KHẢO SÁT TÁC ĐỘNG CỦA CHU KỲ SÁNG VÀ TÍNH CẠNH TRANH THỨC ĂN ĐẾN SỰ ĂN MỒI CỦA CÁ BỐNG TƯỢNG (OXYELEOTRIS MARMORATA BLEEKER) - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
KHOA THỦY SẢN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:

KHẢO SÁT TÁC ĐỘNG CỦA CHU KỲ SÁNG
VÀ TÍNH CẠNH TRANH THỨC ĂN
ĐẾN SỰ ĂN MỒI CỦA CÁ BỐNG TƯNG
(OXYELEOTRIS MARMORATA BLEEKER)

NGÀNH: THỦY SẢN
KHÓA: 2002 -2006
SINH VIÊN THỰC HIỆN: TRẦN HUỲNH NHÃ TRÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
9/2006

i


KHẢO SÁT TÁC ĐỘNG CỦA CHU KỲ SÁNG
VÀ TÍNH CẠNH TRANH THỨC ĂN
ĐẾN SỰ ĂN MỒI CỦA CÁ BỐNG TƯNG
(OXYELEOTRIS MARMORATA BLEEKER)

Thực hiện bởi

Trần Huỳnh Nhã Trân


-Số lượng mồi ở bể che tối liên tục so với bể chiếu sáng liên tục ở các cỡ cá
không chênh lệch.
-Cá bống tượng vào ban đêm ăn nhiều hơn ban ngày.
-Cá bống tượng ăn mồi rô phi bột nhiều hơn tép bò.
¾ Thí nghiệm cạnh tranh thức ăn
Bể chứa cỡ cá 5,68 g và 1,24g, sau 1 giờ xảy ra hiện tượng cá lớn tranh mồi cá
nhỏ, sau 2 giờ, 3 giờ cá cỡ 1,24g ăn nhiều hơn.
Bể chứa cỡ cá 2,67 g và 1,24 g, sau thời gian 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ cá cỡ 1,24 g
ăn nhiều hơn.

ii


Bể chứa cỡ cá 5,68 g và 2,67 g, sau thời gian 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ cá cỡ 2,67 g
ăn nhiều hơn.
Bể chứa ba cỡ cá 5,68 g, 2,67 g và 1,24 g:
-Sau 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ xảy ra hiện tượng cá cỡ 5,68 g tranh mồi với
hai cỡ cá 2,67 g và 1,24 g.
-Sau 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ cá cỡ 1,24 g ăn mồi nhiều hơn cá 2,67 g.

iii


ABSTRACT

A study on effect of photoperiod and food competition on feeding behaviour in
Marble goby (Oxyeleotris marmorata Bleeker) was carried on at Experimental Farm
for Aquaculture in NONG LAM University (HCM city) from March 2006 to July
2006.
¾ Study on effect of photoperiod


v


CẢM TẠ

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám Hiệu, quý thầy cô Trường Đại
Học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh. Ban Chủ Nhiệm, quý thầy cô Khoa Thủy Sản đã
tận tình dạy dỗ chúng tôi trong suốt quá trình học tập.
Xin gởi lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Cô Nguyễn Phú Hòa đã hết lòng dìu dắt, giúp đỡ chúng tôi hoàn thành luận
văn tốt nghiệp này.
Đồng thời chúng tôi xin cảm ơn:
-Thầy Phạm Văn Nhỏ và các anh trong Trại thực nghiệm Khoa Thủy Sản
Trường Đại Học Nông Lâm TP. HCM đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ
chúng tôi hoàn thành đề tài.
Đồng thời chúng tôi cũng xin cảm ơn các ban trong và ngoài lớp đã động viên,
giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình thực hiên đề tài.
Do trình độ còn giới hạn và thời gian thực hiện đề tài ngắn nên luận văn
không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong sự chỉ bảo của quý thầy cô cũng như sự
đóng góp ý kiến của các bạn.

vi


MỤC LỤC
ĐỀ MỤC

TRANG



II

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3

2.1
2.1.1
2.1.2
2.1.3
2.1.4
2.1.5
2.1.6
2.1.7
2.1.8
2.2
2.3
2.3.1
2.3.2
2.3.3
2.4
2.5
2.5.1
2.5.2

Vài Nét về Đặc Điểm Sinh Học của Cá Bống Tượng
Hệ thống phân loại cá bống tượng
Đặc điểm hình thái
Phân bố

13
13
14

vii


III.

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

15

3.1
3.1.1
3.1.2
3.1.3
3.1.4
3.2
3.2.1

Vật Liệu
15
Thời gian và đòa điểm
15
Dụng cụ thí nghiệm
15
Đối tượng thí nghiệm
15
Thức ăn

Khảo Sát Về Tác Động của Chu Kỳ Sáng Đến Tâïp Tính Ăn Mồi
của Cá Bống Tượng
Khảo sát thời điểm ban ngày
Khảo sát thời điểm ban đêm
So sánh thời điểm ban ngày và ban đêm
Khảo sát thời điểm 24 giờ với 2 loại mồi
Khảo Sát Sự Cạnh Tranh Giữa Kích Cỡ của Cá Bống Tượng
về Tập Tính Ăn Mồi
Quan sát cạnh tranh thức ăn giữa cỡ cá 1,24g và 5,68g
Quan sát cạnh tranh thức ăn giữa cỡ cá 1,24 g và cỡ cá 2,67 g
Quan sát cạnh tranh thức ăn giữa cá cỡ 2,67 g và 5,68 g
Quan sát cạnh tranh thức ăn ở ba cỡ cá 1,24g, 2,67g và 5,68 g

V.

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

42

5.1
5.1.1
5.1.2
5.2

Kết Luận
Ảnh hưởng chu kỳ sáng
Tính cạnh tranh thức ăn
Đề Nghò

42


BẢNG
Bảng 4.1
Bảng 4.2
Bảng 4.3
Bảng 4.4
Bảng 4.5
Bảng 4.6
Bảng 4.7
Bảng 4.8
Bảng 4.9

NỘI DUNG

TRANG

Yếu tố môi trường
Số lượng mồi trung bình các cỡ cá bống tượng
ăn giữa các NT thời gian từ 7 giờ – 17 giờ
Số lượng mồi trung bình các cỡ cá bống tượng
ăn giữa các NT trong khoảng thời gian 17 giờ – 7 giờ
Số lượng mồi rô phi bột trung bình cá bống tượng
ăn giữa các NT trong 24 giờ
Số lượng mồi tép bò trung bình cá bống tượng ăn
giữa các NT trong thời gian 24 giờ
Chỉ số GaSI giữa cỡ cá 1,24 g và 5,68 g
thời gian 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ
Chỉ số GaSI giữa cỡ cá 1,24 g và 2,67 g
Chỉ số GaSI giữa cá cỡ 2,67 g và 5,68 g
Chỉ số GaSI ở ba cỡ cá 1,24g, 2,67g và 5,68 g

TRANG

Cá rô phi bột
Mồi tép bò
Cá bống tượng và mồi là cá rô phi bột
Cá bống tượng và mồi tép bò
Bao tử cá bống tượng và mồi cá rô phi bột
Cá bống tượng đã mổ
Cá bống tượng cỡ 0,5 g và 1g
Cá bống tượng cỡ 0,5 g và 1g với mồi tép bò
Cá bống tượng cỡ 0,5 g và 1g với mồi rô phi bột

15
15
25
27
33
34
34
35
35

ĐỒ THỊ
ĐỒ THỊ
Đồ thò 4.1
Đồ thò 4.2
Đồ thò 4.3
Đồ thò 4.4

NỘI DUNG

ở các nước như Campuchia, Thai lan, Việt Nam...đã đi vào đầu tư nuôi cá Bống tượng
trong ao hồ và lồng bè.
Ở Việt Nam, đặc biệt các tỉnh Đồng Nai, Đồng Tháp, Tiền Giang sớm biết
được lợi nhuận từ việc nuôi cá Bống tượng. Người dân đã tập trung nuôi và do số
lượng con giống ngoài tự nhiên không đủ đáp ứng nên đã tiến hành áp dụng kó thuật
sản xuất giống cá Bống tượng. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển và tăng trưởng
của cá Bống tượng trở thành mối quan tâm của người dân. Cũng như môi trường sống,
thức ăn ở mỗi giai đoạn, chu kỳ sáng, cường độ ánh sáng ảnh hưởng đến thói quen và
hoạt động bơi lội suốt ngày của cá.
nh sáng tác động trực tiếp hoặc gián tiếp, đều có tầm quan trọng lớn trong sự
sống của cá. Đa số các loài cá, mắt có vai trò quan trọng trong việc đònh hướng suốt
lúc bơi, bắt mồi, tránh kẻ thù, ... Những tập tính đó hoạt động suốt ngày và đêm trong
cuộc sống của chúng, những hoạt động đó có quan hệ vời cường độ chiếu sáng
(Kikolsky, 1963). Hầu hết hoạt động của cá có quan hệ với ánh sáng. nh sáng tác
động rõ ràng trên sự biến dưỡng, sinh sản, tập tính của cá, màu sắc (Delbeek, 1986).
Theo Nikolsky, 1963 cho rằng sự chín muồi cơ quan sinh dục phụ thuộc vào khu vực
và thời gian chiếu sáng còn gọi là chu kỳ sáng và cường độ. Một số lượng lớn nghiên
cứu đến những ảnh hưởng của chu kỳ sáng trên cá hồi Đại Tây Dương vào năm
1980. Chu kỳ sáng tác động đến cá chẽm, cá trê, cá bơn... về sự tăng trưởng, hoạt
động bơi, bắt mồi, sự tấn công và cạnh tranh thức ăn ( Boeufvà Le Bail, 1999). Đối
với cá nước mặn nhiệt đới chu kỳ sáng có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của cá (M.
Arvedlund, M. I và T.A, 2000). Từ các kết quả trên đã làm chúng tôi quan tâm đến
ảnh hưởng của chu kỳ sáng đến tập tính bắt mồi của cá bống tượng.
Ngoài ra, cá bống tượng là loài cá dữ, rất thích thức ăn là mồi động. Thức ăn
của chúng là các loài động vật nhỏ như: cá, tôm, trùn...chính những đặc tính hung dữ
nếu sống trong môi trường thiếu thức ăn chúng sẽ xảy ra hiện tượng cạnh tranh mồi,
và ăn nhau ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch. Trong môi trường đầy đủ thức ăn thì
hiện tượng cạnh tranh mồi giảm và tăng trưởng nhanh. Tập tính ăn mồi của cá bò ảnh
hưởng bởi nhiều yếu tố, do đó sẽ ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng thu hoạch.



-Bộ

: Perciformes

-Bộ phụ

: Gobioidei

-Họ

: Eleotridae

-Giống

: Oxyeleotris

-Loài

: Oxyeleotris marmorata Bleeker

-Tên tiếng Anh

: Sand goby, Marble goby.

Đặc điểm hình thái

Cá Bống tượng (Oxyeleotris marmorata Bleeker) có thân dài, đầu to, rộng, hơi
dẹp. Miệng trên rộng, hàm dưới dài hơn hàm trên và đưa ra phía trước. Chiều dài đầu
gần bằng ¼ chiều dài thân. Mắt nằm ở mặt trên của đầu, hơi lồi. Răng nhọn, góc răng

Theo Kotlelat và ctv (1993). cá bống tượng có thể sống ở nước ngọt và lợ với
nhiệt độ thích hợp 220 -280C, pH 6,5-7,5, độ sâu 10m.
Qua kết quả thí nghiệm của Nguyễn Tuấn Dũng và Đỗ Khắc Xuân Diễm
(1995) khả năng thích ứng cá bống tượng ở độ mặn khá cao so với nhiều loài cá khác,
cá có thể thích ứng đến độ mặn 130/00.


-5-

Theo kết quả nghiên cứu của Dương Lê Dũng (1985; trích bởi Nguyễn Hữu
Tân, 1996), cho biết cơ quan hô hấp của cá là mang, bắt đầu hoạt động vào ngày tuổi
thứ 3, khi những tia mang chi mới thành lập. Cá trưởng thành hoàn toàn dựa vào
mang để hô hấp và chưa tìm thấy đặc điểm nào của cá dùng để thở khí trời. Cá có
hiện tượng phùng mang nổi lên mặt nước khi oxy trong nước giảm thấp (dưới
0,8mg/l).
Cá bống tượng thường hoạt động vào ban đêm. Nơi có điều kiện thuận lợi cá
hoạt động cả ban ngày.
2.1.5 Dinh dưỡng
“Cá bống tượng trưởng thành có bộ máy tiêu hóa tiêu biểu cho loài cá dữ điển
hình. Miệng lớn, răng hàm dài và sắt, tỷ lệ chiều dài của ruột trên chiều dài thân
0.7”( Lê Như Xuân và Phạm Minh Thành ,1994).
Cá bống tượng không chủ động bắt mồi như các loài cá khác mà nó rình bắt
mồi. Cá bống tượng ăn động vật, chủ yếu là: cá, tôm, tép, ốc, cua, trùn, ấu trùng, côn
trùng, thủy sinh,..
Theo Lê Như xuân và Phạm Minh Thành (1994) cũng như nhiều loài cá khác,
sau khi tiêu hết noãn hoàng, cá bống tượng chuyển sang ăn thức ăn bên ngoài
(thường sau khi nở 3-4 ngày). Kích cỡ miệng rộng khoảng 0,08 – 0,2mm. vì vậy phải
cung cấp thức ăn có kích thước rất nhỏ cho chúng như luâân trùng (loài Branchionus
spp) là loại thức ăn thích hợp cho chúng trong những ngày đầu. Đến 10 ngày tuổi
chúng mới ăn được giáp xác thấp như Moina, Cyclop, ấu trùng Artemia. Sau khi cá

Do đó cá trong ao nuôi có mùa vụ sinh sản như ngoài tự nhiên (tháng 4- 11),
với sự chi phối của một số điều kiện sinh thái như dòng chảy, nhiệt độ, giá thể và
quan trọng nhất là yếu tố thức ăn.Thực ra mùa vụ sinh sản của cá bống tượng sớm
hay muộn còn tùy thuộc vào thời gian bắt đầu nuôi vỗ. Nếu nuôi vỗ sớm cá thành
thục nhanh và tham gia sinh sản sớm hơn.
Theo nghiên cứu của tác giả Lê Như xuân và Phạm Minh Thành (1994) cá
bống tượng khoảng 9-12 tháng tuổi với trọng lượng trung bình 100g trở lên đã có thể
tham gia sinh sản.
Cũng như nhiều loài cá nuôi khác, nuôi vỗ cá bống tượng là khâu đầu tiên và
có ý nghóa quyết đònh đối với vấn đề là cho cá đẻ trong ao. Cá bống tượng là loài ăn
mồi động vật sống, ngoài tự nhiên cá có thể tự bắt mồi để sinh trưởng và tích lũy để
phát dục, còn trong điều kiẹân nhân tạo sự sinh trưởng và phát dục hoàn toàn dựa vào
thức ăn do con người cung cấp. Cho nên chất lượng thức ăn và phương pháp cho ăn
ảnh hưởng rất lớn đến sự phát dục và thành thục của cá.
Cá bống tượng có tập tính ghép đôi sinh sản. Khi tuyến sinh dục đạt đến thời
kỳ chín muồi, cá cái săn tìm cá đực để ghép đôi. Sau 4 đến 5 lần săn đuổi, cá đực
chòu ghép đôi (Trương Trọng Nghóa, Bùi Lai, Trương Quan Trí,1987; trích bởi
Nguyễn Hữu Tân, 1996) và sau khi ghép đôi, cá đực chọn nơi tiến hành làm tổ trong
2-3 ngày. Ở các thủy vực tự nhiên, cá thường đẻ trứng dính thành hình ô tròn dưới các
khúc cây lớn, trong những hang hốc ven bờ. Điều kiện cơ bản của tổ là phải có bề
mặt tạo thành trần để trứng bám vào và có nơi trú ẩn cho cá (Trương Trọng Nghóa,
Bùi Lai, Trương Quan Trí, 1987; trích bởi Nguyễn Hữu Tân, 1996).
Dựa vào tập tính đó, vào mùa sinh sản người ta làm tổ cho cá đẻ dọc hai bên
bờ sông, cá tự động chui vào tổ và bắt cặp đẻ trứng. Sau khi đẻ cá đực ở lại tổ và quạt
nước (Dương Thò Hoàng Oanh, 1985; trích bởi Nguyễn Hữu Tân, 1996).


-7-

Cá bống tượng có khả năng sinh sản rất cao, số lần đẻ trong năm của một cá

tâm của nhiều người.
Theo Tan (1973) và Phinal (1980), đầu tiên đã gây đẻ trứng ở cá bống tượng
bằng phương pháp nhân tạo và tự nhiên (trích bởi Tavarutmaneegul và Lin, 1988).
Tuy nhiên, cả hai nghiên cứu cho kết quả tỉ lệ chết cao (100%) ở giai đoạn cá vài
ngày tuổi. Do tìm được phương pháp nhân tạo thích hợp, Tavarutmaneegul và Lin
(1988) đã thành công trong việc chọn trứng cá bống tượng và thu được tỉ lệ cao trên
80%. Tác giả cho biết cá bống tượng hầu hết trong năm trừ tháng 11 và 12, đẻ cao
nhất tháng 5 và 6. Nhiều tác giả cho rằng cá đẻ trứng khoảng 2000 đến 30,000 trứng,


-8-

trung bình 24000 trứng /ổ và một con cá cái đẻ ít nhất 3 lần hằng năm. Nguyên nhân
có thể làm cá chết do thiếu thức ăn vì không cho cá ăn đúng loại thức ăn (Tan,1973;
trích bởi Tavarutmaneegul và Lin, 1988). Senoo (1996; trích bởi Nguyễn Phú Hòa,
2006) nghiên cứu mối quan hệ giữa sự phát triển của các giác quan, miệng và thức ăn
của cá bống tượng con. Kết quả chỉ ra rằng cá bống tượmg chọn loại thức ăn khác
nhau trong suốt thời gian phát triển.
Cá ba ngày tuổi bắt đầu ăn phiêu sinh thực vật, sau đó là Brachionus là thức
ăn cho cá 6 ngày tuổi, 7 ngày tuổi ăn Cyclops spp, 10 ngày tuổi ăn Moina, 15 ngày
tuổi ăn ấu trùng Artemia salina. Từ đó tác giả kết luận rằng những thay đổi trên có lẻ
là do theo sự phát triển của miệng và tính chuyển động của cá hơn là sự phát triển
của các giác quan. Cá có thói quen sống ở dưới đáy sau 35 ngày tuổi.
Theo Tavarutmaneegul và Lin (1988), cá bống tượng 30 ngày tuổi có chiều
dài trung bình 1cm với tỉ lệ sống 7-55%. Giai đoạn 30 – 60 ngày, tỉ lệ sống cá bột 70100%, sự tăng trưởng cao nhất khi nuôi ở mật độ 20 cá/m2. Chúng ăn các loại thức ăn
sống, cá sống hoặc Moina sp
Rojanapittayakul (2000; trích bởi Nguyễn Phú Hòa, 2006) nghiên cứu thu
hoạch trứng cá bống tượng và nuôi cá bống tượng nhỏ ở độ mặn khác nhau (0, 10, và
200/00). Thu được kết quả cao ở nước ngọt là 93%. Tuy nhiên sự chết của cá đã xảy ra
khi cá 23 ngày tuổi, và sau 60 ngày tuổi ở độ mặn 100/00 tỉ lệ sống cao khoảng

cá thương phẩm trong lồng được làm bằng tre hay bằng gỗ. Nguồn giống cung cấp
cho nuôi lồng phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên.Vấn dề nuôi lồng làm nông dân
gặp nhiều khó khăn như thiếu đầu vào, giống cá, thức ăn, kỹ thuật, công thức chế
biến thức ăn, quản lý thức ăn và lồng. Theo nguồn tin cho biết sản lượng cá bống
tượng được nuôi ở hồ trong năm 2001 thu được 21 tấn và nguồn giống chính là tự
nhiên.
Ở Thái Lan, cá bống tượng là loài nuôi chính,nuôi trong lồng bè ở sông, hồ
chứa, kênh đào (Lin và Kaewpaitoon, 2000; trích bởi Nguyễn Phú Hòa, 2006). Cá
bống tượng được nuôi mạnh ở lồng bè trôi nổi (10-30 m3) làm bằng tre hoăc gỗ. Cá
giống 100g mật độ ban đầu 30-180 cá/m2. Thức ăn cho cá bống tượng là những loài
cá nước mặn băm nhỏ, ngày một lần vào lúc chiều tối. Lồng bè được đặt ở vò trí nước
chảy, để cá có thể lấy được oxy và chất bẩn luôn được lọc sạch. Hơn nữa, số lượng
chất rắn lắng đọng lớn làm nước sông đục tao một điều kiện tối thuận lợi cho cá.Với
tỷ lệ sống 90%, sản lượng cá thương phẩm với trọng lượng 500 g, có thể tăng cao
bằng 20-60 kg/m2 trong 8 tháng (Lin và Kaewpaitoon, 2000; trích bởi Nguyễn Phú
Hòa, 2006). Năm 1979, Thái Lan xuất khẩu cá bống tượng đến các nước khác 165 tấn
đạt 1,5 triệu USD. Năm 1990 đạt năng suất lớn nhất 522 tấn và giảm nhanh cxuống
còn 15 tấn trong năm 1996 (Menasvata, 2000; trích bởi Nguyễn Phú Hòa, 2006). Tuy
nhiên, bệnh và nguồn cung cấp con giống là nguyên nhân làm giảm và hạn chế việc
nuôi cá bống tượng.
Ở việt Nam, áp dụng kỹ thuật nuôi cá bống tượng, nông dân các tỉnh phía
Nam Việt Nam (đặc biệt Đồng Nai, Đồng Tháp, tỉnh Tiền Giang) đã được vụ thu
hoạch tốt và lợi nhuận lớn từ cá bống tượng. Cá được nuôi trong lồng bằng tre hay
bằng gỗ với thể tích 1x1,5x1,2 m3 hoặc 3x4x1,5m3. Mật độ nuôi cá giống cỡ 50-200g
là 25-40 cá/m2 (Loc, 2001; trích bởi Nguyễn Phú Hòa, 2006). Trước khi cho vào nuôi
cá giống được ngâm 3-4% nước muối. Thức ăn của cá là tôm, cá tạp, trùng, ốc sên, và
cua. Cho ăn 2 lần/ngày (sáng sớm và chiều tối). Sau 5-7 tháng, cá đạt kích cỡ trên
400g/cá. Tuy nhiên, việc nuôi cá trong lồng đã bò thất bại khi dòch bệnh phát ra vào
năm 1990 (Hao và ctv, 1996; trích bởi Nguyễn Phú Hòa, 2006).
Theo Lương và ctv (2005; trích bởi Nguyễn Phú Hòa, 2006), cho biết nông

của ánh sáng đến sự phát triển và tăng trưởng có thể bò làm hỏng bởi các yếu tố tác
động khác như nhiệt độ và hoạt động ăn mồi.Trong môi trường tự nhiên, kết quả thay
đổi các điều kiện không thể biết được là tỉ lệ tăng trưởng được tác động bởi ánh sáng
(Sumpter, 1992; trích bởi G.Boeuf, P.-Y. Le Bail., 1999). Dễ dàng kiểm tra yếu tố
ánh sáng trong phòng thí nghiệm, hoặc nuôi theo cường độ trong nhà, có thể khám
phá phản ứng của cá dưới điều kiện cố đònh. Nhiều cuộc thí nhgiệm phạm vi rộng lớn
đã mang lại kết quả này.
2.3.2

Chu kỳ Sáng

Là sự khác biệt nhỏ để cá phân biệt được ánh sáng và ban đêm. Hầu hết các
quá trình chủ yếu trong tự nhiên có quan hệ với tính chu kỳ của ánh sáng. Nhiều loài
vật, bao gồm cá, hoạt động theo chu kỳ 24h (Clarke, 1965; trích bởi G.Boeuf, P.-Y.
Le Bail., 1999). Cá không những hoạt động vào ban ngày, còn hoạt động ban đêm
nhưng thói quen này có lẽ bò giảm bởi thay đổi hằng ngày trong các yếu tố khác, như
nhiệt độ và hàm lượng oxy. Thí dụ theo Richardson và McCleave.(1974; trích bởi
G.Boeuf, P.-Y. Le Bail., 1999), sử dụng chu kỳ sáng khác nhau ở Salmo salar, thay
đổi ngày và đêm trong quá trình hoạt động của cá một cách đồng bộ. Thorpe và ctv.,
(1988; trích bởi G.Boeuf, P.-Y. Le Bail., 1999) cho rằng những giống loài khác đặc
biệt là cá hoạt động để bắt mồi suốt ngày, nhưng không chỉ ăn vào ban đêm và di


- 11 -

chuyển xuôi dòng về đêm. Ngày dài có lẽ không trực tiếp làm thay đổi sự tăng trưởng
bởi tăng tính bắt mồi hay sự không hoạt động của cá.
Ở các loài, phải ghi nhớ thành phần quan trọng sự ảnh hưởng của hai yếu tố
nhiệt độ và chu kỳ quang học: hai yếu tố này đồng thời thay đổi. Vì thế dù thật đơn
giản ở các thí nghiệm chỉ để nghiên cứu ảnh hưởng của chu kỳ sáng, thật không quá


- 12 -

tăng trưởng lớn hơn vì tỷ lệ mức chuyển hóa của chúng thấp hơn (Boehlert,1981;
trích bởi G.Boeuf, P.-Y. Le Bail., 1999). Trong những thí nghiệm trước đây, không
thể xác đònh ánh sáng ảnh hưởng đến tăng trưởng phụ thuộc vào sự tiêu thụ thức ăn
hay sử dụng thức ăn tốt nhất.
Có một vài nghiên cứu về ảnh hưởng ánh sáng đối với cá hồi con về tăng
trưởng và phát triển. Trong giai đoạn ánh sáng dài hơn thuận lợi bắt mồi tăng và
chuyển đổi thức ăn cũng tốt hơn (Mason và ctv., 1992; trích bởi G.Boeuf, P.-Y. Le
Bail., 1999). Trong nhiều cuộc thí nghiệm gần đây, mức độ tăng trưởng và chuyển
đổi thức ăn tốt nhất được quan sát dưới sự chiếu sáng liên tục suốt năm đầu tiên ở cá
hồi bột (Maisse và Le Bail, kết quả chưa công bố; trích bởi G.Boeuf, P.-Y. Le Bail.,
1999).
Mục đích nghiên cứu hiện tại là tập tính dinh dưỡng, chu kỳ quang học, và sự
ảnh hưởng lẫn nhau, sẽ ảnh hưởng đến tập tính của cá giống bống tượng. Vả lại, ảnh
hưởng của cường độ ánh sáng và chu kỳ quang học trên sự biến đổi tập tính trong
ngày đã được đánh giá.
2.3.3 Nhiệt độ
Nhiệt độ là thành phần quan trọng nhất trong những yếu tố kiểm tra sự tỉ lệ
biến đổi (Fry, 1971; trích bởi Tavarutmaneelgul, P. and O.K.Lin, 1988). Nhiệt độ ảnh
hưởng đến một vài quá trình trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến nhu cầu thức ăn
hay hoạt động bắt mồi. Tính bắt mồi của cá tăng lên với nhiệt độ tăng, tiến đến đỉnh
điểm và sau đó giảm dần xuống hoặc đột ngột vượt quá mức nhiệt độ tốt nhất (Brett,
1979; trích bởi Tavarutmaneelgul, P. and O.K.Lin, 1988). Sự tăng trưởng và tỷ lệ
sống sót ở ấu trùng cá bống tượng ảnh hưởng nhất khi nuôi tại nhiệt độ 240C, 260C,
280C, 300C và 320C. u trùng cá được đề nghò nuôi tốt nhất ở nhiệt độ 280C-300C
(Liêm, 2001; trích bởi Tavarutmaneelgul, P. and O.K.Lin, 1988).
Theo Brett (1971) nghiên cứu về ảnh hưởng nhiệt độ ở cá hồi đỏ. Nếu cá di
chuyển trên mặt nước để ăn, sự tăng trưởng của chúng bò giới hạn bởi nhiệt độ. Kết

giới hạn. Tất cả những phần của đònh nghóa đó quan trọng trong tiến trình cạnh tranh.
Những yếu tố quan trọng đến cá thường bao gồm thức ăn, không gian, và sự giao
phối. Có trường hợp cạnh tranh về nhiệt độ và oxy (đặc biệt những hồ có thể chết vì
lạnh), nhưng còn có những yếu tố khác trong không gian. Thỉnh thoảng thức ăn,
không gian, sự giao phối có mối liên kết với nhau, như là khi sống trong một không
gian tốt có nguồn thức ăn phong phú và đó là môi trường thích hợp cho việc giao phối
để sinh sản.
Hầu hết mọi người nghó rằng cạnh tranh trong cùng một loài, hoặc giữa hai
loài giống nhau. Quả thật cả hai trường hợp trên đều xảy ra. Quan trọng hơn nữa là
cạnh tranh khác loài, các cá thể của loài khác nhau cạnh tranh.
Nhân tố chính trong đònh nghóa cạnh tranh nghóa là ngăn chặn, và nguồn sống
bò giới hạn. Do đó nhu cầu cung cấp thức ăn được sử dụng trong nuôi cá đã tác động
đến mức độ cạnh tranh thức ăn giữa các loài cá, việc này có thể ảnh hưởng đến tăng
trưởng, tập tính và hiệu quả ăn mồi của cá (Thorpe và Cho, 1995 ; Cutts và ctv, 1998;
trích bởi J.E. Andrew và ctv, 2004).
Sự cạnh tranh thức ăn gia tăng do một số kết quả sau khi khẩu phần ăn của cá
bò hạn chế (Jobling và ctv, 1999; trích bởi J.E. Andrew và ctv, 2004), tỷ lệ thức ăn
cung cấp cho cá giảm (Juell và LeKang, 2001; trích bởi J.E. Andrew và ctv, 2004),
mật độ cá tăng (Canarioetal,1998; trích bởi J.E. Andrew và ctv, 2004).
Sự cạnh tranh thức ăn tăng do hạn chế khẩu phần có thể đưa đến kết quả là
thay đổi lớn trong việc bắt mồi và tăng trưởng ở từng cá thể, cần phải cung cấp đầy
đủ thức ăn tùy thuộc vào cỡ cá (Carter và ctv, 1996; trích bởi J.E. Andrew và ctv,
2004). Điều này có lẻ dẫn đến ảnh hưởng lớn việc tăng tốc độ tăng trưởng do lệ thuộc


- 14 -

vào nơi nhiều loài cá. Gia tăng trong sự tổn thương vây cá (Moutou và ctv, 1998;
Gregory và Wood, 1999; trích bởi J.E. Andrew và ctv, 2004) và ảnh hưởng tranh
dành trong suốt lúc ăn mồi (Adams và ctv, 1998; trích bởi J.E. Andrew và ctv, 2004)



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status