VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ THANH NHÀN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CỦA TRUNG TÂM BỒI DƢỠNG CHÍNH TRỊ HUYỆN DUY TIÊN,
TỈNH HÀ NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI, 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ THANH NHÀN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CỦA TRUNG TÂM BỒI DƢỠNG CHÍNH TRỊ HUYỆN DUY TIÊN,
TỈNH HÀ NAM HIỆN NAY
Ngành: Chính trị
Mã số: 8.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN ĐỨC LUẬN
tâm BDCT huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam trong thời gian tới ...................................... 60
KẾT LUẬN ............................................................................................................................ 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................... 79
PHỤ LỤC................................................................................................................................ 84
NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT
1
TTBDCT
Trung tâm bồi dưỡng chính trị
2
LLCT
Lý luận chính trị
3
Quyết định 100-QĐ/TW
Quyết định số 100-QĐ/TW ngày 3/6/1995 của Ban
Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII)
4
CNH – HĐH
BDCT cấp huyện nhằm hình thành thế giới quan, phương pháp luận, nâng cao bản lĩnh
chính trị, nâng cao cảnh giác cách mạng, chống “diễn biến hòa bình” cho cán bộ, đảng
viên ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới là nhiệm vụ rất nặng nề và có ý nghĩa
chính trị sâu sắc.
Ngày 3/9/2008 Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Quyết định
185 – QĐ/TW về “chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Trung tâm bồi dưỡng chính
trị cấp huyện” đã quy định trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện có chức năng bồi
dưỡng, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, quan điểm,
đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; bồi dưỡng nghiệp vụ công tác
đảng, công tác đoàn thể...cho cán bộ ở cơ sở góp phần giải quyết kịp thời những vướng
mắc, tồn tại trong công tác xây dựng Đảng.
Sau quyết định số 100 – QĐ/TW ngày 3/6/1995 của Ban Bí thư trung ương Đảng
(khóa VII), Trung tâm BDCT huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam cùng các Trung tâm BDCT
cấp huyện khác trên cả nước đã lần lượt ra đời và đi vào hoạt động từng bước có hiệu
1
quả, góp phần không nhỏ vào nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên ở cơ sở.
Trong những năm qua Trung tâm BDCT huyện Duy Tiên đã đạt được nhiều kết quả tích
cực trong công tác giáo dục lý luận chính trị.
Đối với tỉnh Hà Nam, Duy Tiên luôn được xác định là huyện trọng điểm về phát
triển công nghiệp của tỉnh. Để hoàn thành nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn hiện nay
đòi hỏi huyện Duy Tiên phải có đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý vừa hồng vừa chuyên,
vừa tinh thông chuyên môn nghiệp vụ, vừa có trình độ lý luận, phẩm chất chính trị, đạo
đức cao. Tuy nhiên, qua thực tế đào tạo, bồi dưỡng cho thấy, hiệu quả giáo dục lý luận
chính trị của Trung tâm Bồi dưỡng LLCT huyện Duy Tiên chưa cao; hơn nữa, có một bộ
phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ở huyện Duy Tiên hiện nay còn hạn chế về trình độ lý luận
chính trị, phai nhạt lý tưởng nên vấn để quán triệt, vận dụng chủ trương, đường lối, chính
sách còn chậm và chưa hiệu quả. Thực tế đó cùng với yêu cầu đổi mới, công nghiệp hóa,
của TS. Vũ Ngọc Am đã đề cập đến yêu cầu khách quan phải tiếp tục đổi mới công tác
giáo dục LLCT ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay. Tác giả đã căn cứ vào thực trạng giáo
dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên cấp cơ sở, những khó khăn, hạn chế còn
yếu kém tìm ra nguyên nhân của những hạn chế từ đó đưa ra một số giải pháp đổi mới
trong công tác đào tạo cán bộ, đảng viên cơ sở hiện nay.
- “Chất lượng hoạt động của các Trung tâm BDCT huyện, thị xã, thành phố ở
tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay” của Trịnh Thị Hoa, Luận văn Thạc sỹ xây
dựng Đảng, năm 2008. Luận văn đã đánh giá chất lượng hoạt động của các Trung tâm
BDCT huyện, thị xã, thành phố thông qua chất lượng của các lớp học, chất lượng học
viên. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động ở các Trung tâm
BDCT huyện, thị xã, thành phố.
Ngoài ra còn có nhiều công trình của các tác giả quan tâm đến hướng nghiên cứu
này. Chẳng hạn như: “Nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị ở trường Chính trị
tỉnh Bắc Giang dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh” của Lê Quỳnh Mai (Luận văn
Thạc sỹ Hồ Chí Minh học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn năm 2012); “Biện
pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục lý luận chính trị tại các trung tâm bồi
dưỡng chính trị cấp huyện tỉnh Thái Nguyên” của Nguyễn Thị Thìn (Luận văn thạc sỹ
quản lý giáo dục, Đại học sư phạm Thái Nguyên năm 2008); “Tỉnh Hải Dương xây dựng
3
Trung tâm BDCT cấp huyện đáp ứng yêu cầu tình hình mới” của Đặng Thị Bích Liên
(Tạp chí khoa giáo của Ban khoa giáo Trung ương số 6 năm 2007).
Các công trình trên là nguồn tư liệu tham khảo rất có giá trị và đã gợi mở cho
chúng tôi những ý tưởng sâu sắc trong quá trình thực hiện đề tài của mình. Tuy nhiên,
trong số các công trình đã đề cập ở trên, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu
việc nâng cao hiệu quả giáo dục lý luận chính trị của Trung tâm bồi dưỡng chính trị
huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam hiện nay. Điều đó càng thôi thúc chúng tôi trong quá trình
thực hiện đề tài đã chọn.
ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; các tài liệu, sách báo có liên quan đến đề
tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phân tích – tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, thống kê, điều tra
xã hội học, phỏng vấn,…để thực hiện mục đích mà đề tài đã đặt ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Luận văn góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về hiệu quả giáo dục lý
luận chính trị của Trung tâm BDCT cấp huyện ở Việt Nam hiện nay.
- Luận văn góp phần làm rõ hiệu quả giáo dục lý luận chính trị của Trung tâm
BDCT huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam hiện nay.
- Luận văn đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục
LLCT của Trung tâm BDCT huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam trong thời gian tới.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ
cho cấp ủy, chính quyền huyện Duy Tiên đề ra những chủ trương, chính sách nâng cao
chất lượng, hiệu quả giáo dục LLCT ở địa phương nói chung và của Trung tâm BDCT
huyện nói riêng; kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể được sử dụng cho việc
nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề có liên quan.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận
văn được kết cấu gồm 2 chương, 6 tiết.
5
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CỦA TRUNG TÂM BỒI DƢỠNG CHÍNH TRỊ
CẤP HUYỆN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Lý luận chính trị và giáo dục lý luận chính trị
nhận thức lý luận là đem quy sự vận động bề ngoài chỉ biểu hiện trong hiện tượng về sự vận
động bên trong thực sự” [4, tr.343].
Như vậy lý luận chính là “hệ thống những tri thức đã được khái quát tạo ra một quan
niệm hoàn chỉnh về các quy luật và mối liên hệ cơ bản của hiện thực. Lý luận là sự phản ánh
và tái hiện hiện thực khách quan. Mọi lý luận đều quy định bởi hoàn cảnh lịch sử, được hình
thành từ điều kiện cụ thể của lịch sử sản xuất, kỹ thuật và thực nghiệm” [59, tr.14].
Chính trị là một lĩnh vực đặc biệt rất phức tạp, nó liên quan đến lợi ích trực tiếp của
các giai cấp và các lực lượng xã hội nên có rất nhiều cách tiếp cận và nhìn nhận khác nhau.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, chính trị là mối quan hệ giữa các giai
cấp, dân tộc, quốc gia đối với quyển lực nhà nước. Chính trị là một hiện tượng xã hội đặc
biệt, nó xuất hiện cùng với sự xuất hiện giai cấp, phân chia giai cấp và nhà nước. Chính
trị là sự biểu hiện tập trung nhất của kinh tế đồng thời chính trị có vị trí độc lập và có tác
dụng to lớn đối với kinh tế. Việc hình thành một quan điểm chính trị đúng là điều kiện để
giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ kinh tế - xã hội. Chính trị là một lĩnh vực rất tinh
tế, nhạy cảm, nó biểu hiện trên cơ sở các tri thức được tích lũy trong quá trình lịch sử và
những quan hệ gắn với con người, với giai cấp, dân tộc và thời đại.
Để có thể nhận thức sâu sắc được những quy luật khách quan của sự phát triển xã
hội và vận dụng chúng và sự nghiệp cách mạng cần phải dựa trên nền tảng lý luận Mác –
Lênin. Lý luận chính trị của giai cấp vô sản là sự khái quát tri thức nhân loại và tổng kết
kinh nghiệm của phong trào công nhân thế giới làm công cụ đắc lực cho việc giành và
giữ chính quyền của giai cấp công nhân ở mỗi quốc gia, dân tộc. Theo Lênin, lý luận có
vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp cách mạng: “Không có lý luận cách mạng thì
cũng không thể có phong trào cách mạng” và “chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong
hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong” [67, tr.30-32].
Hồ Chí Minh cũng cho rằng: “Đảng không có chủ nghĩa cũng như người không
có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam” [47, tr. 289]. Hệ thống lý luận chính trị của chủ
nghĩa cộng sản khoa học không chỉ giải thích thế giới một cách khoa học, bóc trần sự bất
công tồn tại trong các xã hội có giai cấp đối kháng mà còn chỉ rõ căn nguyên của những
7
và nhân dân” [57, tr.184].
8
Theo GS.TS Đào Duy Quát thì giáo dục LLCT “là việc làm truyền bá những
nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của
Đảng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Đó là quá trình tác động vào đối
tượng giáo dục bằng cách trình bày, giải thích một cách khoa học những khái niệm,
những quan điểm...nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đúng đắn
những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân
tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, nhất trí cao với đường lối, quan điểm của Đảng, nâng cao
phẩm chất cách mạng và năng lực thực tiễn của họ, hướng dẫn họ vận dụng những hiểu
biết ấy vào cuộc sống” [64, tr.38].
Giáo dục lý luận chính trị là giải thích, tuyên truyền những vấn đề thuộc lý luận
chính trị, bằng việc đi sâu giải thích các sự vật hiện tượng diễn ra trong tự nhiên, xã hội,
trên cơ sở đó xây dựng cơ sở khoa học cho nhận thức và niềm tin của con người để đi
đến hành động đúng đắn. Giáo dục lý luận chính trị đem đến cho mọi người những hiểu
biết về quy luật phát triển của xã hội, về thế giới quan, nhân sinh quan, đường lối chủ
trương chính sách của Đảng và Nhà nước, để từ đó vạch ra cho mình tư tưởng, lối sống,
hoài bão, ý chí, nguyện vọng, những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức để gạt bỏ cái cũ,
tiếp thu có chọn lọc cái mới... Bên cạnh đó giáo dục lý luận chính trị là nghiên cứu tổng
kết thực tiễn, xây dựng thành hệ thống quan điểm lý luận chính trị, hình thành và phát
triển tư tưởng xã hội, phát triển những mâu thuẫn xã hội và đưa ra những dự báo để phát
triển cho tương lai.
Nhiệm vụ của giáo dục lý luận chính trị là thông qua các công cụ và phương tiện
để truyền bá những kiến thức phong phú của đời sống xã hội, các quan điểm, những
đánh giá về các hiện tượng và xu thế phát triển của của xã hội. Với tầm quan trọng như
vậy Hồ Chí Minh cho rằng công tác giáo dục lý luận chính trị của Đảng tiên phong phải
đạt trình độ tiên phong: "Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng
tới cán bộ, đảng viên và nhân dân nhằm tạo ra sự thống nhất về tư tưởng, nâng cao nhận
thức chính trị, phẩm chất cách mạng và năng lực hoạt động thực tiễn của họ, hướng dẫn
họ vận dụng những hiểu biết ấy vào cuộc sống...chúng ta học tập lý luận là cốt để áp
dụng và thực tế” [46, tr.497].
1.1.2.2. Vị trí, vai trò của giáo dục lý luận chính trị
Giáo dục LLCT có vị trí, vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng.
Tầm quan trọng đó bắt nguồn từ vai trò của chủ nghĩa Mác – Lênin đối với quá trình
10
phát triển của xã hội với tư cách là khoa học cách mạng của giai cấp công nhân và là hệ
tư tưởng của toàn xã hội trong chế độ xã hội chủ nghĩa.
Các nhà mác xít đã chỉ rõ, cũng như thực tiễn cách mạng thế giới và Việt Nam
đã chứng minh: giai cấp công nhân và nhân dân lao động muốn thoát khỏi áp bức và bóc
lột của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân thì không thể tiến hành cách mạng một cách
tự phát mà phải đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng tiền phong được vũ trang bằng chủ
nghĩa Mác – Lênin. Chủ nghĩa Mác – Lênin chính là cơ sở để các đảng cộng sản đề ra
đường lối, chính sách của mình. Lênin đã khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì
cũng không thể có phong trào cách mạng...chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong
hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sỹ tiền phong” [67, tr.30-32].
Theo V.I.Lênin thì: “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm
giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo
ra” [68, tr.352] để thâu thái vào đầu óc của mình toàn bộ kho tàng tri thức của nhân loại
và hiểu biết đó phải dẫn tới cuộc sống và hành động.
Hồ chí Minh từng xác định: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để
phục sự Đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại” [34,
tr.684]. Muốn vậy phải có thói quen đem lý luận liên hệ với thực tiễn, “Mỗi cán bộ, đảng
viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế. Phải chữa cái
bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông” [30, tr.234-235].
luận chung cho mọi hoạt động nghiên cứu khoa học, là hệ tư tưởng của xã hội thì việc
học tập hệ thống lý luận này lại càng cần thiết và càng có ý nghĩa hơn.
Giáo dục lý luận chính trị là một nhiệm vụ trọng yếu trong công tác tư tưởng của
Đảng nhằm bồi dưỡng về lý luận chính trị, truyền đạt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng,
pháp luật của Nhà nước; bồi dưỡng kiến thức và nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng, xây
dựng và quản lý Nhà nước cho cán bộ, đảng viên... góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo,
bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức cách mạng để đội ngũ cán bộ cơ sở ngày càng
đáp ứng với yêu cầu mới, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Do đó, đối tượng cán bộ
tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn tại hệ thống các Trường Chính trị tỉnh và
Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện không chỉ được lĩnh hội, bồi dưỡng về tri thức mà
còn phải rèn luyện những kỹ năng cơ bản về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chuyên môn,
nghiệp vụ, tổ chức phong trào; rèn luyện tác phong, tính sáng tạo, độc lập trong làm
việc... Giáo dục lý luận chính trị có vai trò cơ bản sau đây:
12
Thứ nhất, giúp cho người học có sự hiểu biết sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, toàn diện
hơn những tri thức lý luận chính trị - hành chính; từ đó trang bị cho mình vốn tri thức
khoa học lý luận.
Thứ hai, việc học tập, nghiên cứu lý luận chính trị nhằm củng cố niềm tin và bản
lĩnh chính trị, ý thức giai cấp và tinh thần yêu nước cho cán bộ, đảng viên; từ đó thúc đẩy
cán bộ, đảng viên tự giác, tự nguyện, hăng hái hành động, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
cách mạng do Đảng đề ra.
Thứ ba, việc học tập và nghiên cứu lý luận chính trị nhằm cung cấp cho người
học thế giới quan và phương pháp luận cách mạng và khoa học, từ đó vận dụng vào thực
tiễn cuộc sống và công việc, để hoàn thành và hoàn thành xuất sắc công việc được giao.
Hơn hết là xây dựng mỗi quan hệ giữa người với người trên tinh thần tôn trọng, tương
trợ và thương yêu lẫn nhau.
Thứ tư, giáo dục lý luận chính trị góp phần hình thành và phát triển trí tuệ, nâng
hết. Học tập, quán triệt những quan điểm cơ bản và vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ
Chí Minh và thực tế cuộc sống trong học tập và rèn luyện là nhân tố quan trọng cho việc
nâng cao chất lượng giáo dục LLCT trong tình hình hiện nay.
Hai là: giáo dục phẩm chất đạo đức cách mạng và truyền thống yêu nước, truyền
thống văn hóa của dân tộc.
Giáo dục LLCT không chỉ giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin , tư tưởng Hồ Chí
Minh mà còn giáo dục cho cán bộ, đảng viên tinh thần yêu nước, yêu chế độ, trung thành
với đường lối bảo vệ Tổ quốc của Đảng ta. Đồng thời, có tác dụng cổ vũ mỗi cán bộ,
đảng viên có tinh thần giữ gìn an ninh trật tự và trật tự an toàn xã hội, đề cao cảnh giác,
sẵn sàng chiến đấu đập tan mọi âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” của kể địch,
nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Giáo dục truyển thống dân tộc, truyền thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên là
một nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục chủ nghĩa yêu nước chân chính. Giáo dục
truyền thống lịch sử và cách mạng thật sự có ý nghĩa lớn lao trong việc xây dựng con
người mới. Nhớ về cội nguồn và hiểu sâu sắc những bước đi đầy chông gai của cha ông,
những hy sinh cao đẹp của lớp lớp những người con đi trước từ đó nuôi dưỡng tư tưởng,
tâm hồn con người để sống và làm việc xứng đáng với các thế hệ đi trước. Và để thực
hiện được điều đó thì điều quan trọng cần phải thực hiện đó là giáo dục phẩm chất đạo
đức cách mạng.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh với người cách mạng trước hết phải giác ngộ đạo
đức cách mạng, cách mạng trước hết phải giáo dục lý luận chính trị và đạo đức cách
mạng thật tốt cho cán bộ, đảng viên “Có như thế mục đích mới đồng; mục đích có đồng,
chí mới đồng; chí có đồng, tâm mới đồng; tâm đã đồng, lại phải biết cách làm thì làm
mới chóng” [38, tr.261].
16
Nhiệm vụ giáo dục phẩm chất đạo đức cách mạng, giáo dục cho cán bộ, đảng
viên truyền thống tốt đẹp của dân tộc qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước để
Theo chúng tôi, để tổ chức, dạy và học lý luận chính trị cần phải bám sát vào
những chỉ dẫn mà Hồ Chí Minh đã đưa ra:
Thứ nhất, dạy và học lý luận chính trị phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học,
phải biết tự động học tập, phải lấy tự học làm cốt.
Hồ Chí Minh đề cao vấn đề tự học trong công tác giáo dục lý luận chính trị.
Người cho rằng học tập ở trường của đoàn thể không phải như học ở các trường lối cũ,
không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập.
Phải giành nhiều thời gian cho khâu tự học của học viên, bao gồm tự nghiên cứu
làm đề cương, thảo luận, tranh luận... theo sự hướng dẫn của giáo viên. Đây là phương
pháp dậy học hiện đại tới nay còn nguyên ý nghĩa – là phương pháp lấy người học làm
trung tâm, giáo viên là người tổ chức hướng dẫn: nêu vấn đề, đặt câu hỏi, tạo tình huống,
khêu gợi thắc mắc, hình thành mâu thuẫn, kích thích độc lập suy nghĩ, tìm tòi giải pháp
để cuối cùng người học đạt tới tri thức, trong đó có sự gắn chặt giữa lý luận và thực tiễn.
Phương pháp này được thực hiện tốt ở các trường Đảng thì sẽ chuyển từ phương pháp
cũ, từ cách truyền thụ kiến thức một chiều – thầy giảng, trò ghi, sang cách tổ chức quá
trình nhận thức năng động của người học, thông qua người học và người dạy cùng làm
việc trên lớp, trong thảo luận hoặc người học tự động làm việc theo hướng dẫn của giảng
viên.
Thực hiện phương pháp này bắt buộc người học phải chuẩn bị kỹ nội dung qua
các khâu học tập trên cơ sở giáo trình, giáo khoa và tài liệu tham khảo có liên quan.
Người nói: phải khiêm tốn, thật thà trong học tập, cái gì biết thì nói biết, không biết thì
nói là không biết. Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập. Mặt khác cũng
phải tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ
phải hoàn thành cho được... nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước
bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập.
Thực hiện phương pháp này cũng đòi hỏi người giảng viên phải có sự đầu tư và
chuẩn bị thật chu đáo từ khâu soạn bài giảng, thực hiện bài giảng, thảo luận... Đồng thời,
người giảng viên phải không ngừng cập nhật, bổ sung kiến thức về lý luận cũng như thực
tiễn để không ngừng nâng cao tri thức của người thầy. Như vậy mới có thể “biết mười
phương phù hợp với từng đối tượng cán bộ công tác ở cơ quan, ban ngành cấp tỉnh, cấp
huyện, thị... Việc huấn luyện cốt yếu ở thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều. Nhằm “cốt
yếu là phải làm cho người đọc thấu hiểu vấn đề. Nhưng thấu hiểu vấn đề cũng có nhiều
19
cách: có cách thấu hiểu thật tỷ mỉ, nhưng dạy theo cách đó tốn rất nhiều thì giờ. Trái lại,
cũng có cách dạy bao quát mà vẫn làm cho người học hiểu thấu được” [41, tr.47].
Giảng viên cần hiểu rõ và nắm chắc nhu cầu nhận thức của người học và mối liện
hệ giữa nội dung học tập với chức trách, nhiệm vụ của người học và thực tiễn địa phương,
đơn vị công tác của họ. Đồng thời Hồ Chí Minh cũng lưu ý rằng giảng dạy và huấn luyện
phải gắn lý luận với thực tế trong quá trình giảng dạy. Phải dạy người học cả kỹ năng tiếp
cận và phương pháp thực hành để vận dụng lý luận đó vào cuộc sống và thực tế công tác của
họ. Nếu chỉ dạy lý luận mà không dạy thực hành thì mới chỉ đạt một nửa yêu cầu mà thôi.
Người viết, lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn.
Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên.
Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy.
Điều kiện có ý nghĩa quyết định hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị là đội
ngũ và chất lượng giảng viên làm công tác đào tạo.
Hồ Chí Minh cho rằng: không phải ai cũng huấn luyện được nhất là người huấn
luyện của Đoàn thể cần phải có trình độ hiểu biết chuyên sâu. Người đã đặt vấn đề “phải
lựa chọn rất cẩn thận những nhân viên phụ trách việc huấn luyện đó. Những người lãnh
đạo cần phải tham gia việc dạy” [43, tr.273], người huấn luyện phải làm kiểu mẫu về mọi
mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc...
Hồ Chí Minh cho rằng, do chức năng của mình, một đặc trưng, phẩm chất của
người giảng dạy lý luận chính trị là phải không ngừng học tập, người giảng viên phải có
lòng đam mê, khiêm tốn học tập, không có thái độ kỳ thị, học thêm mãi, biết kết hợp và
làm giàu trí tuệ của mình. Người giảng viên nào tự cho mình là đã biết đủ cả rồi, thì
người đó dốt nát nhất và người đó không thể làm công việc giảng dạy được. Người giảng