BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
=== ===
BÙI THỊ TƯƠI
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN
XUẤT THUỐC LÀO TẠI HUYỆN VĨNH BẢO, HẢI
PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
=== ===
BÙI THỊ TƯƠI
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT
THUỐC LÀO TẠI HUYỆN VĨNH BẢO,
HẢI PHÒNG
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập nghiên cứu và viết luận văn thạc sỹ, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều phòng, ban, ngành và cá nhân.
Trước hết cho phép tôi cảm ơn đến các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Phát
triển nông thôn đã dạy và giúp đỡ tôi trong suốt khoá học thạc sỹ này. Tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn TS. Nguyễn Viết Đăng, các thầy cô
trong bộ môn Kinh tế Nông nghiệp và Chính sách, Học viện Nông Nghiệp Việt
Nam đã tận tình đóng góp ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn Thạc sỹ.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Vĩnh Bảo, các phòng, ban ngành
chức năng của huyện đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân đã hỗ trợ,
giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này.
Hà nội, ngày 12 tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn
Bùi Thị Tươi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
MỤC LỤC
Lờ
i
Lờ
i
M
2.1.2 Nội dung
phát triển sản
2.1.3 Đặc điểm
kinh tế - kỹ thuật
2.1.4 Các nhân
tố ảnh hưởng đến
2.2
Cơ sở
thực tiễn về phát
2.2.1 Tình hình
phát triển sản
2.2.2 Tình hình
phát triển sản
2.2.3 Một số
nghiên cứu về
PHẦN III:
PHƯƠNG PHÁP
3.1
Đặc điểm
của địa bàn
3.1.1 Đặc điểm
về điều kiện tự
3.1.2 Đặc điểm
về điều kiện kinh
i
i
ii
i
i
3
5
3
5
3
7
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
3.2
Phươn
3.2.1
Phươn
3.2.2
Phươn
3.3
Hệ
PHẦN
IV
4.1 T
h
4.1 Q
.1 u
B
ả
4.1 N
.2 g
P
h
PHẦN
V
5.1
Kết
5.2
Kiến
TÀI
LIỆU
PHỤ
LỤC
4
4
4
4
4
5
4
5
4
7
4
7
4
7
5
0
5
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
DANH MỤC BẢNG
ST
T
2.1
2.2
2.3
2.4
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
4.1
4.2
4.3
4.4
4.5
4.6
4.7
4.8
4.9
4.1
0
Tang
ết 2
T 5
ìn 4
D
iệ
n 5
ă 9
T 6
h 0
S 6
ự 2
T
ì
tr 6
a 6
T 7
ìn 1
T 7
ìn 3
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước đang phát triển với nông nghiệp là ngành sản xuất vật
chất chính, giữ vai trò lớn trong việc phát triển kinh tế cũng như xã hội. Chính vì
hồi như Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Irắc… (Trần Đăng Kiên, 2011). Ở Việt Nam, thuốc lào
được trồng nhiều ở miền Bắc song tập trung tại một số tỉnh/thành như: Hải
Phòng, Thái Bình, Thanh Hoá, Bắc Ninh… với diện tích trồng hàng năm dao
động ở mức 3.000-4.000 ha/năm. Trong đó Hải Phòng có diện tích trồng hàng năm
khoảng 1.500-2.200 ha; sản lượng thuốc dao động từ 3.000-4000 tấn... Ngoài ra,
thuốc lào còn được trồng rải rác, không ổn định và mang tính tự cung, tự cấp ở
nhiều vùng như Nghệ An, Tây Nguyên, thành phố Hồ Chí Minh. Sản xuất thuốc lào
ở Hải Phòng đã trở thành nghề truyền thống của hàng ngàn hộ nông dân cũng như
các cơ sở kinh doanh và kỹ thuật sản xuất thuốc lào nơi đây được truyền từ đời này
qua đời khác góp phần tạo nên tính chất đặc thù và danh tiếng của sản phẩm. Hiện
nay, thuốc lào Hải Phòng là loại cây trồng được chú trọng sản xuất bởi nó là loại
sản phẩm hàng hoá có giá trị cao. Sản phẩm thuốc lào có thị phần lớn và tiêu thụ
rộng rãi. Vùng trồng thuốc lào có doanh thu đạt trên 70 triệu đồng/ha/năm và thu
nhập từ thuốc lào chiếm 50-60% tổng thu nhập của nông hộ. Tuy mang lại hiệu quả
kinh tế cao và được trồng ở nước ta từ rất lâu, song những nghiên cứu về cây
thuốc lào tại Việt Nam còn rất hạn chế. Do đó nguồn gốc, phân loại, các giống
thuốc lào phổ biến hiện nay, cũng như tình hình sản xuất, kinh doanh cây thuốc lào
còn thiếu thông tin, nên nhiều tài liệu chưa thống nhất…
Đặc biệt ở huyện Vĩnh Bảo do đặc thù của đất đai, địa lý, khí hậu...là nơi mà
thuốc lào sinh trưởng và phát triển tốt cho giá trị kinh tế khá cao so với việc sản
xuất các loại hoa mầu khác, và sản xuất thuốc lào tại các địa phương khác. Ngày
nay việc chuyên môn hóa vào sản xuất thuốc lào đã đem lại giá trị kinh tế khá cao
cho người nông dân ở huyện Vĩnh Bảo. Mặc dù giá trị sản xuất của thuốc lào là khá
lớn như vậy. Nhưng việc sản xuất phát triển thuốc lào vẫn chưa được triển khai
rộng rãi và chưa được quan tâm sát sao. Dẫn đến một số khó khăn bất cập trong quá
trình sản xuất thuốc lào. Làm thế nào để khai thác triệt để được giá trị kinh tế của
thuốc lào. Để quá trình sản xuất đó trở thành ngành sản xuất chính trong lĩnh vực
nông nghiệp của bà con nông dân huyện Vĩnh Bảo. Chính vì vậy em quyết định lựa
chọn tên đề tài : “Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất thuốc lào tại huyện
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Khái niệm về phát triển
Phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng
tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện
hơn. Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu, (Nguyễn
Quang Hạnh và cộng sự, 2006).
Khái niệm về phát triển sản xuất
Phát triển sản xuất là khái quát những vận động trong quá trình sản xuất theo
chiều hướng từ thấp lên cao, từ giản đơn đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn
thiện hơn. Để nhằm giúp cho quá trình sản xuất ngày một đem lại hiệu quả kinh tế
cao hơn về năng xuất, chất lượng, giá cả…(Nguyễn Đăng Hải, 2001).
Khái niệm về phát triển sản xuất thuốc lào
Phát triển sản xuất thuốc lào là việc cải tiến quy trình sản xuất từ tự phát, và
trên nền tảng những kinh nghiệm sản xuất truyền thống để đưa ra những giải pháp
về đất đai, giống, vật tư, kỹ thuật…để có được chất lượng sản phẩm, năng suất, giá
thành hiệu quả hơn. Nhằm đảm bảo quá trình sản xuất cây thuốc lào ngày một theo
chiều hướng tốt hơn, cho thu nhập cao hơn và sản xuất bền vững hơn.
Khái niệm về diện tích đất canh tác
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
Diện tích canh tác là diện tích đất hiện hữu dùng để trồng một hay nhiều
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
loại cây trồng qua các vụ trong năm. Như vậy ta có diện tích canh tác của từng vụ,
Page 6
triển thuốc lào cũng được đặc biệt quan tâm vì đây là cây nông nghiệp truyền thống
đem lại hiệu quả kinh tế khá cao trong sản xuất của người nông dân.
2.1.2.2 Giống thuốc lào
Các giống thuốc lào hiện đang được trồng là những giống đã có từ trước, tên
gọi các giống được trồng cũng được nông dân tự đặt tên theo từng địa phương.
Trong thời kỳ 2001 - 2004, Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá đã thu thập gần 100
dòng và đã chọn lọc được 20 dòng từ 3 nhóm giống phổ biến ngoài sản xuất. Các
dòng này đều có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt; năng suất và chất lượng bằng
hoặc cao hơn các giống đang trồng trong sản xuất. Các dòng này cũng đã được khảo
nghiệm tại xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo vụ Xuân 2004 và cho kết quả tốt. Hiện nay
Viện đang tiếp tục chọn lọc, so sánh và tiến hành lai tạo nhằm tạo giống thuốc
lào kháng bệnh, có năng suất cao và chất lượng tốt phục vụ sản xuất trong những
năm tới (Nguyễn Văn Biếu và cộng sự, 2005). Kết quả thí nghiệm giống trên 90
dòng được chia thành ba nhóm giống
Nhóm giống: Ré đen, Ré trắng và nhóm Tai voi theo đặc trưng về đặc điểm
giống.
- Nhóm giống Ré Trắng có hình dạng lá hình lưỡi mác, hầu như không có tai
lá và viền cuồng lá, thân cây cao, đóng lá dày, số lá kinh tế cao (>30 lá), lá
dày. Chiều cao từ 1,6 -2,0m; có 35-40 lá. Thời gian sinh trưởng 160 ngày, thời gian
thu hoạch là 125-130 ngày. Nhóm này có khả năng chống chịu một số bệnh
hại phổ biến như bệnh đen thân, héo rũ vi khuẩn khá nhưng vẫn bị nhiễm bệnh
khảm lá do virus TMV.
- Nhóm giống Ré Đen có hình dạng lá nhọn, hầu như không có tai lá, thân
cây cao trung bình, đóng lá thưa, số lá kinh tế trung bình (22-25 lá), lá dày. Chiều
cao cây từ 1,6-2,0m, thời gian sinh trưởng từ 140-160 ngày; thời gian thu hoạch từ
120-130 ngày. Đây hiện là nhóm giống được trồng phổ biến tại Hải Phòng và có
trên nhiều loại đất khác nhau. Phân urê được các hộ sản xuất thuốc lào ở huyện
Vĩnh Bảo sử dụng để bón lót khi cây còn non và bón thúc khi cây đang trong giai
đoạn phát triển mạnh. Các hộ dân trong xã thường mua phân urê từ các cửa hàng
buôn bán vật tư nông nghiệp.
Khi bón nhiều phân urê năng suất cây trồng có thể tăng lên, song nếu bón
quá nhiều thì sẽ không có hiệu quả do mức chi phí bỏ ra để đầu tư phân quá cao so
với kết quả thu được.
Do là một nghề truyền thống, nên các hộ dân trong xã hầu như đã có kinh
nghiệm trong việc sử dụng liều lượng phân Urê một các hiệu quả. Hầu hết các hộ sử
dụng mức bón xoay quanh 50kg/sào. Mức bón có thể tăng hoặc giảm do sử dụng
thêm các loại phân khác, như phân lân và phân NPK.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
Phân NPK là một trong những loại phân bón vô cơ thông dụng trong canh
tác nông nghiệp. NPK gồm có nhiều loại với các tỷ lệ pha trộn Nitơ, Phốt pho và
Kali khác nhau nhằm cung cấp đồng thời cả 3 yếu tố dinh dưỡng trên giúp cây trồng
phát triển tốt.
Tuy nhiên, phân NPK được các hộ trồng thuốc lào sử dụng với khối lượng
khá ít. Theo như ý kiến của các hộ dân trong huyện thì việc bón phân NPK hay
không không quan trọng vì cây thuốc lào ưa phân chuồng và phân đạm hơn. Bình
quân mức bón phân NPK cho cả 50 hộ ở mức 13kg/sào, hộ bón nhiều nhất là
20kg/sào.
Phân chuồng là loại phân hữu cơ quan trọng trong quá trình sinh trưởng
và phát triển của cây thuốc lào. Nó giúp đạt năng suất cây trồng cao hơn và cải tạo
đất. Trước đây 100% hộ trồng thuốc lào đều phải sử dụng phân chuồng, các hộ có thể
ủ phân rồi bón hoặc có thể lấy nước tưới cho thuốc lào. Hộ nào bón nhiều có thể lên
tới
* Thời vụ trồng thuốc lào
Theo Dương Văn Hoài (2009), có hai vụ trồng thuốc lào chính là vụ Đông
Xuân (gieo hạt từ 15/10 – 30/11; trồng 1/12-15/1; thu hoạch 1/2-15/5) và vụ Hè Thu
(gieo hạt từ 1/3 – 15/4; trồng 15/4-30/5; thu hoạch 14/6-30/7). Miền Bắc trồng vào
vụ Đông Xuân, vùng Tây nguyên trồng vụ Hè Thu. Với thuốc lào, các vùng trồng
thuốc thường tiến hành gieo hạt giống vào khoảng 20/11 năm trước, sau khoảng 2
tháng khi cây giống đạt tiêu chuẩn, tiến hành nhổ cây giống và trồng vào khoảng
10-30/1 năm sau. Thông thường, thời vụ trồng thuốc vào lúc nhiệt độ thấp, thường
xuyên có những đợt rét đậm, thậm chí rét hại. Qua tổng kết thực tiễn sản xuất của
Trung tâm Khuyến nông Hải Phòng, thời vụ trồng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh
trưởng và phát triển của cây; thời vụ trồng muộn lúc nhiệt độ tăng dần giúp cây sinh
trưởng tốt hơn song lại ảnh hưởng đến thời vụ của lúa mùa. Trong khoảng thời
gian trên, thời vụ trồng không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sản phẩm.
* Mật độ trồng thuốc lào
Cây thuốc lào hiện nay, theo tập quán canh tác tại Hải Phòng, thường được
trồng theo hai hàng chạy dọc luống theo hình nanh sấu, khoảng cách hàng x hàng từ
50-60 cm, cây cách cây 50cm. Mật độ khoảng 19.000 -22.000 cây/ha. Đối với cây
thuốc lào, đến thời điểm hiện tại chưa có nghiên cứu nào về mật độ trồng thuốc
lào ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thuốc lào, song theo kinh nghiệm
truyền thống thì trồng với mật độ cao hoặc quá thấp thì năng suất thương
phẩm sẽ càng giảm. Bên cạnh đó, trồng với mật độ cao sẽ gây khó khăn cho việc
chăm sóc, tỉa chồi và phòng trừ sâu bệnh cho cây.
* Các biện pháp diệt chồi thuốc lào
Bấm ngọn, diệt chồi là biện pháp bắt buộc đối với tất cả các hộ trồng.
Số lá trên cây khi bấm ngọn trung bình 24 lá và cây xuất hiện nụ hoa. Việc bấm
ngọn tức loại trừ ưu thế ngọn nên/lập tức các chồi bên được kích thích hình thành
nhanh chóng làm tổn hại đến năng suất và chất lượng. Việc đánh chồi là rất quan
trọng do vậy hộ nào cũng tiến hành, thường ngắt bỏ bằng tay: 3 - 5 ngày/lần.
Bấm ngọn, diệt chồi cũng có sự khác biệt theo vùng và có ảnh hưởng đáng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
nhất, đồng thời thuận lợi cho chế biến thuốc. Đối với lá chân, thời gian thu vào
khoảng cuối tháng 4. Số lá chân bình quân là 5,4 lá/cây, dao động trong khoảng từ 3
– 8 lá/cây; thu hoạch lá chính và lá ngọn (cùng một lúc và chấm dứt vụ thu hoạch),
số lá chính và lá ngọn có khoảng từ 15-30 lá/cây, trung bình mỗi cây là 20 lá.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
- Ủ thuốc: Lá thu về được rọc bỏ sống lá, cuộn và ủ khoảng 5 ngày 4 đêm đến
khi thuốc vàng chín đều ta thái thành sợi. Nếu ủ ngắn ngày hơn, thuốc sẽ chưa
chín hoàn toàn, khi thái sợi thuốc vẫn xanh; nếu để ủ quá ngày sẽ làm lá thuốc bị thối.
- Thái (thành sợi thuốc). Sau khi cuộn thuốc được ủ chín (lá chín vàng đều)
tiến hành thái thuốc.Từ năm 2004 về trước thái thủ công bằng tay là chủ yếu; hiện
nay xuất hiện một vài hộ sản xuất thuốc có máy thái góp phần nâng cao hiệu suất
lao động và chất lượng sợi thành phẩm.
- Phơi thuốc.
Đây là kỹ thuật đơn giản song lại rất quan trọng quyết định đến chất lượng
thuốc. Tất cả các vùng trồng thuốc hiện nay đều phơi trên phên tre. Thời xa xưa, kỹ
thuật phơi rất cầu kỳ, người ta “hồ” lên trên phên thuốc để thuốc được ngon
hơn. Tuy nhiên hiện nay thì kỹ thuật này không được phổ biến.
Trong quá trình phơi thuốc, ta phải tiến hành phun nước (dạng sương) để làm
cho sợi thuốc dai, đanh… song đặc biệt là tránh mưa. Phơi thuốc vào những ngày
nắng nóng, đặc biệt vào thời điểm có gió Tây Nam, chất lượng thuốc lào tốt nhất.
Bên cạnh đó, trong quá trình phơi tuyệt đối tránh gặp mưa; nếu trong thời gian thái
xong mà thời tiết không thuận, buộc phải tiến hành các biện pháp phơi khác như:
sấy, hong…
- Đóng gói
Kỹ thuật đóng gói cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng thuốc, nếu
ta đóng gói không tốt sẽ làm cho thuốc bị mất hơi, hút không ngon và thậm chí
nay, diện tích trồng thuốc lào ở Vĩnh Bảo nói riêng và cả nước nói chung không
giảm. Cây thuốc lào đã và đang là cây trồng có hiệu quả kinh tế cao cho nhân
dân địa phương, góp phần đắc lực vào đảm bảo an sinh – xã hội. Thuốc lào tiêu
thụ thường qua kênh bán trực tiếp cho người thu gom, một số ít bán lẻ cho
người tiêu dùng. Chủ yếu được tiêu thụ qua hai kênh như vậy nên đôi khi bà
con nông dân mắc phải tình trạng ép giá cả từ lái buôn.
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của phát triển sản xuất thuốc lào
a. Đặc điểm thực vật học của thuốc lào
Cây thuốc lào có tên khoa học là NicotianarusticaL.họ Cà Solanaceae. Cây
thảo mọc hàng năm, cao chừng 1m, thấp hơn cây thuốc lá. Toàn cây có lông
dính. Lá mọc so le, có cuống dầy, phiến lá hình trứng đầu nhọn, to và dày hơn lá
cây thuốc lá. Cụm hoa là một cờ ở ngọn thân, hay cành. Cánh hoa màu vàng hay
lục sẫm dính liền nhau thành ống ở dưới, phía trên chia 5 thuỳ, tròn, ngắn. Quả
nang hình trứng hoặc gần hình cầu có đài còn lại bọc ở ngoài, chứa nhiều hạt nhỏ
màu đen.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
Về mặt nguồn gốc, tất cả 65 loài đã phát hiện thuộc chi thuốc lá (nicotiana)
đều có xuất xứ từ châu Mỹ, châu Phi và điều đặc biệt nữa là cả 2 loài
(Nicotiana tabacum và nicotiana rustica) đều không tìm thấy mọc ở dạng hoang dại.
Thuốc lào có hàm lượng nicotin rất cao. Lá của nó ngoài việc dùng để hút
còn sử dụng rộng rãi trong việc sản xuất các thuốc trừ dịch hại hữu cơ. Thuốc lào có
hàm lượng nicotine khoảng 9%, cao hơn nhiều so với thuốc lá thông thường
(khoảng 1 - 3%).
• Rễ thuốc lào
Rễ thuốc lào là một hệ thống bao gồm: rễ cái (rễ trụ), rễ nhánh (rễ bên) và rễ
hấp thu. Ngoài ra, thuốc lào còn có rễ bất định nằm ở cổ rễ, phần trên sát mặt đất.
trung tâm và có các nhành hoa mọc từ trục chính của chùm hoa.
Phương thức thụ phấn của thuốc lào là tự phối (97-98%), còn lại có thể là do
thụ phấn chéo do gió hoặc côn trùng….
• Quả và hạt thuốc lào
Quả thuốc lào được hình thành trên đài hoa. Mỗi cây có 100 – 150 quả trên
mỗi chùm hoa. Mỗi quả có hai ngăn, khi chín chúng thường tách ra.
Hạt thuốc lào rất nhỏ, khối lượng 1000 hạt sấy lò là 0,07 – 0,10 gam, trong
mỗi gam hạt có từ 10.000 – 15.000 hạt.
b. Đặc điểm kỹ thuật trong sản xuất thuốc lào
So với trồng lúa và các cây rau màu khác thì trồng thuốc lào vất vả hơn rất
nhiều. Bà con phải thường xuyên bẻ chồi phụ (chánh), cứ đều đặn tuần một lần
để tập trung phát triển cho thân chính. Rồi đến công việc làm cỏ, tưới nước, phun
thuốc chống rầy, bón phân… Từ khi trồng đến khi thu hoạch, lúc nào người nông
dân cũng "đầu tắt mặt tối" chăm sóc sao cho cây thuốc lào mang lại năng suất
cao nhất.
Từ lúc trồng là vào đầu tháng 11 năm này cho tới tháng 4, tháng 5 năm sau,
ngày nào cũng cần phải chăm sóc.
Bắt đầu gieo hạt từ đầu tháng 10 dương lịch, nếu muộn là tháng 12, để tránh
sương muối, mỗi luống được che đậy rất cẩn thận.
Sau một thời gian, khi cây đã có từ 2 - 3 lá thì bắt đầu quá trình giâm. Điều
này sẽ làm cây phát triển tốt hơn, không héo. Khoảng 15 - 20 ngày sau thì bắt đầu
cày đất, vun luống, đổ hốc, bón phân và bắt đầu trồng.
• Chọn đất và làm đất trồng
- Chọn đất: Cây thuốc lào phù hợp với đất thịt nhẹ, thịt trung bình, cát pha,
đất bãi bồi. Đất không chua, nhiễm mặn, phèn. Không chọn đất bị ngập, úng. Để có
năng suất cao và giảm chi phí đầu tư chọn đất gần nguồn nước tưới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
thôi. Nếu ít phân thì thuốc không phát triển được, lá ít, lá nhỏ lại mỏng, ngược
lại đủ phân, bón đúng cách, cây thuốc nhiều lá, lá to, lá dày, cho chất lượng
ngon. (thường bón 500kg đến 800kg phân chuồng cho một sào).
- Làm cỏ, vun gốc: Từ 2-3 lần kết hợp với bón phân, lần 1 xới nhẹ, vun thấp,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 16