Nghiên cứu xác định sự biến đổi của một số trung tâm khí áp chính ảnh hưởng đến bắc bộ việt nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu - Pdf 52

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH SỰ BIẾN ĐỔI CỦA
MỘT SỐ TRUNG TÂM KHÍ ÁP CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN
BẮC BỘ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CHUYÊN NGÀNH: KHÍ TƯỢNG VÀ KHÍ HẬU HỌC

LÊ THỊ THANH

HÀ NỘI, NĂM 2018


BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH SỰ BIẾN ĐỔI CỦA
MỘT SỐ TRUNG TÂM KHÍ ÁP CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN
BẮC BỘ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
LÊ THỊ THANH
CHUYÊN NGÀNH: KHÍ TƯỢNG VÀ KHÍ HẬU HỌC
MÃ SỐ: 8440222
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Nguyễn Viết Lành

HÀ NỘI, NĂM 2018


CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

“Nghiên cứu xác định sự biến đổi của một số trung tâm khí áp chính ảnh
hưởng đến Bắc Bộ Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu” đã hoàn thành
trong tháng 01 năm 2019. Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành
luận văn, tác giả đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè và gia đình.
Trước hết tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn
Viết Lành đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu và hoàn
thành luận văn này.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Khoa Khí tượng Thủy văn, Trường
Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức, tạo
điều kiện và hướng dẫn trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện
để tác giả có thể hoàn thành luận văn này.
Trong khuôn khổ một luận văn, do sự giới hạn về thời gian và kinh nghiệm
nên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy tác giả rất mong nhận được ý kiến
đóng góp quý báu của thầy cô và các bạn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 01 năm
2019
Tác giả

Lê Thị Thanh


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN................................................................................................................................. 1
MỞ ĐẦU.................................................................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài................................................................................................................. 1
2. Mục tiêu của đề tài.......................................................................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................................................. 2
4. Bố cục của luận văn........................................................................................................................ 2

3.2.3 Sự biến đổi cường độ của áp thấp Trung Hoa.............................................................. 45


3.2.4 Sự biến đổi cường độ của áp cao Tây Tạng.................................................................. 46
3.3 Sự biến đổi phạm vi các của trung tâm khí áp................................................................. 48
3.3.1 Sự biến đổi phạm vi của áp cao Thanh Tạng................................................................ 49
3.3.2 Sự biến đổi phạm vi của áp cao Hoa Đông................................................................... 50
3.3.3 Sự biến đổi phạm vi của áp thấp Trung Hoa................................................................ 50
3.3.4 Sự biến đổi phạm vi của áp cao Tây Tạng..................................................................... 50
3.4 Mối quan hệ giữa cường độ của các trung tâm khí áp với nhiệt độ và lượng mưa
53
3.4.1 Mối quan hệ giữa cường độ của các trung tâm khí áp với nhiệt độ..................... 53
3.4.2 Mối quan hệ giữa cường độ của các trung tâm khí áp với lượng mưa tháng .. 60

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ....................................................................................................... 62
1. Kết luận............................................................................................................................................. 62
2. Kiến nghị.......................................................................................................................................... 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................................. 64


Nghiên cứu xác định sự biến đổi của một số trung tâm khí áp chính ảnh

TÓM TẮT LUẬN VĂN
Họ và tên học viên: Lê Thị Thanh
Lớp CH2B.K

Khóa: 2017-2018

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Viết Lành Tên đề tài:


Bảng 3.4. Mức tăng nhiệt độ tối cao trung bình tháng trong 35 năm qua tại 10 trạm
trên khu vực Bắc Bộ.......................................................................................................................... 34
Bảng 3.5. Hệ số góc của đường thẳng xu thế biến đổi nhiệt độ tối thấp trung bình
tháng........................................................................................................................................................ 36
Bảng 3.6. Mức tăng nhiệt độ tối thấp trung bình tháng trong 35 năm qua tại 10 trạm
trên khu vực Bắc Bộ.......................................................................................................................... 37
Bảng 3.7. Hệ số góc của đường thẳng xu thế biến đổi lượng mưa trung bình tháng 39
Bảng 3.8. Phương trình xu thế (yt) biểu thị sự biến đổi cường độ áp cao Thanh Tạng
từ năm 1981 đến 2015...................................................................................................................... 43
Bảng 3.9. Phương trình xu thế (yt) biểu thị sự biến đổi cường độ áp cao Hoa Đông
từ năm 1981 đến 2015...................................................................................................................... 44
Bảng 3.10. Phương trình xu thế (yt) biểu thị sự biến đổi cường độ áp cao Trung Hoa
từ năm 1981 đến 2015...................................................................................................................... 46
Bảng 3.11. Phương trình xu thế (yt) biểu thị sự biến đổi cường độ áp cao Tây Tạng
từ năm 1981 đến 2015...................................................................................................................... 46
Bảng 3.12. Hệ số tương quan giữa nhiệt độ trung bình tháng tại 10 trạm khí tượng
với cường độ của trung tâm áp cao Tây Tạng (TaT), áp cao Thanh Tạng (ThT), áp
thấp Trung Hoa (TH) và áp cao Hoa Đông (HĐ).................................................................. 53
Bảng 3.13. Hệ số tương quan giữa nhiệt độ tối cao trung bình tháng tại 10 trạm khí
tượng với cường độ của trung tâm áp cao Tây Tạng (TaT), áp cao Thanh Tạng
(ThT) và áp thấp Trung Hoa (TH)............................................................................................... 56
Bảng 3.14. Hệ số tương quan giữa nhiệt độ tối thấp trung bình tháng tại 10 trạm khí
tượng với cường độ của trung tâm áp cao Tây Tạng (TaT), áp cao Thanh Tạng
(ThT) và áp thấp Trung Hoa (TH)............................................................................................... 58
Bảng 3.15. Hệ số tương quan giữa lượng mưa tháng tại 10 trạm khí tượng với
cường độ của trung tâm áp cao Tây Tạng (TaT), áp cao Thanh Tạng (ThT) và áp
thấp Trung Hoa (TH)........................................................................................................................ 60


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

năm 2000 (đường màu xanh) và giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2015 (đường màu
đỏ)............................................................................................................................................................ 50
Hình 3.13. Sự biến đổi phạm vi của áp thấp Trung Hoa trong giai đoạn từ 1981 đến
năm 2000 (đường màu xanh) và giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2015 (đường màu
đỏ)............................................................................................................................................................ 51
Hình 3.14. Sự biến đổi phạm vi của áp cao Tây Tạng trong giai đoạn từ 1981 đến
năm 2000 (đường màu xanh) và giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2015 (đường màu
đỏ)............................................................................................................................................................ 52


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khu vực Bắc Bộ cũng như toàn lãnh thổ Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt
đới gió mùa và chịu ảnh hưởng cũng như sự chi phối của gió mùa châu Á, vì vậy
biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến nền nhiệt
cũng như lượng mưa trên khu vực Bắc Bộ và toàn lãnh thổ Việt Nam mà nó còn ảnh
hưởng gián tiếp đến các yếu tố khí tượng như nhiệt độ, mưa,… Trong một số trường
hợp sự kết hợp của nhiều hệ thống thời tiết khác nhau làm cho mưa lớn và nắng
nóng diễn ra phức tạp hơn, trong những năm gần đây đã có rất nhiều nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu về BĐKH vì vậy một loạt các công trình nghiên cứu đã được
thực hiện một cách thành công. Các công trình đó đã tập trung đánh giá được sự
biến đổi của các yếu tố khí hậu như nhiệt độ không khí, lượng mưa, độ ẩm không
khí,… đặc biệt là tần số và cường độ của các xoáy thuận nhiệt đới, front lạnh cũng
như một số yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan.
BĐKH đã và đang diễn ra trên toàn cầu song ở mỗi quốc gia, mỗi vùng có
những ảnh hưởng khác nhau. Nhiệt độ toàn cầu tăng nhưng sự tăng lên đó không
đều. Các nhà khoa học đã chứng minh được rằng, trong các tháng mùa đông nhiệt
độ tăng nhiều hơn trong các tháng mùa hè; trên các vùng lục địa nhiệt độ tăng nhanh
hơn trên các đại dương. Vì vậy, các trung tâm khí áp chắc chắn sẽ bị biến đổi nhiều
dưới tác động của BĐKH.

3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các trung tâm khí áp: Áp cao Thanh Tạng, áp cao Tây Tạng, áp cao Hoa
Đông và áp thấp Trung Hoa.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Toàn bộ Bắc Bộ Việt Nam.
4. Bố cục của luận văn
Luận văn được bố cục thành các nội dung như sau:
-

Mở đầu

-

Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu. Chương này trình bày các trung
tâm khí áp: Áp cao Thanh Tạng, áp cao Tây Tạng, áp cao Hoa Đông và áp thấp
Trung Hoa và tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về sự
BĐKH và sự biến đổi của các trung tâm khí áp trong bối cảnh BĐKH.

-

Chương 2. Số liệu và phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày các nguồn
số liệu và phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận văn.

-

Chương 3. Xác định sự biến đổi của một số trung tâm khí áp và ảnh hưởng của
chúng khí hậu đến Bắc Bộ Việt Nam. Chương này trình bày mức độ BĐKH và biến
đổi cường độ và phạm vi hoạt động của các trung tâm khí áp được nghiên cứu.

-

nhất. Theo phương thẳng đứng, áp thấp này phát triển từ bề mặt lên đến độ cao dưới
700mb.
Rõ ràng rằng, cùng với áp thấp Nam Á, áp thấp Trung Hoa cũng là một trung
tâm hút gió, nó hút gió từ bán cầu Nam, qua lãnh thổ Việt Nam, qua biển Đông cũng
như hút gió từ áp cao cận nhiệt đới Bắc Thái Bình Dương tới. Những dòng gió
3


này ảnh hưởng đến thời tiết Việt Nam nên chính áp thấp này ảnh hưởng đến thời tiết
Việt Nam.
2) Hệ quả thời tiết
Áp thấp Trung Hoa chỉ hoạt động trong các tháng mùa hè khi khu vực này bị đốt
nóng và áp cao Siberia không còn hoạt động. Áp thấp Trung Hoa hoạt động như là
một trung tâm hút gió từ bán cầu Nam lên, từ các áp cao lục địa vùng vĩ độ cao và
từ áp cao cận nhiệt đới Bắc Thái Bình Dương vào nên nó có vai trò như một áp thấp
trong rãnh gió mùa của gió mùa mùa hè Đông Bắc Á. Như vậy, áp thấp này một
nhân tố gió mùa mùa hè Đông Bắc Á và cường độ của nó có ý nghĩa rất lớn đối với
cường độ của gió mùa mùa hè của tiểu hệ thống gió mùa này. Bên cạnh đó, khi áp
thấp này hoạt động mạnh và lấn xuống phía nam và đặc biệt là khi trong nó hình
thành một dải áp thấp sâu, với những tâm khép kín trên đó, chạy theo hướng đông
đông bắc-tây tây nam vùng lưu vực sông Trường Giang thì hình thế front tĩnh
Meiyu được hình thành trên lưu vực sông này và gây mưa kéo dài ở đây trong thời
kì tháng 6, 7. Đồng thời, hình thế thời tiết này lại gây nên những đợt nắng nóng gay
gắt cho khu vực Bắc Bộ Việt Nam.
1.1.2 Áp cao Thanh Tạng [2, 8]
1) Nguồn gốc
Áp cao Thanh Tạng là một áp cao hoạt động trên khu vực cao nguyên Tây
Tạng –Thanh Hải nên được gọi là áp cao Thanh Tạng. Trên bán cầu Bắc, Khromov
đã xác định và phân thành 5 loại áp cao khác nhau với những đặc điểm hoạt động và
hệ quả thời tiết khác nhau, theo đó, áp cao Thanh Tạng là áp cao loại III (C III), áp

tương phản về nhiệt giữa hai khối không khí đó.

Hình 1.2. Bản đồ đường dòng và đường đẳng cao trung bình nhiều năm mực
1000mb tháng 5
1.1.3 Áp cao Hoa Đông [1, 8]
1) Nguồn gốc
Áp cao Hoa Đông là một áp cao hoạt động trên vùng duyên hải phía đông
Trung Quốc nên được gọi là áp cao Hoa Đông. Áp cao này hoạt động từ tháng 9 đến
tháng 11, nhưng rõ rệt nhất là trong tháng 10. Theo độ cao, áp cao Hoa Đông phát
triển từ bề mặt đến trên mực 850mb, nhưng rõ rệt nhất là tại mực 925mb với đường
0

0

đẳng cao 82dam đtv khép kín ở vào khoảng 34 N; 116 E (hình 1.3).
Cũng theo Phạm Vũ Anh và Nguyễn Viết Lành [1, 8], vào mùa thu, áp cao
Hoa Đông hình thành và phát triển ở phía đông lục địa Trung Quốc, đồng thời bao
5


trùm phía bắc và toàn bộ lảnh thổ Việt Nam. Trong áp cao Hoa Đông ở lớp khí
quyển tầng thấp, nó là một áp cao lạnh lục địa được hình thành trên mặt đệm khô
đang lạnh dần đi (nguyên nhân nhiệt lực), còn ở các lớp khí quyển cao hơn trung
tâm áp cao lại thuộc về đới áp cao cận nhiệt đới Bắc Thái Bình Dương, nó được
hình thành bởi nguyên nhân động lực, luôn luôn tồn tại một dòng giáng sâu, ở bên
trên thường tồn tại một lớp nghịch nhiệt nén, khiến cho tầng kết trong áp cao Hoa
Đông rất ổn định.

Hình 1.3. Bản đồ đường dòng và đường đẳng cao trung bình nhiều năm mực 925mb
tháng 10

Áp cao Tây Tạng là một hệ thống khí áp hoạt động trên tầng đối lưu trên sự
hoạt động của nó có mối liên hệ với các trung tâm áp thấp tầng đối lưu dưới trong
cơ cấu của vòng hoàn lưu Hadlay. Vì vậy hệ quả thời tiết của nó gắn liền với sự hoạt
động của các trung tâm khí áp tầng thấp, sự hoạt động của áp cao Tây Tạng sẽ góp
phần làm sâu sắc thêm hệ quả thời tiết của các trung tâm áp thấp, tầng đối lưu
7


dưới, khi áp cao Tây Tạng mạnh lên phía bắc Việt Nam chịu sự khống chế của áp
cao này vì vậy dòng giáng mạnh của áp cao đã làm cho bầu trời quang mây góp
phần cùng với trung tâm áp thấp nóng tầng thấp làm cho thời tiết nắng nóng và
không mưa trên suốt khu vực.
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Ngoài nước
1.2.1.1 Nghiên cứu về sự biến đổi khí hậu
Kết quả quan trắc cho thấy [19], nhiệt độ tăng trên toàn cầu và tăng nhiều
hơn ở các vĩ độ cực Bắc. Sự gia tăng nhiệt độ trong 100 năm, từ năm 1906-2005, là
0

0

0,74 C; xu thế tăng nhiệt độ trong 50 năm gần đây là 0,13 C/1 thập kỉ, gấp 2 lần xu
thế tăng của 50 năm trước đó. Tuy nhiên, sự nóng lên xảy ra không đồng đều trong
các khoảng thời gian khác nhau và giữa các khu vực khác nhau. Các kết quả nghiên
cứu cũng chỉ ra rằng, giai đoạn từ năm 1850-1915 không có nhiều thay đổi về nhiệt
độ. Giai đoạn từ năm 1910-1940 nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên khoảng
0

0



cầu đã cao hơn khoảng 0,47 C so với giai đoạn 1961-1990, và khoảng 0,21 C so với
giai đoạn 1991-2000, mức cao nhất từng được ghi nhận đối với bất kì một giai đoạn
10 năm nào kể từ khi bắt đầu quan trắc khí hậu bằng thiết bị đo đạc. Trong giai đoạn
này, hầu hết các khu vực trên thế giới đều quan trắc được nhiệt độ cao hơn nhiệt độ
trung bình của thế kỉ 20 (ở đây lấy nhiệt độ trung bình là khoảng
8


0

14 C, là nhiệt độ trung bình toàn cầu trong giai đoạn cơ sở 1961-1990), điều này
được thể hiện rõ ràng nhất trên các vĩ độ cao ở bán cầu Bắc. Ở Green Land, các nhà
0

khoa học thấy rằng nhiệt độ trong cả giai đoạn này vượt mức trung bình 1,71 C, còn
0

đối với năm 2010, nhiệt độ vượt mức trung bình 3,2 C. Ở Châu Phi, người ta quan
sát thấy nhiệt độ trong tất cả các năm của thập kỉ đều cao hơn mức trung bình.
Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, nhiệt độ trung bình tại đỉnh các lớp
0

băng vĩnh cửu ở bán cầu Bắc đã tăng 3 C kể từ năm 1980. Kết quả phân tích chuỗi
số liệu từ năm 1850-2006 đã chỉ ra rằng, trong thời kì này có 12 năm nóng nhất,
trong đó 11 năm xảy ra vào thời kì từ năm 1995-2006 (chỉ trừ năm 1996). Trong
0

giai đoạn 1961-1990, nhiệt độ tối cao tăng 0,14 C/thập kỉ, còn nhiệt độ tối thấp tăng
0

0

Trên phạm vi toàn cầu lượng mưa tăng lên ở các đới phía bắc vĩ độ 30 N thời
kì 1901-2005 và giảm đi ở các vĩ độ nhiệt đới, kể từ giữa những năm 1990. Ở khu
vực nhiệt đới, mưa giảm đi ở Nam Á và Tây Phi với trị số xu thế là 7,5% cho cả
thời kì 1901-2005. Ở đới vĩ độ trung bình và vĩ độ cao, lượng mưa tăng lên rõ rệt ở
miền Trung Bắc Mỹ, Đông Bắc Mỹ, Bắc Âu, Bắc Á và Trung Á. Nhìn chung, xu thế
biến đổi hiện tượng mưa lớn là không đồng nhất trên toàn cầu mà nó mang tính chất
khu vực rõ ràng hơn. Các sự kiện mưa lớn tăng lên ở nhiều vùng lục địa từ khoảng
sau 1950, thậm chí ở cả những nơi có tổng lượng mưa có xu thế giảm đi [21].
Hiện tượng hạn hán được quan sát trong thời gian dài, nên có thể đánh giá
một cách khá chi tiết. Kết quả tính toán cho thấy, xu thế hạn hán tăng lên từ giữa
những năm 1950, ở bán cầu Bắc, cụ thể là ở những khu vực như phía nam lục địa
Á-Âu, Bắc Phi, Canada, Alaska còn ở Đông Bắc Mỹ và Nam Mỹ lại hạn hán lại có
xu hướng giảm xuống. Ở bán cầu Nam, bề mặt có độ ẩm cao vào những năm 1970,
và tương đối khô hạn vào những năm 1960 và 1990, đã có một thời kì hạn hán vào
năm 1974-1998. Xu hướng giảm lượng mưa từ năm 1950 có thể là nguyên nhân
chính gây ra hiện tượng khô hạn, mặc dù nhiệt độ bề mặt tăng lên trong 2-3 thập kỉ
qua cũng có thể là nguyên nhân làm hiện tượng hạn tăng lên. Một nghiên cứu đã
cho rằng diện tích đất khô trên toàn cầu đã tăng gấp đôi kể từ năm 1970 trở lại đây,
liên quan tới sự giảm lượng mưa trên đất liền do hoạt động của hiện tượng ENSO và
do sự nóng lên của nhiệt độ bề mặt [21].
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, mực nước biển trung bình toàn cầu đã
tăng lên 197 mm trong giai đoạn từ năm 1870-2004. Trong thế kỉ 20 tốc độ tăng
mực nước biển trung bình tính toán được là 1,7±0,3 mm/năm.
Về cơ bản, sự biến đổi nhiệt độ toàn cầu có thể được tóm tắt như sau: Nhiệt
0

độ tăng lên nhiều nhất ở vùng vĩ độ trung bình và vĩ độ cao (từ 40-70 N), trong mùa
đông tăng nhanh hơn mùa hè, trên lục địa tăng nhanh hơn trên đại dương, trên bán

như những trung tâm ảnh hưởng khác, áp cao Siberia có thể có những biến đổi nhất
định trong những năm gần đây.
Trong 100 năm qua áp cao Siberia đã mạnh lên trong những năm 60 nhưng
lại yếu đi rất nhiều trong những năm 1980 và đầu những năm 1990. Cường độ tại
trung tâm áp cao Siberia yếu đi rõ rệt từ những năm 70 đến những năm 90 với xu
thế giảm tuyến tính là -1,78mb/thập kỷ trong thời gian từ 1976 – 2000. Đồng thời
các tác giả cũng xác nhận rằng, sự biến đổi của nhiệt độ trên vùng vĩ độ trung bình
và cao của châu Á ảnh hưởng tới hai hệ thống áp cao Siberia và dao động Cực Bắc.
Theo công bố của Gong D. Y. và C. H. Ho (2002), cường độ của áp cao
Siberia suy yếu nhiều trong vài thập kỷ gần đây và sự suy yếu này có quan hệ với
nhiệt độ bề mặt trên lục địa châu Á [26].
Wang Bin, Renguang Wu, Lau K.M [27] cũng xác nhận rằng, cường độ của
gió mùa mùa đông Đông Á phụ thuộc vào cường độ và phạm vi hoạt động của áp
cao Siberia và áp thấp Aleut. Khi áp cao Siberia hoạt động mạnh thì gió mùa mùa
đông Đông Á hoạt động mạnh và do đó nền nhiệt độ miền đông Trung Quốc giảm.
Trong khi đó, các nghiên cứu cũng đã xác nhận rằng, gió mùa mùa đông Đông Á đã
11


và đang suy yếu trong những thập kỷ gần đây cùng với sự suy yếu về cường độ của
áp cao Siberia.
Zhou Tianjun và cs. (2009) cũng xác nhận rằng, phạm vi và cường độ của áp
cao Bắc Thái Bình Dương đã và đang tăng lên. Sự tăng này xảy ra ở phía tây mạnh
hơn ở phía đông. Theo các tác giả, sự tăng lên của nhiệt độ (bao gồm cả nhiệt độ
không khí và nhiệt độ nước biển) trên vùng duyên hải phía nam Trung Quốc là
nguyên nhân chính dẫn đến áp cao Bắc Thái Bình Dương mạnh lên và mở rộng sang
phía tây [28].
1.2.2 Trong nước
1.2.2.1 Nghiên cứu về sự biến đổi khí hậu
Việt Nam là quốc gia nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á, với bờ

Khi nghiên cứu về cực trị nhiệt độ, Phan Văn Tân [11] cho thấy, nhiệt độ cao
nhất năm (Tx) và thấp nhất năm (Tm) trong giai đoạn 1961-2007 có xu hướng tăng.
Trong đó, Tx và Tm có xu hướng tăng khá nhanh vào mùa đông và nhìn chung ít
0

biến đổi vào mùa hè (cụ thể, vào tháng 1, Tx tăng khoảng 0,5 C/thập kỉ, Tm tăng
0

0

khoảng 0,8 C/thập kỉ; còn vào tháng 7, Tx giảm khoảng 0,1 C/thập kỉ, Tm tăng
0

khoảng 0,1 C/thập kỉ). Vào tháng 1, tốc độ xu thế của Tx trên khu vực Bắc Bộ và
Bắc Trung Bộ tăng nhanh gấp 4 lần so với các vùng khí hậu Nam Trung Bộ và Nam
Bộ, vào tháng 7 tình hình này trái ngược lại. Còn đối với tốc độ xu thế của Tm, trên
các vùng khí hậu Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ nhanh gấp hai lần so với các vùng khí
hậu Nam Trung Bộ và Nam Bộ trong tháng 1 và tương đương nhau trong tháng 7.
Phù hợp với xu thế tăng của cực trị nhiệt độ, số ngày nắng nóng cũng có xu
hướng tăng lên và số ngày rét đậm có xu thế giảm đi. Đặc biệt là ở các vùng khí hậu
Đông Bắc Bộ, Đồng Bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ xu thế nắng nóng tăng một cách đáng
kể trên hầu hết các trạm. Các trạm Láng và Nam Định mặc dù có số ngày nắng nóng
không nhiều nhưng xu thế tăng mạnh nhất. Xu thế tăng giảm không nhất quán giữa các
trạm trên vùng Tây Bắc Bộ và các vùng khí hậu phía nam. Hiện tượng hạn ở nước ta
cũng có xu hướng tăng lên cả về hạn tháng và hạn mùa, tuy nhiên xu thế tăng không
đều giữa các vùng và các trạm trong một vùng khí hậu. Xu thế tăng của hạn hán lớn
nhất ở các vùng khí hậu phía Nam, và thấp ở các vùng khí hậu phía Bắc.

Khi xác định diễn biến của nhiệt độ không khí trung bình tháng 1 và 7 tại
một số trạm khí tượng đặc trưng cho các vùng khí hậu Việt Nam trong thời kì 19812010, Nguyễn Viết Lành và cộng sự đã khẳng định rằng, nhìn chung, nhiệt độ trong

cả các vùng đều tăng. Lượng mưa ngày cũng tăng lên ở hầu hết các vùng khí hậu,
nhất là các vùng khí hậu phía Nam và trong các tháng mùa mưa. Số ngày mưa lớn
cũng tăng lên một cách khá rõ rệt trên các vùng khí hậu [4].
Lượng mưa không có một xu thế biến đổi đồng nhất trên phạm vi cả nước
như nhiệt độ, có nơi xu thế tăng nhưng cũng có nơi xu thế giảm, trong đó ở Hà Nội
và Thành phố Hồ Chí Minh có xu thế giảm trong 2 thập kỉ gần đây, trong khi ở Đà
Nẵng lại tăng. Ở các tỉnh Nam Trung Bộ, lượng mưa có xu thế giảm, tình trạng khô
hạn tăng lên. Lượng mưa lớn nhất trong 24 giờ cũng tăng lên trong những thập kỉ
gần đây, số ngày mưa lớn cũng tăng lên tương ứng (số ngày mưa lớn có xu thế giảm
ở các vùng khí hậu phía Bắc và có xu thế tăng mạnh ở các vùng khí hậu phía Nam,
nhiều biến động mạnh xảy ra ở khu vực miền Trung. Phần lớn các trạm có xu thế
giảm lượng mưa, nhưng tốc độ giảm không lớn, trung bình khoảng 5-10mm/thập kỉ.
Xu thế này hợp với xu thế tăng của nhiệt độ lượng bốc hơi bề mặt do hiện tượng
nóng lên toàn cầu. Ngược lại xu thế tăng chủ yếu diễn ra trên khu vực ven biển Bắc
và Trung Trung Bộ và một số khu vực khác chịu ảnh hưởng của mưa bão tốc độ
tăng trung bình là khoảng 10-20mm/thập kỉ. Bên cạnh lượng mưa, tần suất hạn
tháng ở các vùng khí hậu phía Nam cũng lớn hơn so với các vùng khí hậu phía Bắc
nhưng tính cực đoan ở các vùng khí hậu phía bắc lại lớn hơn.
Về mực nước biển, theo Nguyễn Văn Thắng [12], nhìn chung mực nước biển
có xu thế tăng trong các vùng trên cả nước, trung bình là khoảng 2,84 mm/50 năm,
tuy nhiên tôc độ tăng không đồng đều, tùy từng khu vực và tùy thời kì. Chỉ có một
14


trạm trong tổng số 12 trạm cho xu thế mực nước biển giảm, đó là trạm Quy Nhơn.
Xu thế tăng của mực nước biển trên hầu hết các dải ven biển nước ta, cho thấy sự
phù hợp với sự tăng nhiệt độ, cũng như xu thế tăng của mực nước biển toàn cầu.
Trong khoảng 50 năm qua, mực nước biển trung bình dâng lên với tốc độ từ
3-4mm/năm, nghĩa là trong gần nửa thế kỉ vừa qua, mực nước biển ở Việt Nam
dâng lên khoảng 15-20cm [3, 9]. Mực nước biển cao nhất có tốc độ xu thế cao hơn,




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status