TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG - LÂM BẮC GIANG
KHOA LÂM NGHIỆP
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP TRONG
CÔNG TÁC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY RỪNG TẠI XÃ TA GIA, HUYỆN
THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
MÃ SỐ: 15DQLTNR0066
Giáo viên hướng dẫn: Ths. Nguyễn Tuấn Cường
Sinh viên thực hiện: Lường Liên Thanh
Khóa học: 2015 – 2019
Bắc Giang, năm 2018
LỜI CẢM ƠN
Để đánh giá kết quả học tập tại Trường Đại học Nông – Lâm Bắc Giang,
giúp sinh viên hoàn thiện hơn trong công tác nghiên cứu khoa học, đồng thời
gắn kết công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học với thực tiễn. Được sự đồng ý
của ban giám hiệu Trường Đại học Nông – Lâm Bắc Giang và khoa Lâm nghiệp
em tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài tốt nghiệp “Đánh giá và đề xuất một
số biện pháp trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại xã Ta Gia, huyện
Than Uyên, tỉnh Lai Châu”.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy Nguyễn Tuấn Cường, các cán
bộ UBND xã Ta Gia, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, và các thầy cô, các bạn
trong khoa Lâm Nghiệp Trường Đại Học Nông - Lâm Bắc Giang đã tận tình
giúp đỡ em hoàn thành báo cáo này.
Do trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế, chưa có nhiều kinh nghiệm
BV&PTR
BCH
NĐ
CP
Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Chữa cháy rừng
Dự báo cháy rừng
Khu vực nghiên cứu
Vật liệu cháy
Vật liệu
Hội đồng nhân dân
Ủy ban nhân dân
Bảo vệ rừng
Quyết định
Ban chỉ đạo
Dịch vụ môi trường rừng
Bảo vệ và phát triển rừng
Ban chấp hành
Nghị định
Chính phủ
DANH LỤC CÁC BẢNG BIỂU
TT
1.
Tên bảng
Thực trạng cháy rừng,
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của con người, chiếm một phần ba diện tích
đất liền trên trái đất. Nó cung cấp các dịch vụ thiết yếu, góp phần duy trì sự
sống trên hành tinh, bảo đảm sinh kế cho khoảng 1,6 triệu người trên thế giới.
Chính vì vậy, việc bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng là nhiệm vụ thiết yếu
đối với mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam.
Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, được biết đến là một quốc gia
có sự đa dạng sinh học rất cao. Với diện tích rừng trên 12.3 triệu ha, trong đó
có hơn một nửa là các loại rừng dễ cháy. Theo báo cáo hàng năm của cục
Kiểm lâm, trung bình mỗi năm mất đi khoảng từ 30.000- 50.000 ha rừng, trong
đó khoảng 10% diện tích rừng mất đi là hậu quả của cháy rừng. Theo số liệu
thống kê trên cả nước, trung bình mỗi năm xảy ra 1.413 vụ cháy rừng, gây
thiệt hại 3.616 ha rừng tự nhiên và 3.032 ha rừng trồng. Chính vì vậy, công tác
phòng cháy chữa cháy rừng luôn được đặt ra là một trong những nhiệm vụ
quan trọng và cấp bách của các cấp, các ban ngành và toàn xã hội.
Diện tích rừng toàn huyện Than Uyên có 35.678 ha. Trong đó rừng trồng trên
11.615 ha, rừng tự nhiên 24.000 ha. Bên cạnh việc bảo vệ và phát triển rừng,
công tác phòng cháy chữa cháy rừng luôn được Ban quản lý quan tâm, là
nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, công tác quản lý phòng cháy chữa
cháy rừng tại đây còn gặp nhiều hạn chế như: địa bàn rộng lớn, địa hình phức
tạp, cùng nguồn nhân lực và phương tiện hạn chế, chưa có những kế hoạch cụ
thể thực tiễn hay chưa được sự quan tâm đúng mức của các cơ quan chức
năng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp phòng cháy chữa
cháy rừng tại đây là vô cùng cần thiết.
Xuất phát từ vấn đề nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực
trạng và đề xuất một số biện pháp trong công tác phòng cháy chữa cháy
rừng tại xã Ta Gia, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu” nhằm đưa ra được
Đã có nhiều chủ chương chính sách được ban hành về công tác PCCCR, tuy
nhiên việc thực hiện còn gặp rất nhiều khó khăn, do địa hình đồi núi phức tạp,
đi lại khó khăn, lực lượng tham gia PCCCR còn nhiều hạn chế.
1.2. ở Việt Nam
Công tác dự báo cháy rừng ở Việt Nam đã được thực hiện từ năm 1981 trở lại
đây nhưng vấn không mang lại hiểu quả cao.
Nhiều nhà lâm nghiệp của Việt Nam đã nghiên cứu và đưa ra được những
phương pháp dự báo cháy rừng với khí hậu của Việt Nam.
- Xác định mùa cháy theo chỉ số khô hạn của Thái Văn Chừng
X= S xAx D
Trong đó: X là chỉ số khô hạn
S là số tháng khô hạn với lượng mưa bình quân P < 2
A là số tháng hạn với các tháng có lượng mưa P< T
P là số tháng kiệt Pmm < 5mm
( T là nhiệt độ trung bình tháng theo dõi)
- Năm 1988, Phạm Ngọc Hưng đã biên soạn và áp dụng phương pháp của
Nestorop để dự báo cháy rừng ở Quảng Ninh theo các chỉ tiêu: Nhiệt độ không
khi, độ chênh lệch lúc 13h và lượng mưa ngày của tỉnh Quảng Ninh. Sau đó
tác giả đưa vào một số vụ cháy rừng được thống kê cùng các năm nêu trên để
chỉnh lý lại số liệu của cấp cháy rừng và đưa ra 5 cấp (P). Cấp 1 < 1000, cấp 5
> 10000, mặt khác đứng trước tình hình cháy rừng ở một số nơi trên toàn quốc
nhà nước Việt Nam đã ban bố những chỉ thị, quyết định giúp cho công tác
phòng chống cháy rừng được tiến hành thuận lợi và có hiểu quả hơn như quyết
định số 127/2000/QĐ – KL ngày 11 / 12 /2000 của Bộ nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn về xây dựng hoàn chỉnh hệ thống mạng lưỡi phòng cháy chữa
cháy rừng.
Từ 1989-1991 Dự án tăng cường khả năng phòng cháy, chữa cháy rừng cho
Việt Nam của UNDP đã nghiên cứu, soạn thảo phương pháp dự báo nguy cơ
cháy, chữa cháy rừng cũng như những phương pháp và phương tiện phòng
cháy, chữa cháy rừng. Mặc dù trong các quy phạm phòng cháy, chữa cháy rừng
có đề cập đến những tiêu chuẩn của các công trình phòng cháy, chữa cháy
rừng, những phương pháp và phương tiện phòng cháy, chữa cháy rừng, song
phần lớn đều được xây dựng trên cơ sở tham khảo tư liệu của nước ngoài, chưa
có khảo nghiệm đầy đủ trong điều kiện Việt Nam (Đặng Vũ Cẩn, 1992).
- Nghiên cứu biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng
Các nghiên cứu về biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng ở Việt Nam chủ yếu
hướng vào thử nghiệm và phân tích hiệu quả của giải pháp đốt trước nhằm
giảm khối lượng vật liệu cháy. Phó Đức Đỉnh (1993) đã thử nghiệm đốt trước
vật liệu cháy dưới rừng thông non 2 tuổi tại Đà Lạt. Theo tác giả ở rừng thông
non nhất thiết phải gom vật liệu cháy vào giữa các hàng cây hoặc nơi trống để
đốt, chọn thời tiết đốt để ngọn lửa âm ỉ, không cao quá 0.5 m có thể gây cháy
tán cây. Phan Thanh Ngọ thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy dưới rừng thông 8
tuổi ở Đà lạt (Phan Thanh Ngọ, 1995). Tác giả cho rằng với rừng thông lớn
tuổi không cần phải gom vật liệu trước khi đốt mà chỉ cần tuân thủ những
nguyên tắc về chọn thời điểm và thời tiết thích hợp để đốt. Tác giả cho rằng có
thể áp dụng đốt trước vật liệu cháy cho một số trạng thái rừng ở địa phương
khác, trong đó có rừng khộp ở Đắc Lắc và Gia Lai.
Ngoài ra, đã có một số tác giả đề cập đến giải pháp xã hội cho phòng cháy,
chữa cháy rừng (Lê Đăng Giảng, 1974; Đặng Vũ Cẩn, 1992; Phạm Ngọc
Hưng, 1994). Các tác giả đã khẳng định rằng việc tuyên truyền về tác hại của
cháy rừng, quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy, hướng dẫn về phương pháp dự
báo, cảnh báo, xây dựng các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng, tổ chức
lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng, quy định về dùng lửa trong dọn đất
canh tác, săn bắn, du lịch, quy định về nghĩa vụ và quyền lợi của công dân
v.v... sẽ là những giải pháp xã hội quan trọng trong phòng cháy, chữa cháy
rừng. Tuy nhiên, phần lớn những kết luận đều dựa vào nhận thức của các tác
2015
4
9
6,5
Nguyên nhân
dụng
2,5
-
Đốt nương,
làm rẫy, trẻ em
đốt lửa sưởi
2016
2017
2018
2
2
1
5,5
3,5
2,6
PHẦN II
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu chung:
Góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý lửa rừng tại xã Ta Gia,
huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể:
- Xác định được những nhân tố ảnh hưởng đến nguy cơ cháy rừng tại xã
Ta Gia, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đề xuất được một số giải pháp quản lý cháy rừng tại xã Ta Gia, huyện
Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
2.2. Phạm vi và giới hạn của đề tài.
Cháy rừng là một hiện tượng diễn ra phức tạp dưới ảnh hưởng tổng hợp của
nhiều nhân tố. Nghiên cứu phòng cháy chữa cháy rừng có nhiều nội dung, đòi
hỏi đầu tư công sức và kinh phí lớn. Trong khuôn của chuyên đề này với
những hạn chế nhất định về thời gian và điều kiện nghiên cứu tôi chỉ đi sâu
nghiên cứu đặc điểm tài nguyên rừng. Đây là một trong những cơ sở quan
trọng để xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng ở địa phương.
2.3. Nội dung nghiên cứu.
Để đạt được các mục tiêu đề ra, đề tài tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố rừng và tình hình cháy rừng tại xã Ta
Gia, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý lửa rừng tại xã Ta Gia, huyện
Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Nghiên cứu đặc điểm những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến cháy rừng
tại xã Ta Gia, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đề xuất một số giải pháp quản lý cháy rừng cho xã Ta Gia, huyện Than
Uyên, tỉnh Lai Châu.
3.1.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu.
3.1.1.1. Vị trí địa lý.
Ta Gia là xã vùng II của huyện Than Uyên, cách trung tâm huyện 25 km về
phía Đông Nam. Phía Đông giáp bản Tà Lồm Khoen On và xã Tà Mung, phía
Nam giáp với xã Khoen On, phía Tây giáp xã Tà Hừa và huyện Quỳnh Nhai
tỉnh Sơn La, phía Bắc giáp với xã Mường Kim.
3.1.1.2. Địa hình:
Xã có địa hình tương đối phức tạp, đa dạng, bị chia cắt bởi các dãy núi cao và
khe suối, xã nằm trong khu vực lòng chảo được bao quanh bởi các dãy núi có
độ cao trung bình từ 400m đến 1.000m so với mặt nước biển. Đồi núi cao, độ
dốc lớn, địa thế phức tạp.
Nằm ở phía tây dãy núi Hoàng Liên Sơn.
Ta Gia thuộc lưu vực sông Nậm Mu nằm giữa hai thủy điện bản Chát và thủy
điện Hội Quảng.
3.1.1.3. Khí hậu.
Khí hậu có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô.
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9, lương mưa tập chung trong tháng 6
và tháng 7 hàng năm.
- Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, sông suối cạn kiệt, thường
xuất hiện gió khô hanh (Gió Lào).
- Lượng mưa trung bình 1.800 – 2.200 mm/năm.
- Nhiệt độ trng bình từ 22 – 23oC.
- Độ ẩm không khí trung bình 80%.
3.1.1.4. Thuỷ văn.
Ta Gia, có một hệ thống thuỷ văn dày đặc với nhiều khe, suối lớn, nhỏ phân
bố ở khác các bản hoặc không lớn lắm.
Ta gia, có một hệ thống sông suối chính là sông Nậm Mu là một phụ lưu
cấpmootjcuar sông đà chảy ở các tỉnh Lai Châu và Sơn La, Việt Nam sông có
tuyên truyền để giúp cho bà con chống lại các bệnh dịch.
3.1.2.3 Giáo dục, đào tạo
Hệ thống giáo dục hầu hết của các thôn bản đã được nâng cấp. Tuy nhiên một
số thôn bản người H'Mông do phong tục, tập quán và đường xá đi lại cực kỳ
khó khăn, và hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không được chú trọng nhiều
đến việc học tập. UBND xã và cán bộ giáo viên đã xuống tận thôn, bản vào hộ
gia đình đã vận động, giải thích cho con em họ đi học trở lại. Tuy nhiên tình
trạng bỏ học vẫn thường xuyên xảy ra.
Chương trình 135 của Chính phủ và dự án WB đã xây dựng các phòng học kiên
cố tại các xã, tập trung cho các thôn, hộ nghèo; chương trình cho vay vốn tín
dụng hỗ trợ học tập, xây dựng hệ thống nước sạch... Người dân địa phương cũng
đóng góp để thực hiện các chương trình này. Nhìn chung, cơ sở vật chất của
ngành giáo dục còn thiếu thốn chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra.
Đội ngũ giáo viên còn thiếu, tỷ lệ giáo viên người địa phương còn khiêm tốn
và nếu có thì phân bố không đều ở các cấp học. Chủ yếu là giáo viên các lớp
mầm non và cấp I. Số giáo viên dạy cấp II, thường là các thầy cô giáo ở tỉnh,
huyện và từ miền xuôi lên công tác. Nhưng do điều kiện thiếu thốn về chỗ ở,
thiếu thông tin nên nhiều thầy, cô không thật sự yên tâm công tác, khiến họ
không tập trung hết sức cho học sinh và phấn đấu phát triển chuyên môn.
3.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên.
* Thuận lợi:
Được sự quan tâm lãnh chỉ đạo sát sao của Huyện ủy, HĐND - UBND huyện,
BCH PCCCR huyện Than Uyên, Hạt Kiểm lâm, các phòng ban chuyên môn
của huyện bằng các Chỉ thị, Quyết định, về việc tăng cường các biện pháp cấp
bách trong công tác BVR - PCCCR. Tăng cường nguồn đầu tư kinh phí, cấp
phát trang thiết bị, dụng cụ chữa cháy.
Lãnh đạo Đảng Ủy, HĐND - UBND xã luôn coi trọng chỉ đạo công tác BVR PCCCR, xác định đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của xã. Sự phối hợp
chặt chẽ của các ban, nghành, đoàn thể trong xã đặc biệt là sự kết hợp chặt chẽ giữa
Diện tích(ha)
9
Số vụ cháy
3
2016
5,5
2
2017
3.5
2
2018
2.6
1
Tổng
20,6
8
4
50
8
100
Từ biểu 02 cho thấy, nguyên nhân chính gây cháy rừng là do con người dùng
lửa không đúng quy định ở trong rừng và ven rừng. Các vụ cháy rừng xảy ra
đều do sự vô ý hay cố ý , 50% không rõ nguyên nhân là 1 số cá nhân cố tình
đốt ban đêm để không bị phát hiện.
3.3. Thực trạng công tác PCCCR trên địa bàn xã.
Các công tác phòng cháy chữa cháy rừng hiện đang áp dụng tại địa phươmg
trong xã Ta Gia năm nào cũng thực hiện triển khai vì phòng là chính cho nên
năm nào đến mùa khô hanh xã luôn luôn quan tâm triển khai thực hiện về các
nội dung phương án phòng cháy chữa cháy rừng và cháy rừng gây thiệt hại về
nhiều mặt như: Kinh tế xã hội, làm ảnh hưởng đến trữ lượng rừng hiện có, các
vi sinh vật sống trong đất, làm cho các loại động, thực vật ở nơi đó không có
chỗ ở phải di cư đi nơi khác thậm chí các loại vi sinh vật đó còn chết, cháy
rừng cũng nguy hiểm về cả tính mạng con người, khi đi dập tắt đám cháy cho
nên cần phải thận thận khi tham ra chữa cháy rừng.
3.3.1. Cơ cấu tổ chức PCCCR tại xã Ta Gia.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến thành công trong công tác quản lý bảo
vệ rừng, phòng cháy chữa, cháy rừng của xã là phải kiện toàn bộ máy chỉ đạo
từ cấp Huyện đến cấp xã, cấp tổ chức PCCCR ở các thôn bản. Đặt biệt là
những vùng trọng điểm rễ xẩy ra cháy rừng thể hiện ở sơ đồ sau:
cháy rừng và tiến hành chữa cháy được nhanh chóng, an toàn và hiệu quả.
Ban chỉ đạo cấp xã và tổ bảo vệ ở cấp bản hàng năm xem xét lại phương án đã
được thực hiện trước.
Lập phương án mới và củng cố tổ chức hoạt động trong năm theo phương
châm thừa kế những hiệu quả tối ưu và khắp phục những sai xót.
Thực tế qua tìm hiểu và điều tra cho thấy ở Ta Gia. Đã có sự phối hợp chặt chễ
với hạt Kiểm Lâm Huyện Than Uyên, đem lại hiệu quả cao trong công tác
tuyên truyền PCCCR và hạn chế đuợc xẩy ra cháy rừng.
3.3.2. Các hoạt động PCCCR.
* công tác tuyên truyền PCCCR.
Tuyên truyền vận động người dân đốt nương làm rẫy đúng quy định,
không dùng lửa đốt ong, săn bắn và đốt lấy cỏ chăm nuôi gia súc.
Yêu cầu các hộ gia đình trong toàn xã ký cam kết bảo vệ rừng, không
phát đốt nương bừa bãi.
* Công tác tổ chức dự báo cháy rừng.
- Công tác tổ chức và theo dõi lửa rừng.
Ngăn chạn việc cháy rừng là một công việc rất khó khăn bên cạnh đó
việc ngăn chạn nạn cháy rừng còn khó khăn hơn. Đầu mùa khô ban chỉ đạo xã
luôn chỉ đạo xây dựng các phương án PCCCR. Đến nay tất cả xã điều có tổ
chức phòng cháy chữa cháy và các hộ chuyên trách về phòng cháy, các chủ
rừng thường xuyên tuần tra. Khi xẩy ra cháy rừng phải kịp thời phát hiện có
hiệu lệnh chữa cháy, tất cả người dân trong thôn bản khi xẩy ra cháy rừng phải
tham gia cứu chữa cháy rừng.
* công tác phòng cháy
Để thực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng có hiệu quả ban
chỉ đạo PCCCR của xã đã áp dụng một số phương án sau:
+ Đường băng cản lửa: Người dân xây dựng đường băng xung quanh
khu vực giáp danh giới nương rẫy với chiều rộng 10 -15 m trở lên đường băng
huyện, BCH PCCCR huyện Than Uyên, Hạt Kiểm lâm, các phòng ban chuyên
môn của huyện bằng các Chỉ thị, Quyết định, công điện về việc tăng cường
các biện pháp cấp bách trong công tác BVR - PCCCR. Tăng cường nguồn đầu
tư kinh phí, cấp phát trang thiết bị, dụng cụ chữa cháy.
* Khó khăn
Đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn. Vì thế mà dân bản muốn
tăng thêm diện tích nương rẫy để nâng cao thu nhập cho nên đẫn đến đã lấm
chiếm đất rừng trái phép và làm ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng.
Dụng cụ, phương tiện PCCCR còn thô sơ, thiếu nên khi sảy ra cháy
rừng chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác PCCCR một cách có hiệu quả.
Do đó khả năng tuyên truyền của cán bộ Lâm nghiệp còn hạn chế về
năng lực, chuyên môn nên nhận thức của người dân còn chưa cao
3.4. Xây dựng phương án phòng cháy và chữa cháy rừng năm 2018
– 2019 cho xã Ta Gia.
Xây dựng phương án PCCCR năm 2018 – 2019 giúp phần nâng cao
trách nhiệm quản lý Nhà nước của chính quyền địa phương, trách nhiệm của
lực lượng bảo vệ rừng, trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ rừng và nhân dân
trong công tác PCCCR trên địa bàn xã.
Nâng cao năng lực chỉ huy, điều hành, hiệp đồng phối hợp giữa các lực
lượng theo phương châm “4 tại chỗ” trong công tác PCCCR.
Chủ động các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng nhằm hạn chế đến
mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra.
- Luật phòng cháy và chữa cháy được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001;
- Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Thủ tướng Chính
phủ ban hành quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng;
- Quyết định số 36/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 của UBND tỉnh về việc
sửa đổi, bổ sung Quyết định số 39/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 của UBND
* Liệt kê những vùng trọng điểm thường xẩy ra cháy rừng để có giải
pháp kịp thời.
Từ tình hình thực tế, tổng kết trên địa bàn qua theo dõi nhiều năm,cũng
như tình hình phân bố vật liệu cháy, kết cấu địa hình… Xác định địa bàn chủ
yếu như sau:
+ Bản Gia
+ Bản Noong Qoài
+ bản Hua Mỳ
- Ba bản này là bản trọng điểm hàng năm dễ xẩy ra cháy rừng các chính
quyền cơ sở phải tập trung cảnh giác thực hiện tốt công tác tuyên truyền.
PCCCR sâu rộng tại địa bàn, chủ động nhân lực, tăng thêm tổ bảo vệ chỉ đạo
cứu chữa kịp thời khi có đám cháy xẩy ra.
Tôi đã tiến hành lên 3 bản này phỏng vấn, (chủ yếu là người H'Mông
sinh sống bản Hua Mỳ và Noong Qoài) khảo sát thì Tôi cũng hiểu được
nguyên nhân là do:
+ Người dân thiếu ý thức, tự bản thân phát nương trái phép, Không làm
đường băng cản lửa, quá chủ động.
+ Do địa hành thung lũng quá dốc, vật liệu và cây chủ yếu là Rừng Tre Nứa xen rừng tự nhiên.
+ Chưa hiểu được cháy rừng gây thiệt hại về nhiều mặt nhất là về môi
trường và kinh tế.
* Triển khai công tác dự báo cháy rừng.
Thông tin dự báo cháy rừng là việc làm hết sức quan trọng có thông tin
chính xác kịp thời giúp cho việc xử lý tình huống, bố trí nhân lực đủ điều kiện
thực hiện nhiệm vụ chữa cháy. Chủ động an toàn cho người và phương tiện
tham gia chữa cháy.