Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo thủ tục xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay (tt) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HƢƠNG

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN
THEO THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật kinh
Mã số : 60 38 01 07

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2017
1


Công trình đƣợc hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Hữu Chí

Phản biện1: Trần Thị Th L m
Phản biện 2: L Thị Ho i Thu

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Họp tại: Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam 10 giờ 00 phút ngày
24 tháng 10 năm 2017


Quá trình sửa đổi, bổ sung pháp luật còn nhiều vấn đề cần phải hoàn

1


thiện hơn nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết TCLĐ cá nhân c a
TAND.
Vì vậy, với việc lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giải quyết tranh
chấp lao động cá nhân theo th tục xét xử sơ thẩm c a T a án nhân dân
ở iệt Nam hiện nay” là đề tài tác giả cho rằng cần được nghiên cứu và
hy vọng luận văn sẽ góp phần xây dựng nhằm hoàn thiện pháp luật về
giải quyết TCLĐ nói chung và giải quyết TCLĐ cá nhân nói riêng để
phù hợp với sự phát triển c a nền kinh tế thị trường hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lĩnh vực giải quyết TCLĐ nói chung và giải quyết TCLĐ
cá nhân nói riêng, đặc biệt là th tục giải quyết TCLĐ cá nhân c a Tòa
án đã được các nhà khoa học, các chuyên gia nước ngoài quan tâm và
nghiên cứu như các nghiên cứu c a Tiến sĩ Eladio Daya về “Th tục hòa
giải và trọng tài các tranh chấp lao động”, các nghiên cứu c a Tiến sĩ
Chang Hee Lee về “Quan hệ lao động và giải quyết tranh chấp lao động
tại Việt Nam”.
Ở nước ta, cũng có nhiều nghiên cứu về giải quyết TCLĐ cá nhân
kể từ khi Bộ luật lao động được ban hành như: Phạm Công Bảy (2006),
Th tục giải quyết các vụ án lao động theo BLTTDS, Nxb Chính trị
quốc gia; Luận văn tiến sỹ Luật học c a tác giả Phạm Công Bảy “Pháp
luật về th tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân c a Tòa án Việt
Nam” ; Luận văn Thạc sỹ Luật học c a tác giả Nguyễn Thị Thanh Loan
“giải quyết tranh chấp lao động cá nhân qua thực tiễn xét xử c a TAND
thành phố Hà Nội”...các bài viết: Bình luận các quy định về giải quyết
TCLĐ c a T ND trong BLTTD năm 2015 c a Nguyễn Hữu Chí, tạp

thẩm c a T ND ở iệt Nam hiện nay.
3


- Đưa ra các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm
nâng cao hiệu quả giải quyết TCLĐ cá nhân c a Tòa án.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về TCLĐ cá nhân và giải quyết TCLĐ cá
nhân theo th tục xét xử sơ thẩm c a T ND ở Việt Nam. Ngoài ra,
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy phạm pháp luật về giải quyết
TCLĐ cá nhân theo BLTTD 2015 và thực trạng áp dụng pháp luật
hiện hành về giải quyết TCLĐ cá nhân theo th tục

t ử sơ thẩm

c a T ND ở iệt Nam trong giai đoạn 2012-2016. Đồng thời, đưa ra
những giải pháp để hoàn thiện pháp luật về giải quyết TCLĐ cá nhân
và nâng cao hiệu quả giải quyết TCLĐ cá nhân c a Tòa án.
5. Phƣơng pháp luận v phƣơng pháp nghi n cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên hệ thống các quan điểm
c a ch nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm,
đường lối c a Đảng và Nhà nước ta về xây dựng hoàn thiện pháp luật
nói chung, pháp luật về lao động và giải quyết TCLĐ nói riêng. Luận
văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác nhau như phương
pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp kế thừa (tiếp thu có chọn
lọc những kết quả nghiên cứu về pháp luật lao động c a các tác giả
trước), phương pháp thống kê, so sánh để làm sáng tỏ những vấn đề
cần nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, luận văn góp phần nghiên cứu làm rõ hơn


t ử sơ


Chƣơng 1
H I QU T CHUNG VỀ TRANH CHẤP LAO ĐỘNG
C NH N V GIẢI QU ẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG
C NH N THEO THỦ TỤC

T Ử SƠ THẨ

CỦA TÒA N NH N D N
1.1 Khái quát chung về tranh chấp lao động cá nhân
1.1.1 Khái niệm tranh chấp lao động cá nhân
Tranh chấp lao động là sản phẩm c a quan hệ lao động, phát
sinh trong hoạt động lao động, sản xuất và gắn liền với quá trình hình
thành, phát triển c a quan hệ lao động.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cũng không đưa ra một định nghĩa
chính thức về TCLĐ nói chung hay TCLĐ cá nhân nói riêng mà chỉ đưa
ra các khuyến nghị về việc hạn chế TCLĐ, hướng tới ây dựng quan hệ
lao động hài h a, ổn định. Như vậy, Ilo cũng hướng tới quan điểm việc
nhận dạng TCLĐ ở mỗi quốc gia do pháp luật c a mỗi quốc gia quy định
dựa trên nền tảng chính trị pháp lý và thực tiễn.
Như vậy, TCLĐ không chỉ là tranh chấp về sự lao động, về sự
làm việc, tức là ung đột về hành vi liên quan đến hoạt động, chức
năng c a NLĐ. TCLĐ c n là loại tranh chấp về các vấn đề liên quan
đến quá trình lao động, tức là quá trình ác lập, duy trì, chấm dứt mối
quan hệ lao động giữa các bên. TCLĐ c n bao gồm các ung đột liên
quan đến việc làm, học nghề, quan hệ đại diện lao động,...tức là
những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích c a NLĐ và N DLĐ.

gia với tư cách là một bên tranh chấp, trực tiếp yêu cầu N DLĐ giải
quyết quyền lợi cho tập thể lao động như trong TCLĐ tập thể.

7


1.2. Giải quyết tranh chấp lao động cá nh n theo thủ tục
t

sơ thẩm của T a án nh n d n
1.2.1. Khái niệm về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Giải quyết TCLĐ cá nhân là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức có

thẩm quyền tiến hành các công việc được quy định theo trình tự, th
tục luật định để ác định quyền và lợi ích hợp pháp c a cá nhân
NLĐ, N DLĐ đang có tranh chấp trong quan hệ lao động dựa trên
đơn yêu cầu c a họ. Hiện nay, trong pháp luật lao động chưa có một
khái niệm chính thức nào về giải quyết TCLĐ nói chung hay giải
quyết TCLĐ cá nhân tại T ND nói riêng nhưng từ những phân tích
trên có thể hiểu: “Giải quyết TCLĐ cá nhân c a TAND là việc Tòa
án tiến hành các hoạt động theo trình tự, th tục theo luật định nhằm
giải quyết TCLĐ giữa cá nhân NLĐ và NSDLĐ”.
Do đó, có thể hiểu rằng giải quyết TCLĐ cá nhân theo th
tục

t ử sơ thẩm c a T ND là việc T a án tiến hành các hoạt động

tố tụng bao gồm: thụ lý vụ án, chuẩn bị

t ử và mở phiên t a

* Khởi kiện vụ án lao động: Là việc các ch thể có quyền
khởi kiện làm đơn yêu cầu T a án giải quyết các TCLĐ bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng c a NLĐ, N DLĐ. Quyền khởi kiện vụ án lao
động được quy định tại Điều 186 BLTTD năm 2015 như sau: “Cơ
quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại
diện hợp pháp khởi kiện vụ án c a Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp c a mình”.
Đơn khởi kiện phải được lập thành văn bản với hình thức, nội
dung theo quy định tại Điều 189 BLTTD năm 2015. Theo quy định
tại Khoản 5, Điều 189 BLTTD năm 2015, người khởi kiện phải gửi
kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những
yêu cầu c a mình là có căn cứ và hợp pháp, chứng cứ chứng minh
quyền, lợi ích hợp pháp c a người khởi kiện bị âm phạm. Trường
9


hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đ tài
liệu, chứng cử kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng
cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp c a người khởi
kiện bị âm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung
tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu c a T a án trong quá trình giải
quyết vụ án.
* Thụ lý vụ án lao động: Sau khi nhận đơn khởi kiện, tài liệu,
chứng cứ kèm theo và nộp tiền tạm ứng án phí thì Tòa án thụ lý vụ
án. Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi
kiện, Chánh án Tòa án phân công một thẩm phán em

t đơn khởi

kiện và giải quyết vụ án (Khoản 2, Điều 191). Đối với vụ án phức

thẩm là hoạt động quan trọng trong quá trình chuẩn bị

t ử. H a

giải là th tục tố tụng bắt buộc trước khi mở phiên t a

t ử sơ

thẩm, trừ trường hợp vụ án lao động không được h a giải hoặc không
thể h a giải được (Điều 206 và 207 c a BLTTD năm 2015).
Hoà giải được tiến hành theo nguyên tắc sau: Tôn trọng sự tự
nguyện thoả thuận c a các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc
đe doạ dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thoả thuận không
phù hợp với ý chí c a mình. Nội dung thoả thuận giữa các đương sự
không được trái pháp luật hoặc trái đạo đức ã hội.
* Thời hạn chuẩn bị xét xử
Chuẩn bị
vụ cho việc

t ử là các hoạt động được thực hiện nhằm phục

t ử vụ án. Căn cứ theo quy định tại điểm b, khoản 1

Điều 203 BLTTD năm 2015 thì thời hạn chuẩn bị
động (trừ các vụ án được

t ử vụ án lao

t ử theo th tục rút gọn hoặc vụ án có


đến Điều 263 BLTTD năm 2015)

12


Bƣớc 3: Nghị án và tuyên án (quy định từ Điều 264 đến Điều
269 BLTTD năm 2015). Th tục nghị án và tuyên án được xem là
bước cuối cùng c a phiên t a lao động sơ thẩm.
*/ Án phí
Theo quy định tại Điều 27 Pháp lệnh Án phí, Lệ phí t a án thì:
“2. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp
toàn bộ yêu cầu c a nguyên đơn được Toà án chấp nhận.”…
“4. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu
cầu c a nguyên đơn đối với bị đơn được Toà án chấp nhận”.
Thời hạn nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm: Nguyên đơn, bị đơn
có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có yêu cầu độc lập phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ
thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo c a
Toà án về việc nộp tiền tạm ứng án phí.
*/ Thủ tục rút gọn đối với vụ án TCLĐ cá nh n
Đây là th tục có ưu điểm nhanh chóng, đơn giản, ít tốn kém.
Tại Điều 65 BLTTD năm 2015 c a iệt Nam quy định “ iệc
xét ử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án dân sự theo th tục rút gọn do một
Thẩm phán tiến hành”. Đồng thời, Điều 317 BLTTD năm 2015 quy
định, điều kiện áp dụng th tục rút gọn.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các vụ án tranh chấp lao động ở
iệt Nam những năm gần đây ngày càng có tính chất phức tạp, các
tranh chấp có giá trị lớn. Ngoài ra, các qui định pháp luật chưa có
hướng dẫn cụ thể. ì vậy, việc áp dụng th tục rút gọn đối với các vụ


Thứ năm, nguyên tắc cung cấp chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh.
Thứ sáu, nguyên tắc Toà án xét xử tập thể.
Thứ bảy, nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân
dân tham gia
14


Thứ tám, nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân
chỉ tuân theo pháp luật.
Thứ chín, nguyên tắc xét xử mọi công dân đều bình đẳng trước
pháp luật
Thứ mười, nguyên tắc mọi công dân đều có quyền đùng tiếng
nói, chữ viết c a dân tộc mình trước Toà án
Thứ mười một, nguyên tắc đảm bảo quyền tranh luận trong tố
tụng dân sự.
2.1.2. Thẩm qu ền của T a án nh n d n trong việc giải
qu ết tranh chấp lao động cá nh n theo thủ tục

t

sơ thẩm

Thẩm quyền c a TAND trong vụ việc giải quyết TCLĐ cá
nhân có thể được tiếp cận dưới những góc độ sau đây:
a. Thẩm quyền giải quyết TCLĐ cá nh n của Tòa án các cấp
Theo quy định tại điều 35 BLTTD năm 2015, T ND cấp
huyện có thẩm quyền giải quyết theo th tục sơ thẩm những TCLĐ
cá nhân theo quy định tại khoản 1 điều 32 BLTTDS, trừ những vụ
việc pháp luật quy định thuộc thẩm quyền c a TAND cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương.

TCLĐ cá nhân theo th tục xét xử sơ thẩm c a TAND hầu hết không
có vụ án nào vi phạm nghiêm trọng về thẩm quyền giải quyết vụ án
hoặc sau khi phát hiện có sai sót về việc thụ lý sai thẩm quyền thì đã
được Tòa án khắc phục kịp thời trước khi đưa vụ án ra xét xử. Điều
này có thể thấy rằng, các quy định c a pháp luật về thẩm quyền c a
16


TAND trong việc giải quyết TCLĐ cá nhân đã được Tòa án cấp sơ
thẩm áp dụng đúng quy định và có hiệu quả.
Thứ hai, về thời hiệu giải quyết vụ án TCLĐ cá nhân theo th
tục xét xử sơ thẩm c a TAND.
Thực tiễn trong quá trình giải quyết các vụ án TCLĐ cá nhân
theo th tục sơ thẩm vẫn có Tòa án còn nhầm lẫn trong việc ác định
thời hiệu.
Ví dụ qua vụ án (được lấy từ nguồnTòa án nhân dân tối cao):
Nguyên đơn: Ông Nguyễn ăn Đảng, sinh năm 1955; địa chỉ:
Tổ 2, khu phố Phú H a, phường Phú Thịnh, thị xã Bình Long, tỉnh
Bình Phước.
Bị đơn: Ông Nguyễn ăn Khang, sinh năm 1959; địa chỉ: Tổ
6, ấp ăn Hiên 2, ã Phước An, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
Trong vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm đã mắc hai sai sót lớn
trong việc giải quyết vụ án. Thứ nhất là Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ
theo đơn khởi kiện lần 2 c a ông Đảng từ đó dẫn đến sai xót trong
việc ác định thời hiệu khởi kiện và ra quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án làm ảnh hưởng đến quyền lợi c a đương sự. Thứ hai là vi phạm
nghiêm trọng th tục tố tụng khi giao cho một Thẩm phán tham gia
02 lần xét xử cùng một vụ án mặc dù ông Đảng đã hai lần khởi kiện
vụ án và ác định hai bị đơn khác nhau nhưng về bản chất thì đây chỉ
01 vụ án tranh chấp về tiền lương.

việc trợ cấp thôi việc cho bà là không đúng, làm ảnh hưởng đến
quyền lợi c a bà Dịu. Vì vậy, TAND tối cao đã ra quyết định h y bản
án lao động sơ thẩm nêu trên và bản án phúc thẩm c a TAND tỉnh
Nghệ An và chuyển hồ sơ về xét xử sơ thẩm lại là đúng quy định c a
pháp luật.
- Đánh giá chứng cứ chƣa khách quan, toàn diện:
Pháp luật lao động chỉ quy định những chuẩn mực chung, mang
tính định khung cho các đơn vị N DLĐ và NLĐ thực hiện, việc vận
dụng các quy định c a pháp luật lao động để giải quyết TCLĐ cá nhân
18


cần linh hoạt, đánh giá khách quan, toàn diện các tình tiết có trong vụ án
để bảo đảm được quyền và lợi ích hơp pháp cho các bên.
-

p dụng pháp luật không c n hiệu lực: Cùng với sự phát

triển c a ã hội thì các qui định c a pháp luật luôn được đổi mới để
phù hợp hơn. Do đó, việc không nắm được các qui định pháp luật
hiện hành đã làm ảnh hưởng đến hiệu quả c a việc giải quyết TCLĐ
cá nhân.
- ác định sai quan hệ pháp luật: Vấn đề này tuy là một khó
khăn không nhỏ đối với Tòa án và các Thẩm phán trong giải quyết
các vụ án TCLĐ nhưng để áp dụng đúng pháp luật, Thẩm phán cần
phải nghiên cứu, ác định đúng nội dung tranh chấp, nắm vững các
nguyên tắc áp dụng pháp luật được quy định tại luật ban hành văn
bản quy phạm pháp luật.
-


sơ thẩm giải quyết 7428 vụ việc [21].
Như vậy, qua bảng số liệu về thụ lý và giải quyết trên cho thấy
số lượng án TCLĐ ngày càng có chiều hướng tăng nhiều theo các
năm và ch yếu là TCLĐ cá nhân. ử sơ thẩm vẫn chưa được cao và
chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
* Những tồn tại và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả đạt được trong quá trình giải quyết
TCLĐ cá nhân theo th tục

t ử sơ thẩm c a T ND thì vẫn còn

tồn tại những hạn chế nhất định.
- Mô hình tổ chức, chức năng c a Tòa án còn nhiều bất cập
ảnh hưởng đến hoạt động giải quyết án lao động: Về thẩm quyền giải
quyết án lao động ở Tòa án còn chồng chéo, lộn xộn.
- Một số nơi, T a án chưa coi trọng đúng mức việc nghiên cứu
pháp luật về lao động cũng như việc áp dụng các quy định c a Bộ
luật Tố tụng dân sự trong giải quyết vụ án lao động.
20


- Chất lượng c a nhiều phán quyết còn thấp. Vẫn tồn tại hiện
tượng nhầm lẫn về loại quan hệ dân sự, lao động hoặc áp dụng không
đúng quy định c a pháp luật vào các quyết định.
- Quá trình giải quyết các TCLĐ c a Tòa án còn bị bó buộc
bởi các th tục ngoài tố tụng.
- Vẫn còn một số T a án chưa ch động nghiên cứu đề xuất và
triển khai các giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, Thẩm phán trong việc giải quyết các vụ án về lao động.
Từ những bất cập trên có thể sẽ dẫn tới những sai sót trong


giải qu ết tranh chấp lao động cá nh n theo thủ tục

t



thẩm của T a án nh n d n.
3.3.1.

ột số giải pháp

*/ Hoàn thiện pháp luật về giải quyết TCLĐ cá nhân .
Hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung các quy định c a pháp luật hiện
hành.
Pháp luật cần có những quy định cụ thể, rõ ràng về phạm vi và
yêu cầu khởi kiện.
Tòa án có thể tiến hành hòa giải ở tất cả các giai đoạn xét xử
vụ án lao động.
Pháp luật cần quy định cụ thể hơn về sự tham gia c a Hội thẩm
nhân dân là người đã và đang công tác trong tổ chức đại diện tập thể
NLĐ hoặc người có kiến thức về pháp luật lao động trong Hội đồng xét
xử vụ án lao động.
Pháp luật cần sửa đổi các quy định để có thể áp dụng th tục giải
quyết rút gọn vụ án lao động theo quy định c a BLTTDS có hiệu quả.
*/ Sửa đổi, hướng dẫn một số quy định trong BLLĐ năm
2012
+ Về hợp đồng hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm
việc (khoản 2 Điều 22):
+ Về thẩm quyền ký kết hợp đồng lao động



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status