vậy 9 + 7 = 16. Khi nào các em
quen thì giáo viên bắt đầu hướng học sinh vào cách tính nhẩm. Giáo viên hướng dẫn
học sinh đếm thêm 1 nữa là 10 còn lại 6 ngón tay; 10 cộng 6 bằng 16; vậy 9 + 7 = 16.
Một ví dụ nữa : Khi yêu cầu học sinh tính 8 + 6 = ? thì giáo viên chỉ cho học
sinh đó thực hiện như sau : em nhớ là em đang có 8 chỉ cần đưa ra 6 ngón tay nữa và

- Dựa vào cách tính như trên GV cho HS thành lập bảng trừ 14.

 Các bảng 11, 12, 13, 15, 16, 17, 18 thực hiện tương tự.
 Sau đây là một số hình ảnh minh họa thêm về bài 12 trừ đi một số: 12 – 5

Đây là cách giáo viên hướng dẫn học sinh cách tính nhẫm khi thực hiện phép
trừ. Cá biệt nếu còn học sinh nào chưa nhẫm được thì buộc lòng giáo viên chỉ mẹo cho
học sinh tính tay. Chẳng hạn : Khi dạy bài 13 – 7 = ? thì giáo viên chỉ cho học sinh đó
cách thực hiện như sau : em nắm tay lại rồi đếm thêm từ 7 đến 13 thì dừng lại, được
mấy ngón tay thì kết quả bằng mấy. Học sinh bắt đầu đếm : 8, 9, 10, 11, 12, 13 được 6
ngón tay; vậy 13 - 7 = 6.
Một ví dụ nữa : Khi dạy bài 12 – 5 = ? thì giáo viên chỉ cho học sinh đó cách
thực hiện như sau : em nắm tay lại rồi đếm thêm từ 5 đến 12 thì dừng lại, được mấy
ngón tay thì kết quả bằng mấy. Học sinh bắt đầu đếm : 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 được 7
ngón tay; vậy 12 - 5 = 7.
Các phép trừ 11, 14, 15, 16, 17, 18 giáo viên hướng dẫn học sinh chưa hoàn
thành thực hiện tương tự như vậy.
 Về phép cộng có nhớ trong phạm vi 100 :
+) Giai đoạn 1: Giới thiệu phép tính ( Chẳng hạn 29 + 13 = ? )và “cơ sở ”dẫn
đến “ quy tắc tính ”( thuật toán ), nhằm bước đầu giúp học sinh hiểu được vì sao có “
quy tắc tính ”đó. Trong SGK “ Cơ sở thuật toán ”được thể hiện qua hình ảnh minh họa
các thao tác trên que tính.
+) Giai đoạn 2: Hình thành “ Quy tắc tính ”gồm hai bước : Đặt tính và tính. Yêu
cầu học sinh biết cách thực hiện phép tính và thuộc quy tắc tính. Thường xuyên cho
học sinh nhắc lại quy tắc tính để kịp thời uốn nắn, sửa chữa.
Ví dụ thể hiện như sau :
2 9 * 9 cộng 3 bằng 12, viết 2, nhớ 1.
+
1 3 * 2 cộng 1 bằng 3, thêm 1 bằng 4, viết 4.
42

học tập.
Nếu em nào còn chưa thực hiện được tốt ở buổi sáng tôi tiếp tục gọi em đó lên
vào buổi chiều để uốn nắn thêm theo các cách đã nêu trên. Tôi cho em tự tính, và khi
nào thấy sai thì tôi mới nhắc nhở. Mặc dù cách này rất mất thời gian nhưng hiệu quả
rất cao.
 Về phép trừ có nhớ trong phạm vi 100 :
Chẳng hạn với phép trừ : 51 – 15, ta cũng thực hiện qua 3 giai đoạn. ( Giai đoạn
1, giai đoạn 3 thực hiện tương tự như trên ).
+) Giai đoạn 2 : Tôi hướng dẫn :
Ví dụ :
* 1 không trừ được 5, lấy 11 trừ 5 bằng 6, viết 6, nhớ 1
- 5 1
1 5 * 1 thêm 1 bằng 2, 5 trừ 2 bằng 3, viết 3.
36
Thực tế vẫn còn một số học sinh lúng túng nên tôi hướng dẫn thêm :
- Hướng dẫn học sinh nhận ra chữ số ở hàng đơn vị của Số bị trừ có nhỏ hơn chữ
số ở hàng đơn vị của số trừ hay không ?
- Nếu nhỏ hơn thì trừ không được, ta phải mượn 10 và cộng với chữ số đã cho
( Nói ngắn gọn theo SGK là “ Lấy ”) .
Ví dụ :
51
* 1 không trừ được 5, lấy 11 trừ 5 bằng 6, viết 6, nhớ 1
15
12


36
Hay :
34
* 4 không trừ được 8, lấy 14 trừ 8 bằng 6, viết 6, nhớ 1

+ Đối với các em khả năng nhân , chia còn chưa hoàn thành . GV cần dạy tốt và
có các mẹo làm toán chỉ riêng cho từng học sinh chưa hoàn thành học tốt các bài nhân,
chia trong bảng từ 2 đến 5 sau đây:
 Bảng nhân từ 2 đến 5 :
Khi dạy bài bảng nhân 2, 3, 4, 5 giáo viên chú ý hướng dẫn học sinh nắm vững
kiến thức bằng mô hình trực quan sinh động để học sinh chưa hoàn thành hiểu rõ ràng
phép nhân chính là phép cộng các số hạng giống nhau.
VD : Dạy bảng nhân 2
- GV đưa 1 tấm bìa có 2 hoa mai lên và hỏi HS: “ 2 hoa mai được lấy mấy lần ?
(2 hoa mai được lấy 1 lần ). Vậy thầy có phép nhân 2 x 1 = 2

13


- GV đưa tiếp 1 tấm bìa nữa và hỏi : “ 2 hoa mai được lấy mấy lần ” (2 hoa mai
được lấy 2 lần ). Vậy thầy có phép nhân 2 x 2 = 2 + 2 = 4 .

- GV đưa tiếp 1 tấm bìa nữa và hỏi : “ 2 hoa mai được lấy mấy lần ” (2 hoa mai
được lấy 3 lần ). Vậy thầy có phép nhân 2 x 3 = 2 + 2 + 2 = 6 .

- Thực hiện tương tự để có 2 x 7 = 2 + 2 + 2 + 2 + 2 + 2 + 2 = 14.
- Thực hiện tương tự để có 2 x 10 = 2 + 2 + 2 + 2 + 2 + 2 + 2 + 2 + 2 + 2= 20

* Các bảng nhân 3, 4, 5 thực hiện tương tự. Sau đây là một số hình ảnh minh
họa về cách dạy thành lập bảng nhân 3.

14


Khi học sinh đã thành lập được bảng nhân thì giáo viên tổ chức cho học sinh học

-GV thực hiện tương tự để có 3 x 4 = 12 – 12 : 3 = 4 ; 3 x 3 = 9 – 9 : 3 = 3
- Dựa vào cách tính trên GV cho HS tự đính các tấm bìa, nhẩm lại phép nhân
rồi tìm ra phép chia.

- GV tổ chức cho HS học thuộc bảng chia 3.

Các bảng chia 2 , 4 , 5thực hiện tương tự .
Nếu có cá biệt học sinh chưa hoàn thành nào còn chưa thuộc thì giáo viên chỉ
mẹo cho các em tính tay. Chẳng hạn : Khi yêu cầu các em nêu bảng chia 2 thì giáo
viên hướng dẫn các em như sau : em nắm bàn tay lại và đếm thêm 2, cứ mỗi ngón tay
là kết quả của phép chia 2. Học sinh đếm : 2, 4, 6, 8, 10, 12, 14, 16, 18, 20 và ứng với
ngón tay thứ mấy là kết quả của phép chia đó. Ví dụ : Đếm đến số 12 là ngón tay thứ
sáu thì em nói là 12 : 2 = 6.
Các bảng chia 3, 4, 5 giáo viên hướng dẫn tương tự. Đối với bảng chia 3 thì giáo
viên hướng dẫn các em đếm thêm 3, bảng chia 4 thì đếm thêm 4, bảng chia 5 thì đếm
thêm 5. Giáo viên cũng yêu cầu các em tập đếm thêm từ 2 đến 20, từ 3 đến 30, từ 4 đến
40, từ 5 đến 50.
Hoặc khi giáo viên dạy cho học thực hiện phép chia chẳng hạn : 16 : 4 = ? Nếu
các em chưa thuộc thì giáo viên hướng dẫn các em tính tay như sau : em nắm bàn tay
16


lại và đếm thêm 4 đến 16 thì ngưng không đếm nữa và được mấy ngón tay chính là kết
quả của phép chia 4. Học sinh đếm : 4, 8, 12, 16 được 4 ngón tay ; vậy 16 : 4 = 4.
Các phép chia 2, 3, 5 giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện tương tự. Đối với
phép chia 2 thì đếm thêm 2, phép chia 3 thì đếm thêm 3, phép chia 5 thì đếm thêm 5.
Để các em thành thạo hơn thì giáo viên yêu cầu các em tập đếm từ 2 đến 20, từ 3 đến
30, từ 4 đến 40, từ 5 đến 50.
* Đối với học sinh chưa hoàn thành nhóm 2:
GV cần tập trung làm tốt vấn đề sau :


g ) 7 x x = 28
x = 28 : 7
x=4

Nhân chuyển thành chia ) ( Nhân chuyển thành chia )

h) x : 6 = 5
x=5x6
x = 30
( Chia chuyển thành nhân )

* Đối với học sinh chưa hoàn thành nhóm 3:
 Đơn vị đo độ dài :
Chương trình lớp 2 chỉ dạy các đơn vị dm, m, km, mm kết hợp với lớp 1 các em
đã được học đơn vị cm thì trong phạm vi lớp 2 các em chỉ nắm được các đơn vị cm,
dm, m, km, mm. Đây là các đơn vị trừu tượng các em dễ nhầm lẫn. Khi dạy các đơn vị
này giáo viên dùng đồ dùng trực quan và liên hệ thực tế cho các em dễ hình dung.
Chẳng hạn khi dạy bài Đề-xi-met thì giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị trước 1
đoạn thẳng có chiều dài 10 cm. Khi đến lớp giáo viên đưa ra 1 đoạn thẳng giống như
đoạn thẳng các em đã chuẩn bị và giới thiệu đây là đoạn thẳng có chiều dài 1 dm. Giáo
viên cho các em so sánh với đoạn thẳng của mình và ước lượng trong đầu về đơn vị
dm này. Sau đó giáo viên cho các em so sánh với đơn vị cm để các em tự hiểu rằng 1
dm = 10 cm và 10 cm = 1 dm.
17


Thực hiện tương tự như vậy khi dạy bài Mét. Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn
bị trước 1 đoạn thẳng có chiều dài 10 dm. Khi đến lớp giáo viên đưa ra 1 đoạn thẳng
giống như đoạn thẳng các em đã chuẩn bị và giới thiệu đây là đoạn thẳng có chiều dài

nhiều hơn hoặc ít hơn một số đơn vị ), về phép nhân và phép chia.
Đối với loại toán này học sinh chưa hoàn thành hầu như thường sai ở lời
giải, chưa xác định được phép tính và ghi đơn vị, tôi hướng dẫn học sinh như sau :
+ ) Về lời giải :
 Cách 1 :
- Dựa vào câu hỏi để đặt lời giải.
- Bỏ chữ “ hỏi ”và chữ “ bao nhiêu ”trở về sau.
- Đặt từ sau chữ “ hỏi ”đến chữ “ bao nhiêu ”thêm chữ “ là ”vào, ta sẽ được lời
giải.
18


Ví dụ : Trong sân có 19 con gà trống và 25 con gà mái.Hỏi trong sân có tất cả bao
nhiêu con gà ?
( Trong sân có tất cả là : )
 Cách 2 :
- Dựa vào câu hỏi để đặt lời giải .
- Đặt chữ “ Số ”rồi ghi đơn vị của bài toán tiếp sau chữ “Số ”.
- Bỏ chữ “ hỏi ”và chữ “ bao nhiêu ”trở về sau.
- Đặt từ sau chữ “ hỏi ”đến chữ “ bao nhiêu ”thêm chữ “ là ”vào, ta sẽ được lời
giải.
( Số con gà trong sân có tất cả là : ) con gà chính là đơn vị của bài toán.
Tuy nhiên vẫn còn một số trường hợp ngoại lệ tôi hướng dẫn thêm cho học
sinh, nhưng trường hợp này rất hiếm.
Tôi chỉ cho học sinh nhận ra thường là những chữ cuối bài toán, sau chữ bao
nhiêu hoặc chữ mấy ( Ví dụ : con gà, con thỏ, học sinh, quả cam, … )
+ ) Về cách xác định phép tính :
Đây là phần kinh nghiệm được rút ra trong lúc giải toán, giáo viên chỉ mẹo
cho học sinh chưa hoàn thành. Thường thì nếu gặp trong đề toán sau chữ hỏi mà có
chữ :

tô màu một phần ta được một phần ba ( 1/3 ). Nếu đi tìm một phần tư ( 1/4 ) thì chia
nhóm đồ vật, con vật, … làm bốn phần bằng nhau có thể chia theo hàng dọc hoặc
hàng ngang để được bốn phần bằng nhau, khoanh tròn vào hoặc tô màu một phần ta
được một phần tư ( 1/4 ). Nếu đi tìm một phần năm ( 1/5 ) thì chia nhóm đồ vật, con
vật, … làm năm phần bằng nhau có thể chia theo hàng dọc hoặc hàng ngang để được
năm phần bằng nhau, khoanh tròn vào hoặc tô màu một phần ta được một phần năm
( 1/5 ). Phần này thì giáo viên hướng dẫn học sinh bằng hình ảnh trực quan trên bảng
hoặc hình ảnh trong SGK để các em dễ hình dung hơn.
Sau khi các em đã quen dần với hình ảnh trực quan giáo viên hướng dẫn học
sinh tìm ra kết luận hay quy tắc tìm một phần mấy. Nếu tìm một phần hai ( 1/2 ) thì
đem số đồ vật đó chia cho 2 được kết quả bao nhiêu thì kết quả đó chính là một phần
hai ( 1/2 ) Ví dụ : có 14 con gà, một phần hai số con gà là mấy con ? Ta lấy 14 : 2 = 7
vậy 7 con gà chính là 1/2 số con gà cần tìm. Nếu tìm một phần ba ( 1/3 ) thì đem số đồ
vật đó chia cho 3 được kết quả bao nhiêu thì kết quả đó chính là một phần ba ( 1/3 ) Ví
dụ : có 21 con bướm, một phần ba ( 1/3 ) số con bướm là mấy con ? Ta lấy 21 : 3 = 7
vậy 7 con bướm chính là một phần ba ( 1/3 ). Nếu tìm một phần tư ( 1/4 ) thì đem số
đồ vật đó chia cho 4 được kết quả bao nhiêu thì kết quả đó chính là một phần bốn
( 1/4 ) Ví dụ : có 24 con ong, một phần tư ( 1/4 ) số con ong là mấy con ? Ta lấy 24 : 4
= 6 vậy 6 con ong chính là một phần tư ( 1/4 ). Nếu tìm một phần năm ( 1/5) thì đem số
đồ vật đó chia cho 5 được kết quả bao nhiêu thì kết quả đó chính là một phần năm ( 1/5
) Ví dụ : có 45 con châu chấu, một phần năm ( 1/5 ) số con bướm là mấy con ? Ta lấy
45 : 5 = 9 vậy 9 con châu chấu chính là một phần năm ( 1/5 ).
d. Kết quả đạt được :
20


Qua quá trình thực hiện các biện pháp trên các em đã biết thực hiện đúng các
phép tính cộng, trừ, nhân, chia, thực hiện đúng các bài toán “tìm x” và giải đúng các
bài toán có lời văn, biết tìm 1/2, 1/3, 1/4, 1/5 của một số; thuộc các kí hiệu viết tắt của
các đơn vị đo độ dài và biết đổi từ đơn vị này sang đơn vị kia. Các em mạnh dạn phát

khi nghe giáo viên giảng bài. Chính vì lẻ đó mà hiệu quả và chất lượng hiểu bài của
học sinh rất thấp. Từ khi tôi áp dụng việc xây dựng thói quen giữ yên lặng, trật tự khi
nghe giáo viên giảng bài thì mức độ tiếp thu bài của học sinh tăng lên rõ rệt mà nhất là
các em chưa hoàn thành cũng hiểu bài và làm được trên 5 điểm.
 Kiểm tra tập, sách, đồ dùng học tập của học sinh :
Khi bắt đầu vào năm học mới, phụ huynh đã sẵn sàng mua sắm cho con mình có
đầy đủ đồ dùng học tập. Em nào nghèo không đủ sách, vở tôi tranh thủ liên hệ nhờ sự
hổ trợ từ phía nhà trường, hội phụ huynh,… Vì dụng cụ học tập đầy đủ là phương tiện
21


giúp các em học tốt. Ngoài ra tôi còn tập cho học sinh biết tự kiểm tra tập, sách, đồ
dùng học tập trước khi bắt đầu tiết học môn Toán. Buổi sáng các em phải chuẩn bị tập
trắng, sách giáo khoa, bảng con, bút chì, bút mực, thước kẻ,...Buổi chiều chuẩn bị thêm
vở bài tập. Sự chuẩn bị ĐDHT chu đáo giúp các em học tốt hơn.
 Công tác giảng dạy :
Ổn định nền nếp lớp chưa đủ mà hình thành niềm say mê học tập đích thực cho
các em mới là quan trọng. Vì vậy trong mỗi tiết học, tôi luôn tổ chức cho các em sử
dụng đầy đủ các thiết bị và đồ dùng học tập sao cho hợp lý có hiệu quả ; tổ chức nhiều
phương pháp giảng dạy như cả lớp, theo nhóm, cá nhân để phát huy tính tích cực của
học sinh ; …
Thường xuyên quan tâm, gần gũi, uốn nắn và chăm sóc học sinh chưa hoàn
thành kém trong từng tiết học, vào giờ ra chơi, cuối buổi,…nhất định không bao giờ để
em nào bị chưa hoàn thành toán. Để tạo ấn tượng tốt với học sinh thì ngay từ buổi đầu
tiên lên lớp, giáo viên phải tạo không khí làm việc trên tinh thần hợp tác giữa thầy và
trò. Lúc đầu học sinh chưa quen, nhưng đây chính là nền móng cho sự vượt bậc sau
này.
d. Kết quả đạt được:
Qua quá trình thực hiện các biện pháp trên tôi nhận thấy lớp mình học tập tốt
hơn. Các em có ý thức hơn trong việc tự làm bài ở nhà, các em thường làm bài đầy đủ

Vận dụng vào các buổi dạy như sau:
-Tơi cung cấp kiến thức cho các em theo chuẩn kiến thức- kỹ năng. Tổ chức các
hình thức học tập cho học sinh, làm thế nào cho tất cả các đối tượng được tham gia. Về
phần thực hành có từng việc cụ thể cho từng đối tượng học sinh.
Ví dụ : Dạy bài " 14 - 8 " - SGK trang 61.

Hoạt động của Thầy
Hoạt động của Trò
1. Khởi động (1’)
- Hát
2. Bài cũ (3’) Luyện tập.
- Gọi 4 HS lên bảng làm bài, cả - ( CHT ) thực hiện. Bạn nhận
lớp làm bảng con.
xét.
Đặt tính rồi tính:
63 – 35
73 – 29
33 – 8
43 – 14
- HS
- Sửa bài 4:
Giải
Số quyển vở cô giáo
còn là:
63 – 48 = 15 (quyển vở)
Đáp số: 15 quyển vở.
- GV nhận xét.
3. Bài mới
Giới thiệu: (1’)
- Trong giờ học toán hôm nay chúng

sau đó yêu cầu trả lời xem
còn lại bao nhiêu que?
- Yêu cầu HS nêu cách bớt của
mình. Hướng dẫn cho HS cách
bớt hợp lý nhất.
- Có bao nhiêu que tính tất cả?
Đầu tiên thầy lấy 1 chục que
tính bớt 8 que còn mấy que tính ?
- Sau đó chúng ta làm gì nữa?
- Vậy 14 que tính bớt 8 que tính
còn mấy que tính?
- Vậy 14 - 8 bằng mấy?
- Viết lên bảng: 14 – 8 = 6
Bước 3: Đặt tính và thực hiện
phép tính.
- Yêu cầu 1 HS lên bảng đặt tính
sau đó nêu lại cách làm của
mình .

- Thao tác trên que tính. Trả
lời: Còn 6 que tính.
- HS trả lời.
- Có 14 que tính (có 1 bó que
tính và 4 que tính rời)
- Còn 2 que tính.
- Lấy 2 + 4 = 6.
- Còn 6 que tính.
- 14 trừ 8 bằng 6.

-

không
trừ được 8, lấy 14
trừ 8 bằng 6, nhớ 1. 1 trừ 1
bằng 0 , khỏi viết.

- Thao tác trên que tính, tìm
kết quả và ghi kết quả tìm
được vào bài học.
- Nối tiếp nhau (theo bàn
hoặc tổ) thông báo kết quả
của các phép tính. Mỗi HS
chỉ nêu 1 phép tính.
- HS học thuộc bảng công
thức


Yêu cầu cả lớp đọc đồng thanh
bảng các công thức sau đó
xoá dần các phép tính cho HS
học thuộc.
 Hoạt động 3: Luyện tập – thực
hành :
Ÿ Mục tiêu: p dụng bảng trừ đã
học để giải các bài toán có liên
quan.
Ÿ Phương pháp: Thực hành
ò ĐDDH: Bảng phụ.
Bài 1:
- Yêu cầu HS tự nhẩm và ghi
ngay kết quả các phép tính

- Yêu cầu HS làm bài vào vở.
Gọi 3 HS lên bảng làm bài.
-

-

- HS làm bài : 2 HS( CHT ) lên
bảng, mỗi HS làm một cột
tính.
- Nhận xét bài bạn làm
đúng/sai. Tự kiểm tra bài mình.
- Không cần. Vì khi đổi chỗ
các số hạng trong một tổng
thì tổng không đổi.
-( HT ) Có thể ghi ngay: 14 – 5 =
9 và 14 – 9 = 5 vì 5 và 9 là số
hạng trong phép cộng 9 + 5 =
14. Khi lấy tổng số trừ số
hạng này sẽ được số hạng
kia.
- Làm bài và báo cáo kết
quả.
- Ta có 4 + 2 = 6.
- Có cùng kết quả là 8.
- ( HT ) khi trừ liên tiếp các
số hạng cũng bằng trừ đi
tổng.

- Làm bài và trả lời câu
hỏi.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status