Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với sự ra đời ngày càng nhiều của các NHTM cho thấy hoạt động của hệ
thống NHTM ngày càng chiếm một vị trí quan trọng và có sự ảnh hưởng rất
lớn đến sự phát triển của nền kinh tế. Bất kì doanh nghiệp nào muốn hoạt
động kinh doanh được thì phải có vốn. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp
nào cũng có thể tự huy động được nguồn vốn cho hoạt động của mình và
NHTM chính là chủ thể đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp.
Năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới
(WTO), cả nước đang đẩy mạnh quá trình CNH - HĐH để đưa đất nước đến
sự phát triển bền vững. Để có thể thực hiện được các mục tiêu của chính phủ
đề ra thì cần phải có một lượng vốn lớn. Do đó, các NHTM cần phải đẩy
mạnh công tác huy động vốn để có thể đáp ứng nhu cầu vốn cho quá trình đầu
tư và phát triển của đất nước. Đặc biệt cuối năm 2007, đầu năm 2008, các
NHTM Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu vốn, chưa đáp ứng được nhu cầu
cho vay đối với nền kinh tế. Vì vậy vấn đề huy động vốn càng trở nên cấp
thiết. Thực tế cho thấy, hàng loạt các ngân hàng đã đua nhau tăng lãi suất để
thu hút khách hàng gửi tiền, kết quả là thị trường tài chính rơi vào trạng thái
bất ổn định. Vấn đề đặt ra ngay tại thời điểm bây giờ đó là làm thế nào để các
NHTM có thể huy động vốn một cách an toàn, hiệu quả đáp ứng nhu cầu vốn
cho nền kinh tế mà vẫn đảm bảo cho sự ổn định của thị trường tài chính.
Qua thời gian thực tập tại NHTM cổ phần An Bình - CN Hà Nội
(ABBANK Hà Nội) và với tình hình thị trường tài chính Việt Nam như hiện
nay, em thấy đây là một vấn đề “nóng hổi” và được ABBANK Hà Nội rất
quan tâm và tìm mọi biện pháp để giải quyết. Vì vậy, em đã chọn đề tài:
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
1
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
“Giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn và hoàn thiện
Chương 1: Khát quát chung về hoạt động huy động vốn và kế toán
huy động vốn của NHTM.
Chương 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn và kế toán huy động
vốn tại ABBANK Hà Nội
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hoạt động huy
động vốn và hoàn thiện kế toán huy động vốn tại ABBANK Hà Nội.
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
3
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ KẾ
TOÁN HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ NHTM.
Ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân
hàng và các loại hoạt động có liên quan.
Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp
phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của đất nước.
1.1.1. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế quốc dân.
1.1.1.1. Ngân hàng là nơi cung cấp nguồn vốn cho nền kinh tế.
Vốn có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Bất kì doanh nghiệp nào
muốn hoạt động kinh doanh đều phải có vốn. Tuy nhiên không phải lúc nào
mỗi doanh nghiệp cũng đều có nguồn vốn đáp ứng cho hoạt động kinh doanh,
có doanh nghiệp thừa vốn, có doanh nghiệp lại thiếu vốn. Vì vậy để giải quyết
vấn đề trên, NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời
nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế như: Vốn tạm thời
nhàn rỗi từ quá trình sản xuất của các doanh nghiệp, vốn tiết kiệm của các cá
nhân trong xã hội. Bằng nguồn vốn huy động được từ nền kinh tế, thông qua
hoạt động tín dụng, NHTM sẽ cung cấp vốn cho mọi hoạt động và đáp ứng
các nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Nhờ hoạt động
điều khiển chúng một cách có hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ
mô: ”Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường”.
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
5
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
1.1.1.4. NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc
tế.
Để thúc đẩy nền kinh tế quốc gia ngày càng phát triển thì vấn đề giao
lưu, mở rộng mối quan hệ hợp tác kinh tế - xã hội với các nước trên thế giới,
đặc biệt là các nước phát triển là rất quan trọng. Việc phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một
bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó. Vì vậy nền tài chính quốc gia phải
hòa nhập với nền tài chính quốc tế và NHTM cùng với các hoạt động của
mình đã đóng vai trò là cấu nối quan trọng này. Với các nghiệp vụ như nhận
tiền gửi, cho vay, thanh toán, hối đoái và các nghiệp vụ khác, NHTM đã tạo
điều kiện thúc đẩy ngoại thương không ngừng phát triển. Thông qua các hoạt
động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng
thương mại nước ngoài, hệ thống NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài
chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.
1.1.2. Chức năng của NHTM.
1.1.2.1. Chức năng làm thủ quỹ cho xã hội.
Thực hiện chức năng này, NHTM nhận tiền gửi của công chúng, các
doanh nghiệp và các tổ chức, giữ tiền cho khách hàng của mình, đáp ứng nhu
cầu rút tiền và chi tiền của họ.
Ngân hàng sử dụng khoản tiền của khách hàng để cho vay và trả cho
khách hàng khoản lợi tức tiền gửi.
Như vậy, chức năng này vừa đem lại lợi ích cho ngân hàng vừa đem lại
lợi ích cho khách hàng.
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
6
gồm:
* Vốn tự có
Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được,
thuộc sở hữu của ngân hàng, vốn này chiếm một tỉ trọng nhỏ trong tổng
nguồn vốn của ngân hàng song lại là điều kiện pháp lí bắt buộc khi thành lập
ngân hàng
+ Vốn tự có bao gồm :
Vốn tự có là vốn pháp định – vốn điều lệ
Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập ngân hàng do
pháp luật quy định, còn vốn điều lệ là vốn do cổ đông đóng góp và được ghi
vào điều lệ hoạt động của ngân hàng và theo quy định phải bằng vốn pháp
định.
Vốn tự có bổ sung : Bao gồm quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự trữ
đặc biệt để bù đắp rủi ro. Ngoài các quỹ trên, vốn tự có bổ sung còn bao gồm
phần lợi nhuận chưa phân phối hoặc các quỹ đặc biệt khác như: Quỹ phúc lợi,
quỹ khen thưởng, quỹ khấu hao tài sản cố định…
* Vốn huy động
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ
các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện
các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và được
làm vốn để kinh doanh.
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
8
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
Ngân hàng có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu nguồn vốn này
và có trách nhiệm hoàn trả khi đến hạn ( tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi họ có
nhu cầu rút vốn (tiền gửi không kỳ hạn)
Tuy nhiên, ngân hàng cũng không thể sử dụng hết nguồn vốn huy động
này mà phải duy trì một tỉ lệ nhất định (dự trữ bắt buộc, dự trữ đảm bảo khả
năng thanh toán) theo quy định của NHNN.
theo hạn mức tín dụng, cho vay từng lần… và cho vay dài hạn: Cho vay theo
dự án, cho vay thuê mua…
Nghiệp vụ đầu tư: Ngân hàng thực hiện đầu tư vào chứng khoán để đáp
ứng các mục tiêu của mình như: Tăng thu nhập, nâng cao khả năng thanh
khoản, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro trong hoạt
động kinh doanh của mình.
1.1.3.3. Các nghiệp vụ khác.
Các dịch vụ ngân hàng: Các NHTM với chức năng vốn có thực hiện các
dịch vụ thanh toán, dịch vụ cho thuê két sắt,...
Nghiệp vụ ngoại bảng: Dịch vụ bảo lãnh cho khách hàng, nghiệp vụ kinh
doanh ngoại hối, nghiệp vụ ủy thác và đại lý,…
1.2. Nội dung cơ bản về hoạt động huy động vốn của NHTM.
1.2.1. Tầm quan trọng của hoạt động huy động vốn.
Nghiệp vụ huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng của NHTM, mặc dù
đây không phải là nghiệp vụ trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng
nhưng nó lại quyết định đến hoạt động kinh doanh của NHTM. Bởi vì với
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
10
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
mức vốn điều lệ ban đầu khi thành lập nó chỉ đủ để ngân hàng mua sắm, trang
bị các tài sản cố định: Trụ sở, văn phòng, máy móc thiết bị cần thiết cho hoạt
động chứ chưa đủ để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh
như: Cấp tín dụng và các dịch vụ khác, để có vốn phục vụ cho các hoạt động
này, ngân hàng phải huy động vốn từ khách hàng. Như vậy hoạt động huy
động vốn có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngân hàng cũng như đối với khách
hàng.
1.2.1.1. Đối với NHTM.
Nghiệp vụ huy động vốn góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng
thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác, không có nghiệp vụ huy động vốn,
NHTM sẽ không có đủ nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của mình, nguồn vốn
không thể chủ động trong việc sử dụng loại tiền này, do đó ngân hàng thường
trả lãi cho loại tiền gửi này rất thấp, thậm chí không trả lãi. Khách hàng
thường duy trì số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán không nhiều chỉ đủ để
đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả hàng ngày của họ.
Tiền gửi có kì hạn:
Tiền gửi có kì hạn là loại tiền gửi mà khách hàng được rút ra sau một
thời gian nhất định từ một vài tháng đến một vài năm. Mục đích của người
gửi tiền là lấy lãi và ngân hàng có thể chủ động kế hoạch hóa việc sử dụng
nguồn vốn này vì thời hạn của nguồn vốn. Mức lãi suất cụ thể phụ thuộc vào
thời gian gửi tiền và sự thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng trên cơ sở
xem xét đến mức độ an toàn của ngân hàng cũng như quan hệ về cung cầu
vốn tại thời điểm đó. Tuy nhiên để tạo tính lỏng cho loại tiền gửi này, hấp dẫn
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
12
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
khách hàng, ngân hàng có thể cho phép khách hàng được rút tiền trước thời
hạn đổi lại khách hàng chỉ được hưởng mức lãi suất thấp, thậm chí không
được hưởng lãi.
Tiền gửi tiết kiệm:
Tiết kiệm không kì hạn: Là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của cá nhân gửi
vào ngân hàng nhằm mục tiêu an toàn và sinh lợi nhưng không thiết lập được
kế hoạch sử dụng trong tương lai. Đối với loại tiền gửi này, khách hàng có thể
rút ra bất cứ lúc nào, tuy nhiên không được sử dụng để thực hiện các giao
dịch thanh toán, chi trả cho người khác
Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn: Khác với tiền gửi tiết kiệm không kì hạn,
tiền gửi tiết kiệm có kì hạn được cá nhân gửi vào ngân hàng vì mục tiêu an
toàn, sinh lợi và thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai. Sử dụng
loại tiền gửi này là những cá nhân có mong muốn thu nhập ổn định và thường
xuyên đáp ứng cho việc chi tiêu hàng tháng và hàng quý. Vì vậy loại tiền gửi
này có mức lãi suất cao hơn loại tiền gửi không kì hạn.
* Kinh tế: Các yếu tố kinh tế có tác động lớn đến hoạt động huy động
vốn của NHTM như: Thu nhập bình quân đầu người, tỉ lệ lạm phát, tốc độ
tăng trưởng, tỉ lệ thất nghiệp,…
Các yếu tố kinh tế có tác động mạnh mẽ đến nhu cầu và cách thức sử
dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Do đó nó chi phối đến công tác huy
động vốn và khả năng thỏa mãn nhu cầu về vốn của nền kinh tế.
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
14
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
Khi nền kinh tế đất nước đang trong giai đoạn tăng trưởng, tình hình sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tốt, các doanh nghiệp sẽ cần nhiều vốn
hơn để đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh của mình, từ đó thúc
đẩy các ngân hàng tăng cường hoạt động huy động vốn. Nền kinh tế tăng
trưởng còn làm tăng thu nhập của người dân kéo theo nhu cầu tiết kiệm lớn
tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
* Chính trị, pháp luật, chính sách của chính phủ:
Hoạt động huy động vốn cũng như bất kì hoạt động kinh doanh nào khác
đều phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Các ngân hàng phải tuân theo các
quy định của pháp luật về huy động vốn như: Tỉ lệ huy động vốn so với vốn
tự có, quy định về các điều kiện phát hành GTCG, quy định về mức lãi suất
huy động phải trong biên độ nhất định,…Những quy định trên nhằm đảm bảo
cho sự ổn định và an toàn trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Bên cạnh đó các chính sách về tài chính tiền tệ, giá cả, chính sách
khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế, xã hội,…trong từng thời kì cũng có
ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của NHTM nói chung và công tác huy động
vốn nói riêng.
Sự ổn định về chính trị cũng là yếu tố quan trọng thúc đẩy việc tạo vốn.
Một đất nước có nền chính trị ổn định sẽ tạo ra một môi trường kinh doanh tốt
cho các nhà đầu tư, tạo dựng sự an tâm cho dân chúng khi gửi tiền vào ngân
hàng.
được nhiều khách hàng và từ đó giúp ngân hàng huy động được nhiều vốn
hơn.
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
16
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
* Sự đa dạng của các hình thức huy động vốn:
Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với các mục đích và nhu cầu khác
nhau. Vì vậy ngân hàng càng đa dạng các hình thức huy động vốn thì khả
năng thu hút vốn trong nền kinh tế càng lớn. Với nhiều hình thức huy động
vốn khác nhau, mỗi khách hàng sẽ có nhiều cơ hội tìm cho mình một hình
thức đầu tư hợp lý, từ đó ngân hàng sẽ thu hút và “giữ chân” được khách hàng
gửi tiền tại đơn vị mình.
* Khả năng ứng dụng công nghệ tại ngân hàng
Sự phát triển của công nghệ ngày càng lớn mạnh. Tuy nhiên, khả năng
ứng dụng tại mỗi ngân hàng là khác nhau. Những ngân hàng nào nhanh chóng
tiếp cận và ứng dụng công nghệ mới để cải tiến máy móc, trang thiết bị phục
vụ hoạt động kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo sự thuận tiện hơn
cho khách hàng thì sức cạnh tranh sẽ cao hơn. Từ đó thu hút được nhiều
khách hàng đến gửi tiền, tăng lượng vốn huy động cho ngân hàng.
* Hoạt động marketing ngân hàng.
Trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng, để tồn tại,
phát triển và thu hút được khách hàng đến với ngân hàng, các ngân hàng cần
thực hiện tốt hoạt động marketing, áp dụng chiến lược marketing hỗn hợp
nắm bắt nhu cầu khách hàng, tác động vào nhu cầu của họ duy trì được các
khách hàng cũ và khơi dậy khách hàng tiềm năng.
* Uy tín của ngân hàng
Với một số lượng lớn ngân hàng đang hoạt động trên thị trường, khách
hàng có nhiều sự lựa chọn khi có nhu cầu gửi tiền vào ngân hàng. Khách hàng
thường có xu hướng gửi vào ngân hàng nào có uy tín do tạo dựng được niềm
tin nơi họ. Vì vậy vấn đề mà các ngân hàng đặc biệt quan tâm là không ngừng
hàng.
Về sự phù hợp giữa cơ cấu vốn huy động và nhu cầu sử dụng: Xem xét
cơ cấu nguồn vốn mà ngân hàng huy động có phù hợp với nhu cầu sử dụng
vốn, qua đó cho thấy khả năng phán đoán nhu cầu về từng loại vốn trên thị
trường của ngân hàng.
- Khả năng điều hành lãi suất và tiết kiệm chi phí của ngân hàng.
Chỉ tiêu này cho biết khả năng nắm bắt tình hình thị trường của ngân
hàng. Ngân hàng có kịp thời điều chỉnh lãi suất để có thể thu hút khách hàng
mà vẫn đảm bảo được lợi nhuận cho ngân hàng. Ở đây chúng ta sẽ xem xét
thời điểm mà ngân hàng quyết định có sự điều chỉnh và mức điều chỉnh lãi
suất của ngân hàng.
- Độ đa dạng của các hình thức huy động vốn:
Ngân hàng đã sử dụng công cụ nào để huy động vốn: Tiền gửi thanh
toán, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm, hay các loại giấy tờ có giá: Thương
phiếu, trái phiếu, kì phiếu, chứng chỉ tiền gửi,... Về kì hạn ngân hàng đã huy
động ở các kì hạn nào. Về loại tiền tệ ngân hàng huy động những loại tiền
nào: VNĐ, USD, EURO,...
Chỉ tiêu này sẽ cho thấy độ đa dạng trong các hình thức huy động vốn
của ngân hàng.
- Một số chỉ tiêu khác: Hệ số sử dụng vốn, thời gian để huy động được
một lượng vốn nhất định, mức độ thuận tiện đối với khách hàng.
Từ phân tích trên có thể đưa ra một số chỉ tiêu cụ thể để đánh giá hiệu
quả huy động vốn của ngân hàng:
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
19
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
+ Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn.
+ Tỷ trọng nguồn vốn huy động trên tổng nguồn vốn
+ Mức tăng trưởng của tín dụng trên mức tăng trưởng của vốn huy
động, trong đó có xét chi tiết về dư nợ ngắn hạn, dư nợ trung và dài hạn.
diện về hoạt động huy động vốn, từ đó giúp các nhà quản trị có những biện
pháp thích hợp để nâng cao chất lượng hoạt động huy động vốn của ngân
hàng.
- Kế toán huy động vốn ghi chép, tính toán một cách chính xác các
khoản lãi phải trả, từ đó giúp cho các nhà quản trị ngân hàng thực hiện tốt
công tác quản lý chi phí, đảm bảo nguồn lợi nhuận cho ngân hàng.
- Kế toán huy động vốn cho biết lượng vốn mà ngân hàng đã huy động
được cũng như tỉ lệ từng loại nguồn vốn, là cơ sở để ngân hàng xác định quy
mô tín dụng cũng như các hoạt động kinh doanh khác.
1.3.2. Tài khoản và các chứng từ sử dụng trong kế toán huy động vốn.
1.3.2.1. Tài khoản sử dụng.
Các tài khoản phản ánh nghiệp vụ huy động vốn được bố trí ở loại 4 (các
khoản phải trả) trong hệ thống tài khoản của tổ chức tín dụng.
a. Tài khoản tiền gửi của khách hàng (số hiệu 42).
Tài khoản 421/422: Tiền gửi của khách hàng trong nước bằng đồng VN/
ngoại tệ.
Trong đó: TK 4211/4221: Tiền gửi không kì hạn
TK 4212/4222: Tiền gửi có kì hạn
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
21
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
TK 4214/4224: Tiền gửi vốn chuyên dùng
Tài khoản 423/424: Tiền gửi tiết kiệm bằng đồng VN/ngoại tệ và vàng
Trong đó: TK 4231/4241: Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn
TK 4232/4242: Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn
TK 4238: Tiền gửi tiết kiệm khác
Tài khoản 425/426: Tiền gửi của khách hàng trong nước bằng đồng VN/
ngoại tệ
Trong đó: TK 4251/4261: Tiền gửi không kì hạn
TK 4252/4262: Ttiền gửi có kì hạn
Số dư nợ: Chiết khấu GTCG chưa phân bổ cuối kì
Tài khoản 433/436: Phụ trội GTCG bằng đồng VN/ngoại tệ và vàng
Các tài khoản này dùng để phản ánh phụ trội GTCG phát sinh khi
NHTM đi vay bằng hình thức phát hành GTCG có phụ trội và việc phân bổ
phụ trội GTCG trong kì.
Kết cấu của tài khoản 433 và 436:
Bên có ghi: Phụ trội GTCG phát sinh trong kì
Bên nợ ghi: Phân bổ phụ trội GTCG trong kì
Số dư có: Phụ trội GTCG chưa phân bổ cuối kì
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
23
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
c. Tài khoản lãi phải trả (số hiệu 49)
Tài khoản này dùng để phản ánh số lãi dồn tích (theo nguyên tắc cơ sở
dồn tích) tính trên các tài khoản nguồn vốn mà NHTM phải trả khi đến hạn.
Số lãi này đã hạch toán vào chi phí trong kì nhưng chưa trả cho khách hàng.
TK 491: Lãi phải trả cho tiền gửi
TK 492: Lãi phải trả về phát hành GTCG
TK 493: Lãi phải trả cho tiền vay
Kết cấu chung của tài khoản lãi phải trả:
Bên có ghi: Số tiền lãi phải trả dồn tích
Bên nợ ghi: Số tiền lãi đã trả
Số dư có: Số tiền lãi phải trả dồn tích chưa thanh toán
d. Tài khoản chi phí chờ phân bổ (số hiệu 388)
Tài khoản này dùng để phản ánh các chi phí thực tế đã phát sinh nhưng
có liên quan đến kết quả hoạt động kinh doanh của nhiều kì kế toán và việc
kết chuyển phân bổ các khoản chi phí này vào chi phí của các kì kế toán phù
hợp với quy định của chuẩn mực kế toán.
Kết cấu của tài khoản 388:
Bên nợ ghi: Chi phí chờ phân bổ phát sinh trong kì