Giá trị và tác động của bộ luật hồng đức đến pháp luật hôn nhân và gia đình việt nam hiện nay - Pdf 53

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------

ĐỖ THỊ LĨNH

GIÁ TRỊ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BỘ LUẬT HỒNG
ĐỨC ĐẾN PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------

ĐỖ THỊ LĨNH

GIÁ TRỊ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BỘ LUẬT HỒNG
ĐỨC ĐẾN PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60380101

HIỆN NAY ................................................................................................................. 7
1.1. Tổng quan Bộ luật Hồng Đức .............................................................................. 7
1.2. Cơ sở lý luận về sự tác động của Bộ luật Hồng Đức đến pháp luật Hôn nhân và
gia đình hiện nay.......................................................................................................10
1.3. Những giá trị đương đại của Bộ luật Hồng Đức ................................................ 13
1.3.1. Những giá trị chung có ý nghĩa đương đại của Bộ luật Hồng Đức ................ 13
1.3.2. Những giá trị đương đại của Bộ luật Hồng Đức trong lĩnh vực hôn nhân và
gia đình ...................................................................................................................... 34
Chƣơng 2: TÁC ĐỘNG CỦA BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC VÀ SỰ KẾ
THỪANHỮNG GIÁ TRỊ CỦA BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC TRONG QUÁ TRÌNH
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN
NAY .......................................................................................................................... 43
2.1. Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay ........................................... 43
2.1.1. Khái quát về pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay .................. 43
2.1.2. Các chế định cơ bản trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay47
2.2. Tác động của Bộ luật Hồng Đức đến các chế định cơ bản của pháp luật hôn
nhân và gia đình Việt Nam hiện nay ......................................................................... 56
2.2.1. Chế định kết hôn ............................................................................................. 56
2.2.2. Quan hệ tình cảm giữa vợ và chồng ................................................................ 60
2.2.3. Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng ................................................................... 61
2.2.4. Chấm dứt hôn nhân ......................................................................................... 66


2.2.5. Quan hệ giữa cha mẹ và con và giữa các thành viên khác trong gia đình ...... 68
2.2.6. Chế định nuôi con nuôi ................................................................................... 71
2.3. Kế thừa những giá trị của Bộ luật Hồng Đức trong quá trình hoàn thiện các chế
định cơ bản của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay ....................... 72
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO


một cách thịnh vượng và có chiều sâu.
Đó chính là lý do để em quyết định nghiên cứu đề tài: “Giá trị và tác động
của Bộ luật Hồng Đức đến pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay”
để làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình. Trong bối cảnh hiện nay việc
nghiên cứu này là cần thiết và có thể thực hiện được.


2

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Bộ luật Hồng Đức đã được rất nhiều nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước
đề cập đến. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều các công trình tiêu
biểu và có giá trị lớn nghiên cứu về nội dung và giá trị của Bộ luật này. Một số công
trình có giá trị mà các nhà nghiên cứu nước ngoài đã thực hiện có thể kể đến là
Insun Yu với cuốn “ u t v
t
t
-XIII”, nhà xuất bản Khoa
học xã hội, Hà Nội 1994; Công trình nghiên cứu “H t ống p áp lu t tr ều ý v
Tr ều Trần củ
t
, ố qu n g ữ Đường lu t v ê Tr ều Hìn u t” của
tác giả Insun Yu, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Số 1/2011; hay cuốn “ ác
v n ề về p áp lu t v t c ” của Yamamoto Tatsuro…và nhiều nghiên cứu khác
nữa ở các cấp độ và góc độ khác nhau.
Ở trong nước cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu với nhiều tác phẩm
tiêu biểu về Bộ luật Hồng Đức như các tác phẩm
n v n t u l c của Lê Quý Đôn,
một tác phẩm có giá trị trên nhiều lĩnh vực như văn học, địa lý, lịch sử, chính trị và
pháp luật…trong đó có nhiều nội dung nói về tổ chức bộ máy nhà nước và hệ thống

3

luật Hồng Đức và lịch sử Việt Nam thời Lê sơ. Một số công trình tiêu biểu của thời
kỳ này có thể kể đến g ên cứu về t ống p áp lu t
t
t
–T
XVIII, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà nội, 1994 do tác giả Đào Trí Úc chủ biên;
Công trình này đã tái hiện một phần của lịch sử Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ XV
đến thế kỷ XVIII; tái hiện nhiều văn bản pháp luật của nhà nước phong kiến triều
Lê, một số chỉ dụ, sắc dụ, chiếu chỉ của nhà nước qua sự sưu tầm, biên dịch của
nhiều nhà khoa học, nhiều học giả nổi tiếng. Công trình này đã làm sáng tỏ
nhiều vấn đề liên quan đến quá trình pháp điển hóa pháp luật Việt Nam và nhiều nội
dung liên quan đến Bộ luật Hồng Đức.
Một công trình nghiên cứu nổi tiếng nữa là cuốn “ ê T án Tông c n ngườ
v sự ng p”. Đây là công trình nghiên cứu gồm nhiều báo cáo khoa học được
trình bày tại cuộc Hội thảo quốc gia nhân dịp kỷ niệm 500 năm ngày mất của Lê
Thánh Tông. Nhiều vấn đề liên quan đến thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của Lê
Thánh Tông đã được đề cập đến trong đó có vai trò của ông trong việc xây dựng,
hoàn thiện Bộ luật Hồng Đức – công trình lập pháp tiêu biểu của dân tộc Việt Nam
Năm 2004, Công trình chuyên khảo: “ uốc tr ều ìn lu t, l c sử ìn
t n , n dung v g á tr ” do Tiến sĩ Lê Thị Sơn chủ trì thực hiện với 16 bài nghiên
cứu của nhiều tác giả đã được công bố. Công trình này đã đề cập đến nhiều vấn đề
về nội dung, hình thức và những giá trị lịch sử của Bộ luật Hồng Đức trong hệ
thống pháp luật Việt Nam phong kiến và lịch sử lập pháp Việt Nam.
Năm 2007, Hội thảo quốc gia tại Thanh Hóa do Bộ tư pháp chủ trì với chủ đề
“ uốc tr ều ìn lu t – n ững g á tr l c sử v ư ng
g p p ần ây dựng n
nước p áp quyền ở
t

t

ng qu n l

tr ng nền

n c n

t

n, Nhà nước và Pháp luật, Số 11/2008 của tác giả Nguyễn Thị
n ững g á tr tr ng tư tưởng về n nước củ ê T án Tông,

Nhà nước và Pháp luật, Số 12/2007; ố qu n
qu n n
c tr củ ê T án Tông tv

gữ n
suy ng

nước v n ân dân tr ng
t l c sử, Nhà nước và

Pháp luật, Số 10/2010 của tác giả Nguyễn Thị Việt Hương và Trương Vĩnh Khang;
t v suy ng về t n trìn l c sử n nước v p áp lu t
t
, Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật, Viện nhà nước và pháp luật, Viện khoa học xã hội Việt Nam, số
9(281)/2011 của tác giả Đỗ Đức Minh;
ững ản ưởng t c cực củ

n nay, Luận án tiến sĩ luật học, Hà Nội, 2013 của tác giả Lương Văn
Tuấn….
Như vậy, các công trình trên mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về lịch sử
hình thành, nội dung và những giá trị của Bộ luật Hồng Đức hay hệ thống pháp luật,
thể chế được quy định như thế nào trong Bộ luật? và từ đó rút ra được bài học kinh
nghiệm góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, bảo vệ các quyền của
con người. Những vấn đề về tác động của Bộ luật Hồng Đức đến một ngành luật cụ
thể vẫn chưa nghiên cứu sâu để từ đó rút ra được kinh nghiệm xây dựng, hoàn thiện
hệ thống pháp luật trong từng ngành luật. Vậy, Luận văn này sẽ góp phần nghiên
cứu một cách toàn diện và có hệ thống đánh giá về giá trị và tác động của Bộ luật
này đến pháp luật hôn nhân và gia đình và kế thừa những giá trị đó trong quá trình


5

hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay.
3. Đối tƣợng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là các giá trị của Bộ luật Hồng Đức và sự
tác động của những giá trị đó đến pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện
nay cũng như rút ra được một số bài học kinh nghiệm trong quá trình hoàn thiện
pháp luật hôn nhân và gia đình.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ ra những giá trị cơ bản của Bộ luật Hồng
Đức trong điều kiện hiện nay. Trên cơ sở đó, Luận văn đi sâu phân tích những giá
trị của Bộ luật này trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Từ đó, Luận văn tập trung
nghiên cứu những tác động tích cực của Bộ luật Hồng Đức trong lĩnh vực hôn nhân
và gia đình lên pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay. Nói một cách cụ
thể hơn, trên cơ sở chỉ rõ những giá trị của Bộ luật Hồng Đức, Luận văn tiếp tục
phân tích chỉ ra tác động của những giá trị của Bộ luật Hồng Đức trong lĩnh vực hôn
nhân và gia đình đến pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:

rút ra những kinh nghiệm quý báu trong việc hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia
đình Việt Nam hiện nay.
Nghiên cứu về giá trị của Bộ luật Hồng Đức sẽ góp phần vào tổng kết, đánh
giá những đóng góp và thành tựu của triều Lê sơ về phương diện pháp luật. Trên cơ
sở đó tìm hiểu thêm về những giá trị lịch sử truyền thống của dân tộc, tìm ra bài học
bổ ích trong công cuộc hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện nay nói chung và pháp
luật hôn nhân và gia đình nói riêng.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm có 2 chương:
Chƣơng 1: Tổng quan về Bộ luật Hồng Đức và cơ sở lý luận về sự tác
động của những giá trị đƣơng đại của Bộ luật Hồng Đức đến pháp luật hôn
nhân và gia đình Việt Nam hiện nay.
Chƣơng 2: Tác động của Bộ luật Hồng Đức và sự kế thừa những giá trị
của Bộ luật Hồng Đức trong quá trình hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia
đình Việt Nam hiện nay.


7

Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ
TÁC ĐỘNG CỦA NHỮNG GIÁ TRỊ ĐƢƠNG ĐẠI CỦA BỘ LUẬT
HỒNG ĐỨC ĐẾN PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Tổng quan Bộ luật Hồng Đức
Bộ luật Hồng Đức đã được soạn thảo và ban hành trong bối cảnh lịch sử đầy
biến cố và phức tạp của Đại Việt trong hơn 500 năm trước. Bộ luật ra đời và gánh
vác trên vai nó những trách nhiệm và thách thức rất nặng nề đến mức khó tin là có
thể đảm đương nổi, khó tin là có thể vượt qua được. Nhưng Bộ luật Hồng Đức đã

Lê Thánh Tông với niên hiệu Hồng Đức vì thế mới có tên gọi là Bộ luật Hồng Đức
như Đinh Gia Trinh, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Quang Quýnh. Nhiều nhà nghiên cứu
lại cho rằng Bộ luật được ban hành dưới triều vua Lê Thái Tổ và được bổ sung,
hoàn thiện dưới triều vua Lê Thánh Tông như Nguyễn Ngọc Huy, Yamamoto
Tatsuro, Insun Yu…Mỗi tác giả đều có lý lẽ riêng để chứng minh nhận định của
mình. Nhưng hiện nay, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng Bộ luật Hồng Đức

1

Quốc triều hình lu t, Nhà xuất bản tư pháp, Hà Nội, 2013.


8

được khởi thảo ngay từ năm đầu tiên của triều vua Lê Thái Tổ, được hoàn thiện dần
và gần như hoàn chỉnh dưới triều vua Lê Thánh Tông.
Ngay từ khi còn chưa lên ngôi, Lê Lợi đã đề cập đến việc “b n n p áp
l n c tr quân dân” và khẳng định “t ư
n n y, tr nước phả c p áp lu t,
ông c p áp lu t thì sẽ l n”2. Vì vậy sau khi lên ngôi ông đã rất chú ý đến việc
xây dựng một nhà nước mạnh với một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Nhiều ghi
chép trong sử sách đã chứng minh nhận định Bộ luật Hồng Đức đã được khởi thảo
ngay từ năm đầu tiên dưới thời Lê Thái Tổ trị vì.
Năm Đại Bảo, dưới triều vua Lê Thái Tông, vua sai Nguyễn Trãi “sử

n ”

Luật thư gồm 6 quyển. Bộ Luật thư do Nguyễn Trãi sửa định hiện nay không còn
nữa và cũng chưa tìm thấy căn cứ để xác định nó có được đưa vào Bộ luật Hồng
Đức hay không?3.

4

Quốc triều hình lu t, những g á tr l c sử v

ư ng

Nam (2008), Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, tr.30-31.

g p p ần xây dựng n

nước pháp quyền ở Vi t


9

+ Quyển 3 có 3 chương: Hộ hôn (58 điều), Điền sản (59 điều), Thông gian (10
điều)
+ Quyển 4 có 2 chương: Đạo tặc (54 điều), Đấu tụng (50 điều)
+ Quyển 5 có 2 chương: Trá ngụy (38 điều), Tạp luật (92 điều)
+ Quyển 6 có 2 chương: Bộ vong (13 điều), Đoản ngục (65 điều).
Bộ luật Hồng Đức là một bộ luật có tính chất tổng hợp, phạm vi điều chỉnh
rất rộng và được xây dựng dưới dạng hình sự, áp dụng chế tài hình luật. Các nhà
nghiên cứu thường chia nội dung của nó thành: luật Hình, luật Dân sự, luật Hôn
nhân gia đình và luật Tố tụng.
Trong Bộ luật Hồng Đức, các quan hệ hôn nhân và gia đình được điều chỉnh
khá toàn diện và mang những sắc thái riêng biệt, độc đáo phù hợp với phong tục tập
quán của dân tộc Việt Nam đồng thời đạt được những tiến bộ mà không hề có trong
các văn bản pháp luật khác dưới chế độ phong kiến. Về nội dung, sự điều chỉnh các
quan hệ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật Hồng Đức đã thể hiện tính nhân văn,
nhân đạo của dân tộc, tạo nên giá trị của Bộ luật. Giá trị nhân văn đó được biểu hiện

thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh hơn.


72

2.3. Kế thừa những giá trị của Bộ luật Hồng Đức trong quá trình hoàn thiện
các chế định cơ bản của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay
Luật Hôn nhân và gia đình được Quốc hội thông qua ngày 19-6-2014 và có
hiệu lực thi hành từ 1-1-2015. Tuy nhiên cho đến nay, Luật Hôn nhân cũng đã bộc
lộ một số bất cập và khó thực thi trong thực tế hiện nay. Để khắc phục những bất
cập đó thì việc kế thừa những giá trị tích cực của Bộ luật Hồng Đức là một việc cần
thiết để hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật Hôn nhân và gia đình
nói riêng. Một số bất cập trong Luật Hôn nhân và gia đình trong quá trình thực thi
như sau:
Thứ nhất, những quy định xử lý vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng vẫn
chưa đạt hiệu quả cao và đủ sức răn đe, do đó tình trạng vi phạm chế độ một vợ,
một chồng diễn ra hết sức phức tạp và ngày càng gia tăng.
Ở nước ta, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là một nguyên tắc hiến
định và dần trở thành nguyên tắc của cuộc sống gia đình, là nền tảng để xây dựng
một xã hội văn minh, phát triển bền vững. Tuy nhiên trong thực tế, tình trạng ngoại
tình, nam nữ chung sống như vợ chồng ngày càng phổ biến ở nhiều địa phương,
nhất là các thành phố lớn.
Việc giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một
chồng trong thực tế có nhiều vấn đề còn tồn tại. Cụ thể:
+ Các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng xảy ra
trong thực tế rất nhiều, trong khi các vụ việc được giải quyết trước pháp luật là rất
nhỏ, thông thường các bên tự thỏa thuận giải quyết cho hành vi vi phạm, các bên
vẫn tiếp tục chung sống với nhau.
+ Khi người có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy kết hôn trái pháp
luật hoặc không công nhận quan hệ vợ chồng đối với một quan hệ nam nữ. Tòa án

u; c ng n u c
sẻ, t ực n các công v c tr ng g
ìn .
Cơ sở để xác lập quan hệ vợ chồng là tình yêu thương giữa nam và nữ. Khi
nam, nữ yêu thương nhau, hiểu nhau, thông cảm cho nhau…thì họ quyết định xác
lập quan hệ hôn nhân và trở thành vợ chồng của nhau. Khi đã trở thành vợ chồng thì
tình cảm yêu thương đó vẫn được duy trì trong suốt thời kỳ hôn nhân. Đó không chỉ
là đòi hỏi về pháp luật mà còn là yêu cầu về đạo đức. Bởi vì, “n u chỉ riêng hôn
nhân dự trên c sở tình yêu mới là hợp

ức t ì c ng c ỉ riêng hôn nhân trong

tìn yêu ược duy trì mới là hợp
ức
t ô 14. Và cũng xuất phát từ tình
yêu thương đó mà vợ chồng giữ lòng chung thủy với nhau, tình cảm của họ trước
sau như một. Chính yếu tố đó giúp cho vợ chồng chung sống hạnh phúc và là cơ sở
để duy trì quan hệ hôn nhân bền vững.
Tình yêu thương giữa vợ và chồng không giống tình yêu thương giữa cha mẹ
và con, giữa những người có quan hệ huyết thống nói chung, cũng như giữa những
người bạn, những người đồng nghiệp. Đó là là tình cảm gắn bó giữa hai con người
khác giới tính trong cuộc sống chung. Yêu thương là điều kiện đủ của chung thuỷ,
bởi, theo F. Engels, “bản ch t của tình yêu là không th chia sẻ”. Thế nhưng, trong
quan niệm của đạo đức Việt Nam, yêu thương không phải là điều kiện cần của
chung thuỷ: ngay nếu như không còn yêu thương nhau, vợ chồng vẫn có thể chung
thuỷ đối với nhau. Hơn nữa, không thể áp đặt nghĩa vụ yêu thương đối với vợ chồng
14

Ph.Ăngghen, “Ngu n gốc củ g
tập, tập VI, tr.130-131.

mẹ đều là hành vi trái pháp luật.
Những kẻ vi phạm “bổn phận” trên, nếu chưa gây hậu quả nghiêm trọng, có
thể bị xử phạt hành chính. Còn nếu hành vi vượt quá mức độ “đạo đức” gây ra
thương tích, tất nhiên kẻ phạm tội sẽ bị xử bằng luật hình sự.
Vậy, một người phạm tội có thể xử được, nhưng một kẻ không yêu thương
cha mẹ thì ai sẽ xử? Sẽ có rất nhiều người trả lời, khi pháp luật không xử phạt, tòa
án lương tâm sẽ lên tiếng. Với kẻ không có lương tâm, thì cái gì sẽ lên tiếng?
Thứ ba, trong Luật Hôn nhân và gia đình hiện nay chưa có những quy định cụ thể
về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước hay những người có thẩm quyền trong
việc bảo vệ quyền lợi của nhóm người yếu thế: người vợ, con, ông bà…Phải chăng
nên có những quy định về trách nhiệm của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền rõ ràng
hơn?
Thứ tư, bất cập trong kỹ thuật xây dựng các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia
đình.


75

Một đặc điểm khá phổ biến trong lập pháp hiện nay ở nước ta là trong các
điều luật chỉ là các quy định mang tính nguyên tắc, mà không có chế tài gắn liền với
các quy định đó. Chế tài thường là các quy định trách nhiệm chung chung, phải xem
và vận dụng ở một văn bản khác. Chính vì chế tài không gắn liền với một quy định
trong một quy phạm pháp luật nên pháp luật vừa thiếu cụ thể, vừa khó khăn trong
việc áp dụng, hạn chế tính bắt buộc chung của pháp luật15.
Ví dụ Điều 115 trong Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “
bên
c ng

n, túng t u c yêu cầu c p dư ng
v c p dư ng t e

những nội dung, giá trị mới.
15

GS. Trần Ngọc Đường (Nguyên phó chủ nhiện văn phòng Quốc hội), truy cập tại:

/>lap-phap-322083.html


76

Vì vậy, đối với việc kế thừa các giá trị tiến bộ của Bộ luật Hồng Đức nhằm
mục đích hoàn thiện hệ thống pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện nay, bản thân
người viết luận văn nhân thấy cần tập trung vào những điểm tiến bộ, còn có giá trị
áp dụng đối với pháp luật Hôn nhân và gia đình. Có như vậy mới thấy được giá trị
của Bộ luật Hồng Đức so với pháp luật hiện đại.
Một là, kế thừa và học hỏi kỹ thuật xây dựng quy phạm pháp luật trong Bộ luật
Hồng Đức để hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình hiện nay.
Có thể học hỏi từ Bộ luật Hồng Đức trong việc quy định rõ ràng các khái
niệm chứ không dừng lại ở việc quy định chung chung, không có sự giải thích dẫn
đến việc khó áp dụng trong thực tiễn.
Bộ luật Hồng Đức đã có những phân định rõ ràng những hành vi được coi là
“tội ác” gồm có 10 loại, gọi là “Thập ác”. Trong đó có quy định rõ thế nào là bất
hiếu, thế nào là bất nghĩa… Khoản 7, Điều 2 trong thập ác quy định về tội bất hiếu:
“ t u l các t tố cá
ặc d ng lờ lẽ c ử
ng, bỏ
, bỏ r t ông b , c
,
ặc
c t ng ông b c

l ng r n e t
ư b t u”.
Như vậy, Luật hôn nhân và gia đình hiện nay cần quy định rõ khái niệm “yêu
thương” giữa vợ chồng là như thế nào? hay những hành vi nào là bất hiếu đối với
cha mẹ và có những biện pháp trừng phạt thích đáng chứ không dừng lại ở việc quy
định chung chung mà phải cụ thể hóa hơn nữa.
Mặt khác, các điều luật trong Bộ luật Hồng Đức, chế tài bao giờ cũng gắn
chặt với quy định ngay trong một điều luật. Kỹ thuật lập pháp này vừa làm cho các
điều luật rất rõ ràng, minh bạch và cụ thể, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực
hiện và áp dụng pháp luật, lại vừa làm cho các quy định pháp luật có hiệu lực thực
thi rất cao trong đời sống nhà nước và xã hội. Kỹ thuật lập pháp này càng cần được
kế thừa và phát triển trong xây dựng pháp luật của nước ta hiện nay.
Pháp luật được bảo đảm thực hiện ngày nay một phần quan trọng là ở người
dân, nên luật phải được xây dựng một cách rõ ràng, đầy đủ và cụ thể tất cả các bộ
phận (giả định, quy định, chế tài) của quy phạm pháp luật. Phải chú ý đến văn


77

phong, cách diễn đạt của văn bản luật. Ngôn ngữ luật vừa phải chính xác, đảm bảo
tính khoa học, vừa phải trong sáng, rõ ràng, đại chúng, dễ hiểu để thực hiện đối với
mọi người dân; tránh dùng những thuật ngữ quá trìu tượng, từ có nhiều nghĩa trong
luật. Thuật ngữ sử dụng trong văn bản luật quá trìu tượng sẽ dẫn đến không rõ
nghĩa, từ đó dẫn đến việc phải ban hành một văn bản luật khác giải thích cho văn
bản luật đã ban hành. Các quy phạm định nghĩa trong văn bản luật cần chính xác về
nội dung chuyên môn, rõ ràng về ý nghĩa ngôn ngữ học, phù hợp với các quy tắc
ngữ pháp trong tiếng Việt. Việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài cũng như quốc tế
cần chuyển ngữ phù hợp với cách diễn đạt, tư duy, suy nghĩ của người Việt Nam,
tránh tình trạng d c lu t trong các văn bản luật. Có như thế mới tạo điều kiện để
toàn thể mọi tầng lớp nhân dân hiểu luật, sống và làm việc theo pháp luật. Đúng


78

Điều này cần học hỏi quy định của Bộ luật Hồng Đức khi không chỉ quy
định hình phạt đối với người vợ khi có hành vi gian dâm hay thông gian, Bộ luật
Hồng Đức còn có quy định hình phạt đối với cả người chồng khi có những hành vi
đó. Điều 401 Bộ luật Hồng Đức quy định:
n dâ vớ vợ ngườ
ác t ì b ử
t

lưu

yt

c t; vớ vợ lẽ ngườ

ác t ì g ả

t b c. ớ ngườ quyền quý t ì

sẽ ử các
ác; ẻ p
t
ều p ả n p t ền t n ư lu t n ”. Như vậy hành vi
gian dâm của người chồng bị trừng phạt rất nghiêm khắc, có thể dẫn tới tội chết.
Đối với hành vi thông gian, tức là hành vi ngoại tình đi lại với nhau chứ không phải
là bắt được gian dâm nên cách xử lý có nhẹ hơn. Theo Điều 405 Bộ luật Hồng Đức
thì hành vi thông gian với vợ người khác bị xử phạt 60 trượng, biếm hai tư, bắt nộp
tiền tạ nhiều hay ít theo bậc cao thấp của người đàn bà. Sự trừng phạt này vừa có tác

người con được thực hiện trên thực tế.
Nhà nước phải có trách nhiệm xây dựng hệ thống pháp luật hoàn thiện về
bảo vệ quyền lợi của phụ nữ. Nhất là trong thời điểm hiện nay chất lượng các văn
bản quy phạm pháp luật được ban hành vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng
được yêu cầu, đòi hỏi của thực tế. Các quy định bảo vệ quyền lợi của phụ nữ vẫn
còn chung chung, thiếu cơ chế đảm bảo thi hành. Đôi khi chỉ mang tính tuyên ngôn,
hình thức hơn là quy phạm pháp luật. Nhiều quy định chỉ thuần túy mang tính hình
thức, không hề đưa ra quy tắc xử sự mà mọi người đều phải tuân theo, cũng không
hề đưa ra biện pháp xử lý nếu có người vi phạm. Việc thực hiện hay không thực
hiện chủ yếu phụ thuộc vào ý thức của người dân. Bên cạnh đó cũng phải có cơ chế
ràng buộc trách nhiệm của những người thi hành công vụ đối với việc bảo vệ quyền
lợi của nhóm xã hội yếu thế. Bộ luật Hồng Đức đã thực hiện cơ chế này rất tốt.
Quyền lợi của người phụ nữ được gắn liền với trách nhiệm của hệ thống chính
quyền và đội ngũ quan lại. Mỗi điều luật liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của
người phụ nữ, trẻ em đều được gắn kèm theo trách nhiệm của những người thi hành
công vụ. So với pháp luật ngày nay điều này rõ ràng có ý nghĩa kế thừa quan trọng
bởi pháp luật có quá ít những quy định mang tính ràng buộc trách nhiệm của các cơ
quan quản lý nhà nước cũng như những người có trách nhiệm trong việc tổ chức
thực hiện và áp dụng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi của phụ nữ nói riêng
và nhóm xã hội yếu thế nói chung. Việc quy định thật cụ thể và rõ ràng trách nhiệm,
nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước, các cá nhân có thẩm quyền trong mọi lĩnh vực
liên quan đến phụ nữ nhằm mục đích hạn chế sự thờ ơ vô trách nhiệm cũng như sự
lạm quyền, đùn đẩy trách nhiệm của các cơ quan và cá nhân này nhất là trong thời
điểm hiện nay. Khi mà vai trò vị thế của phụ nữ tăng lên, phụ nữ cũng tham gia vào
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như nam giới nhằm tạo điều kiện tốt nhất để phụ
nữ thực hiện quyền của mình. Bảo vệ phụ nữ cần sự chung tay của nhiều chủ thể,
không chỉ riêng nhà nước. Các tổ chức xã hội, đoàn thể sẽ góp phần cùng với nhà
nước thực hiện nhiệm vụ khó khăn này. Muốn vậy, cần “lồng ghép” quy định trách
nhiệm của các tổ chức, đoàn thể cụ thể hơn vào pháp luật và đưa những qui định đó
vào cuộc sống.

những tư tưởng chính trị và văn hóa lúc bấy giờ. Việc xây dựng được Bộ luật Hồng
Đức thể hiện được nhãn quan chiến lược với tầm nhìn xa, sâu rộng, bao quát của Lê
Thánh Tông đối với thời cuộc. Nó thể hiện quyết tâm nỗ lực của Ông đối với việc
chăm lo hoàn thiện nền pháp luật của đất nước – một công cụ sắc bén của công cuộc
trị nước an dân. Bộ luật Hồng Đức được xây dựng trong hơn 13 năm. Bản thân nó
đã được tiếp thu, kế thừa và thể hiện được đầy đủ các tinh hoa pháp lý của nền pháp
luật Việt cổ, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của văn hóa pháp lý Trung Hoa
Nhìn lại cả 5, 6 thế kỷ lịch sử dân tộc phát huy hiệu lực của Bộ luật Hồng
Đức, truyền thống pháp điển hóa hệ thống pháp luật Việt Nam mà nó kế thừa, tiếp
thu các đời trước và tiếp tục phát huy, tự hoàn thiện để trở thành mẫu mực “dùng
làm phép sẵn” cho nhiều thế hệ về sau chứng tỏ Bộ luật Hồng Đức là một giá trị
tinh thần, một thành quả trí tuệ để trở thành tinh hoa tri thức Việt Nam, xứng đáng
được xã hội, con người Việt Nam tôn vinh và tiếp tục phát huy trong công cuộc xây
dựng nhà nước pháp quyền hiện nay. Đặc biệt những giá trị của Bộ luật Hồng Đức
trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình còn có ảnh hưởng và giá trị to lớn trong việc
hoàn thiện hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình hiện nay. Sự điều chỉnh các
quan hệ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật Hồng Đức đã thể hiện tính nhân văn,
nhân đạo của dân tộc, tạo nên giá trị của Bộ luật.
Trong điều kiện phát triển hiện nay, Việt Nam đang có những cố gắng, nỗ
lực nhằm xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ sự nghiệp đổi mới, xây
dựng nhà nước pháp quyền, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, chủ động hội
nhập quốc tế, đặc biệt là hoàn thiện hệ thống pháp luật Hôn nhân và gia đình thì



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status