BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-----------------------------
PHẠM XUÂN NGỌC HOÀNG
ÁP DỤNG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 TRONG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-----------------------------
PHẠM XUÂN NGỌC HOÀNG
ÁP DỤNG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 TRONG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
BLTTDS
BLTTDS
BLHS
Bộ luật Hình sự
HĐLĐ
Hợp đồng lao động
NLĐ
NLĐ
NSDLĐ
NSDLĐ
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
VPQPPL
Văn bản quy phạm pháp luật
MỤC LỤC
Chương 3 THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN
SỰ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN ........................ 56
3.1. Thực tiễn giải quyết tranh chấp lao động cá nhân ................................... 56
3.1.1. Những kết quả đạt được trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
.................................................................................................................... 56
3.1.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại, hạn chế .......... 60
3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong việc áp dụng quy định của BLDS
trong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.......................................... 62
3.2.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật trong việc áp dụng quy định
của BLDS trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân .......................... 62
3.2.2. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng
quy định của BLDS trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân ........... 69
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
BLDS năm 2015 đã thực sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật
điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự
nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; ghi nhận và
bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp
phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn
định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xã hội. BLDS là một đạo
luật có ý nghĩa to lớn không chỉ về mặt bảo đảm quyền con người, quyền
công dân, phát triển kinh tế - xã hội mà còn cả về mặt xây dựng pháp luật; thể
để giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân trong thực tế hiện nay
còn gặp một số vướng mắc mà nguyên nhân chính xuất phát từ những thiếu
sót, mâu thuẫn của các quy định pháp luật. Do vậy việc nghiên cứu cả về mặt
lý luận cũng như thực tiễn về tranh chấp lao động nói chung và tranh chấp lao
động cá nhân nói riêng nhằm khắc phục những điểm yếu, những điểm không
phù hợp với tình hình thực tế đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các
bên tham gia quan hệ lao động. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn
và nghiên cứu đề tài: “Áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự trong giải
quyết tranh chấp lao động cá nhân” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Một số công trình nghiên cứu đã thực hiện liên quan đến vấn đề giải
quyết tranh chấp lao động cá nhân như:
- Đề tài cơ bản cấp Đại học Quốc gia về “Tranh chấp lao động và giải
quyết tranh chấp lao động ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
năm 2005 của tác giả Lê Thị Hoài Thu.
3
- Dương Anh Sơn và Lê Thị Bích Thọ, “Một số ý kiến về phạt vi phạm
do vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Khoa
học pháp lý, số 1/2005, tr. 26-31: Phạt vi phạm là biện pháp bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ hợp đồng khi chưa có hành vi vi phạm nghĩa vụ. Và khi có vi
phạm thì nó được coi là hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Pháp
luật Việt Nam giới hạn tối đa mức phạt vi phạm: 8% giá trị nghĩa vụ bị vi
phạm trong Luật Thương mại và 5% trong Bộ luật Dân sự. Để các quy phạm
pháp luật phát huy hiệu quả thì giới hạn trên không nên tồn tại. Hơn nữa,
pháp luật không thể cấm sử dụng chế tài phạt vi phạm khi chế tài buộc thực
hiện đúng nghĩa vụ được sử dụng.
tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án.
- Luận văn thạc sỹ “Giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân
dân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Vũ Thị Thu Hiền năm 2012.
- Luận văn thạc sỹ “Pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá
nhân - Một số bất cập và hướng hoàn thiện” của tác giả Ngô Thị Tâm năm
2012 tại trường Đại học Luật Hà Nội.
Các bài viết được nhìn nhận dưới các góc độ khác nhau vì vậy khi lựa
chọn đề tài này để nghiên cứu tác giả mong muốn sẽ có cái nhìn hoàn thiện,
đầy đủ hơn về cơ chế giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, qua đó nhằm
hoàn thiện các quy định của pháp luật về nội dung này
Các nghiên cứu nêu trên đã đi sâu phân tích các yếu tố về giải quyết
tranh chấp lao động cá nhân, bảo vệ quyền sở hữu của con người; cũng như
đã đưa ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp lao
động cá nhân. Tuy nhiên, BLDS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung các quy định
còn bất cập, hạn chế trong thực tiễn thi hành, nhất là đã tạo cơ sở pháp lý hữu
hiệu để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của các cá
nhân, pháp nhân, đặc biệt là trong bảo vệ quyền, lợi ích của bên yếu thế, bên
thiện chí trong quan hệ dân sự; hạn chế đến mức tối đa sự can thiệp của cơ
5
quan công quyền vào việc xác lập, thay đổi chấm dứt các quan hệ dân sự;
điều đó đã thay đổi quan niệm, biện pháp trong giải quyết tranh chấp lao động
cá nhân. Vì thế, trong luận văn này, tác giả tiếp tục kế thừa có chọn lọc những
nghiên cứu trước đó và tập trung vào vấn đề cơ bản quy định của BLDS trong
giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.
3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về
tranh chấp lao động cá nhân và giải quyết tranh chấp lao động cá nhân. Đồng
nghiên cứu cụ thể: phương pháp biện chứng khoa học; phân tích, đánh giá;
tổng hợp, so sánh, đối chiếu; khảo sát thực tiễn; thống kê; hệ thống và một số
phương pháp bổ trợ khác… Đồng thời, thực hiện việc kết hợp giữa các nhóm
phương pháp để nghiên cứu, giải quyết những yêu cầu mà đề tài đặt ra.
5. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tiếp tục làm rõ một số vấn đề lý
luận về tranh chấp lao động cá nhân và giải quyết tranh chấp lao động cá
nhân. Đánh giá các quy định của BLDS về giải quyết tranh chấp lao động cá
nhân qua đó thấy được những điểm đã đạt được và những điểm còn tồn tại,
hạn chế để có thể kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật đối với giải
quyết tranh chấp lao động cá nhân.
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung nghiên cứu các quy
định của BLDS, BLLĐ về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, đặt trong
mối quan hệ với các quy định pháp luật trước đó. Ngoài ra, luận văn cũng đề
cập tới những quy định khác có liên quan trong giải quyết tranh chấp lao động
cá nhân để có thể áp dụng những quy định phù hợp với thực tiễn, góp phần
hoàn thiện pháp luật áp dụng quy định của BLDS trong việc giải quyết tranh
chấp lao động cá nhân.
7
6. Cơ cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Lý luận chung về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.
Chương 2: Nội dung của việc áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự
trong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong
việc áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự giải quyết tranh chấp lao động cá
9
không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan
quy định khác”.
Quy định này đã nêu lên khái niệm về quyền nhân thân thông qua hai
đặc điểm cơ bản là: gắn liền với cá nhân, không chuyển dịch.
BLDS 2015 đã cụ thể hóa các dấu hiệu về nhân thân trong xác định tư
cách chủ thể của cá nhân và đã nêu rõ những quyền nhân thân gắn liền với lợi
ích tinh thần của cá nhân (từ Điều 25 đến Điều 39). Các quyền nhân thân này
có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, mỗi tiêu chí thể hiện một
khía cạnh pháp lý đặc thù.
1.1.2. Tranh chấp lao động cá nhân
Tranh chấp lao động là sản phẩm tất yếu của quan hệ lao động được
hình thành trong quá trình sử dụng sức lao động giữa một bên là NLĐ với
một bên là NSDLĐ. Tranh chấp lao động cá nhân là hệ quả có thể dự báo
trước trong quá trình sử dụng sức lao động của NLĐ với NSDLĐ. Bởi lẽ, các
bên tham gia quan hệ lao động có những mục đích về kinh tế đối lập nhau.
Cụ thể: NLĐ có nhu cầu, mong muốn bán được sức lao động với giá cao, có
môi trường làm việc tốt để chuyển giao sức lao động cho NSDLĐ một cách
thuận lợi; NSDLĐ lại mong muốn trả giá thấp khi sử dụng sức lao động của
NLĐ vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận. Như vậy, giữa
NLĐ và NSDLĐ hình thành nên quan hệ lao động mà mỗi bên đều có quyền
và nghĩa vụ đối với nhau.
Trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động, quan hệ giữa
NLĐ với NSDLĐ không phải lúc nào cũng diễn biến một cách ổn định bình
thường theo đúng những thỏa thuận. Giữa họ có thể sẽ xuất hiện những bất
đồng về quyền và lợi ích trong lao động. Có những bất đồng được các bên
thỏa thuận và giải quyết được song cũng có thể có những bất đồng mà sự
trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
+ Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động.
+ Giữa người giúp việc gia đình với NSDLĐ.
12
+ Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội,
về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm
thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp theo quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
+ Về bồi thường thiệt hại giữa NLĐ với doanh nghiệp, đơn vị sự
nghiệp công lập đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
- Bổ sung các tranh chấp sau: Tranh chấp liên quan đến lao động gồm:
+ Tranh chấp về học nghề, tập nghề.
+ Tranh chấp về cho thuê lại lao động.
+ Tranh chấp về quyền công đoàn, kinh phí công đoàn.
+ Tranh chấp về an toàn lao động, vệ sinh lao động.
Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do đình công bất hợp pháp.
- Thêm điều khoản loại trừ đối với “các tranh chấp khác về lao động”:
Các tranh chấp khác về lao động, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải
quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định pháp luật.
1.3. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Khi tranh chấp phát sinh, các bên tự thương lượng hoặc thương lượng
với sự hỗ trợ của bên thứ ba. Mặc dù đây không phải là một thủ tục bắt buộc
song thương lượng được coi là nguyên tắc chung xuyên suốt quá trình giải
quyết tranh chấp lao động. Các bên luôn có quyền thương lượng, thỏa thuận
để giải quyết tranh chấp lao động của mình. Nếu thương lượng thành, các bên
phải tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện kết quả thương lượng. Trong trường
hợp các bên không tiến hành thương lượng hoặc tiến hành thương lượng
- Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một
bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt
không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải
không thành.
14
- Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao
động.
- Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được
gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập
biên bản.
* Bước 2
Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không
thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải
quyết mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh
chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.
Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án được
thực hiện theo trình tự, thủ tục chung được quy định trong BLTTDS năm
2015. Theo đó, vụ án lao động được giải quyết theo hai cấp xét xử tại Tòa án
cấp sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm.
1.3.1. Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo thủ tục sơ thẩm
Trong giai đoạn sơ thẩm, các hoạt động tố tụng tại Tòa án bao gồm:
- Khởi kiện, thụ lý vụ án lao động: các chủ thể tham gia mối quan hệ
pháp luật lao động về mặt pháp lý là hoàn toàn bình đẳng với nhau trong mối
quan hệ. Khi quyền lợi của họ bị xâm phạm họ có quyền yêu cầu Tòa án giải
quyết, tức là khởi kiện vụ án lao động. Khởi kiện vụ án tranh chấp lao động là
cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ tố tụng lao động tại Tòa án.
Chủ thể có quyền khởi kiện vụ án dân sự nói chung được quy định tại
dung quan trọng làm cơ sở cho các đương sự xác định những nghĩa vụ của
mình khi đưa ra yêu cầu, thực hiện tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ
việc dân sự, nhất là đối với vụ việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân thì,
BLTTDS năm 2015 đã quy định: Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài
liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ
16
các trường hợp sau đây thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người bị yêu cầu:
- Đương sự là NLĐ trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp
được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do
NSDLĐ quản lý, lưu giữ thì NSDLĐ có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài
liệu, chứng cứ đó cho Tòa án.
- NLĐ khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc
trường hợp NSDLĐ không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với
NLĐ theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc
về NSDLĐ;
- Thời hiệu khởi kiện: nhằm tránh một chế định do 2 bộ luật cùng quy
định, về thời hiệu khởi kiện đã được quy định trong BLDS 2015 cho nên
BLTTDS năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết
vụ việc dân sự được thực hiện theo quy định của BLDS. Để bảo đảm quy định
về thời hiệu trong BLDS phù hợp với bản chất của thời hiệu trong quan hệ
dân sự, bên cạnh kế thừa 04 loại thời hiệu được quy định trong BLDS 2005
(thời hiệu hưởng quyền dân sự, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự, thời hiệu
khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự), Bộ luật quy định Tòa án
không được tự mình áp dụng thời hiệu nếu không có yêu cầu của một bên
hoặc các bên trong quan hệ dân sự; trường hợp một và các bên trong quan hệ
không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định
của tại Điều 23 Luật cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm
mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì
Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải
quyết theo thủ tục chung”.
- Chuẩn bị xét xử và hòa giải: sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành
chuẩn bị xét xử và hòa giải đối với các bên. Chuẩn bị xét xử là những hoạt
18
động được thực hiện nhằm phục vụ cho việc xét xử vụ án. Thời hạn chuẩn bị
xét xử đối với tranh chấp lao động cá nhân là 2 tháng kể từ ngày thụ lý, đối
với những vụ án phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án
nhân dân có quyền gia hạn thêm thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá
01 tháng (Điều 203 BLTTDS năm 2015). Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
Tòa án thực hiện những công việc sau: thông báo về việc thụ lý vụ án và
những yêu cầu đối với đương sự; Thẩm phán tiến hành xác minh, thu thập hồ
sơ vụ án; tiến hành hòa giải. Hòa giải là một bước rất quan trọng trong giai
đoạn chuẩn bị xét xử. Hòa giải trước khi mở phiên tòa một mặt đảm bảo cho
các bên thực hiện được quyền tự do định đoạt của họ, mặt khác có thể chấm
dứt quá trình tố tụng ngay sau khi tiến hành hòa giải. Điều đó vừa giảm bớt
gánh nặng cho tòa, vừa có thể tạo ra hòa khí để các bên tiếp tục hợp tác với
nhau, vừa có thể giảm bớt những chi phí về thời gian và tiền bạc cho quá trình
tố tụng và cho chính các bên tranh chấp.
Sự khác biệt của hòa giải tại Tòa án so với hòa giải thông qua Hòa giải
viên lao động là ở địa vị pháp lý của chủ thể tiến hành hòa giải và hậu quả
pháp lý của việc hòa giải thành. Để giúp các bên thương lượng được với
nhau, Hòa giải viên lao động có thể làm tất cả những việc cần thiết như
tranh chấp lao động cá nhân.
Tố tụng tại phiên Tòa sơ thẩm: trường hợp hòa giải không thành, Tòa
án sẽ mở phiên tòa sơ thẩm để xét xử giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.
Phiên tòa lao động sơ thẩm là giai đoạn độc lập trong quá trình giải quyết
tranh chấp lao động cá nhân và là trọng tâm của thủ tục giải quyết tranh chấp
lao động cá nhân tại Tòa án. Hoạt động tố tụng tại phiên tòa có ý nghĩa quyết
định đối với các phán quyết của Tòa án. Trình tự tiến hành phiên tòa sơ thẩm
gồm 3 bước: thủ tục bắt đầu phiên tòa; tranh tụng tại phiên tòa; nghị án và
tuyên án (Điều 222 - 269 BLTTDS năm 2015):
- Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm: là thủ tục quan trọng, là hoạt động