Xác định sự biến đổi một số chỉ tiêu chất lượng của nhãn rời trong thời gian bảo quản và tạm trữ sau khi được xử lý sau thu hoạch ở điều kiện tối ưu - Pdf 52

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM

= = = = = = = =

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Xác định sự biến đổi một số chỉ tiêu chất lượng của
nhãn rời trong thời gian bảo quản và tạm trữ sau khi
được xử lý sau thu hoạch ở điều kiện tối ưu

Người thực hiện

: Nguyễn Thị Kim Thanh

Lớp

: Công nghệ thực phẩm B

Khoá

: 56

Người hướng dẫn

: TS. Trần Thị Định

Bộ môn

: Công nghệ chế biến

HÀ NỘI, 1/2015

nhóm sinh viên nghiên cứu khoa học cùng toàn thể các bạn sinh viên lớp Công
nghệ thực phẩm A và Công nghệ thực phẩm B đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi muốn dành lời cảm ơn sâu sắc nhất tới những người thân
trong gia đình và tất cả bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận
lợi cho tôi đề tôi hoàn thành tốt đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 01 năm 2015.
Sinh viên

Nguyễn Thị Kim Thanh

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... ii
MỤC LỤC ............................................................................................................ iii
DANH MỤC BẢNG ............................................................................................ vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU .......................................... viii
PHẦN THỨ NHẤT – MỞ ĐẦU ........................................................................ 1
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................................................ 1
1.2. Mục đích – yêu cầu ................................................................................. 2
1.2.1. Mục đích .......................................................................................... 2
1.2.2. Yêu cầu ............................................................................................ 2
PHẦN THỨ HAI – TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................. 3
2.1. Giới thiệu chung về cây nhãn ................................................................. 3
2.1.1. Nguồn gốc và sự phân bố ............................................................... 3
2.1.2. Một số giống nhãn của Việt Nam .................................................... 4

3.3.2. Phương pháp phân tích ................................................................. 19
PHẦN THỨ TƯ- KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ............................................ 22
4.1. Ảnh hưởng của xử lý sau thu hoạch ở điều kiện tối ưu tới sự biến đổi
chất lượng của nhãn rời trong thời gian bảo quản ở nhiệt độ thường ......... 22
4.1.1. Hao hụt khối lượng tự nhiên của nhãn rời khi được bảo quản ở
nhiệt độ thường........................................................................................ 22
4.1.2. Biến đổi chỉ số nâu hóa của vỏ quả khi được bảo quản ở nhiệt
độ thường ....................................................................................... 23
4.1.3. Biến đổi chỉ số bệnh của nhãn rời khi được bảo quản ở nhiệt độ
thường ...................................................................................................... 24
4.1.4. Diễn biến tỷ lệ thối hỏng quả khi được bảo quản ở nhiệt độ thường ...25
iv


4.1.5. Sự biến đổi hàm lượng chất khô hòa tan của nhãn rời bảo quản ở
nhiệt độ thường ........................................................................................ 26
4.1.6. Sự biến đổi chỉ số axit của nhãn rời khi được bảo quản ở nhiệt
độ thường ................................................................................................ 27
4.2. Ảnh hưởng của xử lý sau thu hoạch ở điều kiện tối ưu tới sự biến đổi
chất lượng của nhãn rời trong thời gian bảo quản lạnh và tạm trữ ............. 29
4.2.1. Sự hao hụt khối lượng tự nhiên của nhãn rời khi được bảo quản lạnh.... 29
4.2.2. Biến đồi chỉ số nâu hóa của vỏ quả khi được bảo quản lạnh và tạm trữ.. 30
4.2.3. Sự phát triển bệnh do vi sinh vật của nhãn rời khi được bảo quản
lạnh và tạm trữ ......................................................................................... 32
4.2.4. Diễn biến tỷ lệ thối hỏng quả khi được bảo quản lạnh và tạm trữ .......... 34
4.2.5. Biến đổi hàm lượng chất khô hòa tan của nhãn khi được bảo
quản ở nhiệt độ lạnh và tạm trữ ...................................................... 36
4.2.6. Sự biến đổi chỉ số axit của nhãn rời khi được bảo quản lạnh và tạm trữ ..37
4.2.7. Chất lượng cảm quan của nhãn rời khi được bảo quản lạnh và tạm trữ .. 39
PHẦN THỨ NĂM – KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................... 41

Hình 4.11: Tỷ lệ thối hỏng của quả khi được bảo quả lạnh và tạm trữ .............. 35
Hình 4.12: Sự hao hụt hàm lượng chất khô hòa tan của quả khi được bảo quản
lạnh và tạm trữ .................................................................................................... 36
Hình 4.13: Sự biến đổi chỉ số axit của quả khi được bảo quản lạnh và tạm trữ . 38
Hình 4.14: Chất lượng cảm quan của quả khi được bảo quản lạnh và tạm trữ... 39

vii


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU

CT

:

Công thức

CBZ

:

Carbendazim

DTĐL

:

Diện tích đục lỗ

HHKLTN :

Dũng, 2001).
Quả nhãn là một trong các loại quả có giá trị dinh dưỡng cao, hương vị
thơm ngon, bổ dưỡng được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng. Tuy
nhiên thời vụ thu hoạch nhãn khá tập trung ở điều kiện thời tiết nóng ẩm của
mùa hè, nếu không tiêu thụ nhanh thì quả rất dễ bị hư hỏng. Hơn nữa nhãn là
loại quả có tuổi thọ bảo quản tương đối ngắn, chỉ tồn tại 2 – 3 ngày ở điều kiện
thường do mất nước, biến màu trên vỏ quả gây khó khăn trong việc thương mại
hóa (Lin và cs, 2001).
Với mong muốn duy trì được các chỉ tiêu chất lượng cũng như giá trị cảm
quan của nhãn, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân, an toàn cho người sử
dụng Vũ Thị Thùy Dương (2014) đã tiến hành nghiên cứu thí nghiệm đa yếu tố
để tối ưu hóa phương pháp xử lý sau thu hoạch nhằm duy trì một số chỉ tiêu chất
lượng trong quá trình bảo quản nhãn Hương Chi trồng tại Hồng Nam – Hưng
Yên. Kết quả cho thấy việc xử lý kết hợp giữa carbendazim 0,1%, oxalic
4,86mM và bao gói bằng màng polypropylene với diện tích đục lỗ túi 0,0105%
bảo quản trong kho lạnh ở điểu kiện 4±1oC có ảnh hưởng tốt nhất đến việc làm
chậm quá trình nâu hóa, hạn chế bệnh sau thu hoạch, giảm tỷ lệ thối hỏng và
hàm lượng chất khô hòa tan tổng số của quả. Tuy nhiên để đưa được sản phẩm
nhãn bảo quản đến được được với người tiêu dùng thì nhãn phải trải qua quá
trình tạm trữ sau khi rời kho lạnh, trong khi đó kết quả tối ưu trên mới đánh giá
1


được sự ảnh hưởng, sự tương tác giữa các yếu tố thí nghiệm đến chất lượng
nhãn trong quá trình bảo quản lạnh. Hơn thế nữa với điều kiện kinh tế và thị
trường Việt Nam hiện nay thì việc bảo quản và lưu trữ nông sản sau thu hoạch ở
điều kiện thường được vẫn được áp dụng khá phổ biến.
Với mục đích kiểm chứng lại kết quả nghiên cứu tối ưu và khảo sát sự
biến đổi chất lượng của nhãn bảo quản ở nhiệt độ thường và tạm trữ sau khi bảo
quản lạnh, chúng tôi thực hiện đề tài: “Xác định sự biến đổi một số chỉ tiêu

biển gần Cà Ná, cách Phan Rang 30km về phía Nam (Nguyễn Mạnh Dũng,
2001).
Trung Quốc là nước có diện tích nhãn lớn nhất và sản lượng vào loại
hàng đầu trong các nước trồng nhãn. Ngoài Trung Quốc nhãn còn được
trồng nhiều ở Thái Lan, Ấn Độ, Malaysia,Việt Nam và Philippin… Đến thế
kỉ 19 nhãn mới được trồng ở châu Mỹ, châu Phi, châu Đại Dương ở các
vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới. Ở Việt Nam, cây nhãn được trồng lâu nhất là
ở chùa Phố Hiến thuộc xã Hồng Châu, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
cách đây chừng 300 năm (Trần Thế Tục, 2004).
Hiện nay nhãn được trồng ở nhiều địa phương trên cả nước như: Hưng
Yên, Hà Nam, Thái Bình, Hà Nội, Bắc Giang, Hải Phòng… nhiều nhất là
Hưng Yên. Ở khu vực này có khoảng gần 3 triệu cây nhãn, tập trung ở thị xã
Hưng Yên, các huyện Tiên Lữ, Phù Tiên, Kim Thi, Cẩm Bình…Gần đây do
nhu cầu của thị trường cây nhãn đã được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi
phía Bắc như Hòa Bình, Sơn La, Phú Thọ, Thái Nguyên, Lạng Sơn… các
tỉnh phía Nam như: Đồng Tháp, Sóc Trăng, Vĩnh Long… và nhất là Tiền
Giang có diện tích nhãn tăng rất nhanh trồng tập trung thành các trang trại
có quy mô từ 10 đến 100 ha (Nguyễn Mạnh Dũng, 2001).

3


2.1.2. Một số giống nhãn của Việt Nam
Theo kết quả điều tra bước đầu về giống nhãn của “Viện nghiên cứu Rau
quả” cho thấy nước ta hiện đang trồng một số giống nhãn sau:
 Giống nhãn Miền Bắc:
Nhãn lồng: Quả tròn, to gần như quả vải thiều. Trọng lượng quả trung
bình 12 - 17g, cùi dày vân hanh vàng, các múi lồng vào nhau rất rõ, trên mặt cùi
nhãn có nhiều đường gân nổi xếp chằng chịt có cái như vảy rồng. Quả ăn giòn
và ngọt, thơm mát. Vỏ quả dày, giòn dễ tách, chín sớm. Phần ăn được chiếm

nâu sẫm. Quả to bằng quả nhãn thóc ở miền Bắc, không có hạt hay có hạt lép
như hạt tiêu, đen nhánh. Khi chín cùi dày giòn thơm. Do phẩm chất và hương vị
của quả có nhiều ưu điểm nên rất được ưa chuộng trên thị trường.
Nhãn tiêu da bò (nhãn tiêu Huế): quả chín có màu vàng da bò. Khối lượng
quả trung bình khoảng 10g, cùi dày, ráo nước, hạt nhỏ. Phần ăn được chiếm
khoảng 60% khối lượng quả. Nhãn tiêu da bò có độ ngot vừa phải, ít thơm nên
chủ yếu dùng để ăn tươi.
Nhãn Vĩnh Châu: trồng nhiều ở Vĩnh Châu (Sóc Trăng) trên vùng đất ven
biển bị nhiễm mặn. Hạt tương đối to, nhiều nước, cùi mỏng, ngọt nhưng khó
tách hạt. Giống này tuy ăn không ngon bằng nhãn cùi hay nhãn đường phèn ở
miền Bắc, song có ưu điểm thích nghi với đất xấu, có ảnh hưởng mặn.
Nhãn long hạt: giống nội nhập từ Thái Lan. Quả to gần bằng quả vải
thiều. Vỏ quả màu vàng, mỏng, mền. Phẩm chất quả gần giống nhãn tiêu.
2.1.3. Đặc tính thực vật quả nhãn
Quả nhãn có hình cầu, tròn dẹp, cân đối hay hơi lệch, đỉnh quả tròn cuống
quả hơi lõm (Trần Thế Tục, 2004). Theo Nguyễn Mạnh Dũng (2001) cấu tạo
của quả nhãn bao gồm: cuống quả, vỏ quả, thịt quả.
Cuống quả: nối kết giữa quả với chùm quả. Phần này thường có kết cấu
xốp, mền nên là nơi trú ngụ và xâm nhập của một số đối tượng vi sinh vật và sâu
hại như sâu đục cuống quả và ruồi đục quả. Những loại sâu này gây nên hư hỏng
cho quả cả trước và sau thu hoạch làm giảm phẩm chất của quả trên thị trường
nhất là thị trường thế giới.
Vỏ quả: cấu tạo chủ yếu là xeluloza nhằm bảo vệ quả. Nhãn thuộc dạng
vỏ nhám, chính sự cấu tạo này đã tạo điều kiện tốt cho các loài vi sinh vật gây
hại như vi khuẩn, nấm mốc, nấm men khu trú… làm biến màu và thối hỏng quả
trong quá trình bảo quản.
5


Lớp cùi hay thịt quả: nằm giữa vỏ và hạt màu trắng hoặc trắng sữa thơm

Năng lượng

Kcal

109,0

3

Protein

G

1,0

4

Chất béo

G

0,5

5

Hydratcarbon

G

25,2


28

10

Vitamin B1

Mg

0,04

11

Vitamin B2

Mg

0,07

12

Vitamin C

Mg

8,0
Nguồn: Wong and Saichol (1991)

6



Xuyên, ngoài ra nhãn còn được trồng ở Vân Nam, Qúy Châu. Diện tích gieo
7


trồng tổng số ở Trung Quốc năm 1997 đạt 432.400 ha với sản lượng 232.000 tấn
(Trần Thế Tục, 2004).
Thái Lan là quốc gia đứng thứ hai về diện tích trồng nhãn với một số
giống nhãn nổi tiếng như “Daw”, “Champoo”, “ Biew Khiew”. Tuy sản lượng
không cao như Trung Quốc nhưng Thái Lan lại là nước xuất khấu nhãn tươi
hàng đầu thế giới (khoảng 50% tổng sản lượng nhãn cả nước). Năm 1999, sản
lượng nhãn xuất khẩu của Thái Lan là 60.338 tấn với giá trị 2.097,5 triệu Bath.
Các nước nhập khẩu nhãn chủ yếu của Thái Lan là Hồng Kông, Indonesia,
Singapo, Canada (Trần Thế Tục, 2002).
Bảng 2.2: Diện tích và sản lượng nhãn của một số nước trên thế giới
Nước

Năm

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Trung Quốc

1997

444 400

496 800


300 – 1000

Floria (mỹ)

1999

140 – 150

(Nguồn: Wong, 2000)

Năm 1995, Úc có tổng diện tích nhãn vào khoảng 200 ha. Trong vòng 5
năm trở lại đây, gần 72000 cây nhãn được trồng mới với vốn đầu tư là 6 triệu
USD (Dimnan, 2004).
Trên thị trường thế giới, nhất là thị trường châu Âu, Mỹ nhãn tươi ít được
ưa chuộng vì: nhãn quá ngọt, lại không có vị chua để cân đối do vậy không phù
hợp với thị hiếu của người tiêu dùng; nhãn quả bé, tốn nhiều công bóc vỏ; mã
quả màu nâu, vàng xỉn nên không hấp dẫn so với các loại quả khác. Chính vì
vậy, thị trường nhãn tươi bó hẹp ở một số nước châu Á như Singapore, Hồng
Kong, Nhật Bản… Trong đó, sau Trung Quốc thì Singapore là nước có nhu cầu
tiêu thụ nhãn lớn nhất hiện nay. Năm 1997, nước này nhập khoảng 4000 tấn
nhãn tươi cho nhu cầu tiêu thụ trong nước, còn vào năm 1999 số lượng này vào
khoảng 5200 tấn. Các nước cung cấp nhãn chủ yếu trên thế giới là Trung Quốc,
8


Thái Lan và Việt Nam. Riêng Thái Lan có thể xuất khẩu hơn 85% sản lượng
nhãn của mình (Nguyễn Mạnh Dũng, 2011).
2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cây nhãn được trồng tập trung ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ
như Hưng yên, Hải Dương, Hà Nam, Thái Bình, Hà Tây, Hải Phòng, Bắc Ninh,

STT

Tỉnh

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

1

Vĩnh Phúc

1 023

1 990

2

Hải Dương

869

1 760

3

Hưng Yên

6 000


1 150

384

8

Phú Thọ

950

4 095

9

Bắc Giang

5 220

8 779

10

Quảng Ninh

2 103

1 487

11


15

Các tỉnh khác

3 551

10 082

39 318

70 961
(Tổng cục thống kê, 2000)

2.3. Những biến đổi của quả nhãn sau khi thu hái
2.3.1. Biến đổi vật lý
Sau khi thu hoạch nhãn thường bị mất nước khá nhanh. Sự mất nước làm
giảm khối lượng, khô héo và biến màu (nâu hóa) vỏ quả. Sự mất nước còn gây
ra những rối loạn sinh hóa, hóa học, giảm khả năng kháng vi sinh vật của quả,
thúc đẩy những biến đổi không có lợi trong quá trình bảo quản. Tốc độ mất nước
phụ thuộc vào các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng…các yếu
tố nội tại của quả như độ bền chắc của vỏ quả, hàm lượng nước trong quả cũng
như các chế độ thu hái (Nguyễn Mạnh Dũng, 2001).
10


Sự nâu hóa là kết quả của sự mất nước trên vỏ, rối loạn do nhiệt độ, già
hóa, tổn thương lạnh hay do vi sinh vật tấn công và có liên quan đến sự oxi hóa
polyphenol bởi enzyme polyphenol oxidase (Jieng và cs, 2002). Mặc dù sự nâu
hóa không ảnh hưởng nhiều đến kết cấu, hương vị, nhưng sự biến đổi về màu
sắc đã làm giảm giá trị thương phẩm của quả.

điều kiện cho vi sinh vật gây thối phát sinh và phát triển làm cho tốc độ thối
hỏng ngày càng nhanh (Nguyễn Mạnh Dũng, 2001).
Etylen là một hydrocacbon đơn giản ở dạng khí, có công thức hóa học
C2H2. Nó là một hoocmon thực vật tự nhiên liên quan đến quá trình sinh trưởng,
phát triển, chín và lão hóa của thực vật. Etylen hình thành do hoạt động sinh lý
của quả, hoạt động sống của vi khuẩn trên bề mặt quả. So với những loại quả hô
hấp thường biến khác thì quả nhãn sản sinh một lượng etylen tương đối thấp
(2.3µl/kg/h). Tuy nhiên khi bị nhiễm nấm, lượng etylen sản sinh cao (28.3µl/kg/h)
(Shi, 1990). Zhou và cộng sự (1997) đã chứng minh lượng etylen sản sinh của quả
sẽ được giữ ổn định sau 30 ngày khi bảo quản ở nhiệt độ 1oC – 4o C.
2.3.4. Khả năng nhiễm bệnh sau thu hoạch
Nhãn là loại quả rất mẫn cảm với sự gây hại của vi khuẩn và nấm men sau
thu hoạch. Ngay cả khi quá trình hô hấp của quả giảm đến mức tối thiểu thì quả
vẫn bị thối hỏng do các loại vi sinh. Có đến 106 loài vi sinh vật được phân lập
trên quả nhãn trong đó 36 loài vi khuẩn, 63 loài nấm mốc, 7 loài nấm men (Lu
và cs, 1992). Trong đó Botryodiplodia sp và Geotrichum candidum được xem là
những đối tượng nguy hiểm (Li và Li, 1999).
2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình bảo quản nhãn tươi
2.4.1. Nhiệt độ
Theo Nguyễn Mạnh Dũng (2001) nhiệt độ là yếu tố có tính quyết định
đến thời gian bảo quản rau, quả tươi. Trong một chừng mực nào đó thì cường độ
hô hấp của quả nhãn tỷ lệ thuận với nhiệt độ bảo quản. Nhiệt độ càng cao thì
cường độ hô hấp càng lớn, thời gian bảo quản càng ngắn và ngược lại nhiệt độ
thấp ức chế quá trình hô hấp của quả. Mặt khác nhiệt độ thấp còn ức chế hoạt
động sống của các loài vi sinh vật hoạt động trên bề mặt quả nhãn nhất là vi sinh
vật gây thối quả.
Tuy nhiên khi nhiệt độ bảo quản xuống thấp hơn 4oC quả sẽ bị tổn thương
lạnh mà biểu hiện rõ nhất là vỏ chuyển sang màu nâu, thịt quả bị nẫu, nhũn rất
nhanh khi chuyển ra khỏi điều kiện lạnh dẫn đến không có giá trị trên thị trường.


2.5.1. Tình hình nghiên cứu và bảo quản nhãn trên thế giới
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm làm chậm
quá trình nâu hóa, kiểm soát bệnh sau thu hoạch và kéo dài tuổi thọ bảo quản
của quả nhãn.
13


Wong (1992) đã nghiên cứu làm tăng thời gian bảo quản giống nhãn
Chompoo trong điều kiện nhiệt độ thấp. Quả bảo quản được sau 2 tuần ở 15oC
và trên 5 tuần ở 5-7,5oC.
CAS (Cells Alive System) là công nghệ bảo quản thực phẩm đông lạnh
hiện đại của tập đoàn ABI (Nhật Bản). Tại Mỹ, sáng chế này được cấp bằng với
tên gọi: phương pháp và thiết bị đông lạnh nhanh (Quick freezing apparatus and
quick freezing method). Nguyên lý của CAS là làm lạnh nhanh ở -40o C kết hợp
với tác dụng của từ trường. CAS có thể giữ nguyên tươi thực phẩm nói chung và
nhãn, vải nói riêng sau 10 năm. Tuy nhiên đây là công nghệ mới chưa được áp
dụng rộng rãi và chi phí đầu tư trang thiết bị lớn (Nhật Anh, STINFO Số
12/2013).
Sự biến màu của vỏ là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thọ bảo
quản cũng như giá trị thương phẩm của quả nhãn (Jieng và cs, 2002). SO2 được
coi là chất ức chế enzyme PPO nên được dùng khá phổ biến để xử lý chống nâu
hóa vỏ quả nhãn là biện pháp hữu hiệu để bảo quản nhãn. Xử lí nấm bằng sunfur
dioxit trong 20 phút và bảo quản ở 4oC, quả nhãn giống “Shixia” vẫn giữ được
chất lượng tốt sau 28 ngày bảo quản (Yan, 2002). Apai (2010) kết luận rằng
nhúng quả trong dung dịch HCl 1,5N trong thời gian 20 phút sau đó rửa bằng
nước có thể xem như là một biện pháp thay thế việc sử dụng SO2. Bên cạnh
việc sử dựng SO2 để giảm khả năng nâu hóa vỏ quả, Jiang và Li (2001) đã
xác định dung dịch chitosan 2% có thể kéo dài thời gian bảo quản nhãn
“Shixia” từ 30 – 40 ngày ở 50C. Sử dụng hỗn hợp axit và chitosan có thể ức
chế được hoạt tính của enzyme PPO, từ đó giảm thiểu được nâu hóa của vỏ

với việc hạ nhiệt độ thì sẽ kéo dài được thời gian bảo quản. Trước khi sử lý đóng
gói, xử lý bằng chất diệt khuẩn như CuSO4 0,5% hoặc HCl 2% trong 3 phút có
thể bảo quản nhãn được 7-8 ngày ở nhiệt độ thường và 25-30 ngày trong điều
kiện nhiệt độ thấp (Nguyễn Mạnh Dũng, 2001).
Ngoài ra sử dụng hai loại hóa chất là Benlate và CBZ (Carbendazim), ở
nồng độ 1g/l. Nhiệt dộ dung dịch hóa chất cũng được nâng lên 45 – 500C và
nhúng trong khoảng 1 – 3 phút để tăng cường khả năng sát trùng của hóa chất.
Nhãn tươi sử dụng các loại hóa chất này có thể bảo quản được 7 ngày trong điều
kiện thường và khoảng 20 – 30 ngày trong điều kiện nhiệt độ thấp mà vẫn giữ
được giá trị thương phẩm (Trần Thị Minh Tâm, 2011 ). Sự kết hợp giữa bao gói
bằng túi PE với xử lí dung dịch Benomyl ở nồng độ 300ppm có thể bảo quản
long nhãn và nhãn tiêu da bò ở nhiệt độ trong khoảng 80C với thời gian tương
ứng là 25 – 32 ngày mà nhãn vẫn giữ được chất lượng (Thái Thị Hòa, Đỗ Minh
Hiền, 1999).
15


Một số chất có tác dụng tiêu diệt vi sinh vật như Benomyl, Thiabendazole,
Carbendazim, Topxin – M...cũng được sử dụng khá hiệu quả. Hiện nay ở Việt
Nam, phương pháp đề nghị để kiểm soát sâu bệnh sau thu hoạch và ngăn chặn
sự nâu hóa vỏ quả nhãn là xử lí bằng Carbendazim trong thời gian 3 phút. Kết
quả cho thấy có thể kéo dài thời gian sử dụng của quả với chất lượng tốt sau 20
ngày và tỉ lệ phân rã là 10% (Nguyen và cs, 2001).
Bên cạnh đó, cũng có nhiều phương pháp nghiên cứu sử dụng màng
chitosan trong quá trình bảo quản. Nguyễn Thị Bích Thủy (2011) đã kết luận
bảo quản nhãn bằng phương pháp bao màng chitosan 2% và để trong bao bì đục
lỗ kết hợp với khống chế nhiêt độ ở mức 10oC có tác dụng kéo dài thời gian bảo
quản, duy trì chất lượng quả trong thời gian 20 ngày.

16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status