BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------
BÙI THỊ THANH MAI
KHỞI KIỆN, THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƢỚC
NGOÀI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÁC TÒA ÁN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------
BÙI THỊ THANH MAI
KHỞI KIỆN, THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƢỚC
NGOÀI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÁC TÒA ÁN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
BLDS
: Bộ luật dân sự
VADS
: Vụ án dân sự
TAND
: Tòa án nhân dân
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài: .................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ........................................................................ 2
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn ...................... 3
4. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn ...................... 4
5. Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn .................... 4
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn ............................................... 4
7. Bố cục (các chương) của luận văn .............................................................. 5
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ L LUẬN VỀ HỞI IỆN THỤ L VỤ
ÁN D N SỰ C
ẾU TỐ NƢỚC NGOÀI .................................................. 6
1.1.Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự có yếu
tố nước ngoài ..................................................................................................... 6
1.1.1.Khái niệm khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài ............. 6
1.1.1.1. Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài ..................... 6
2.2.5. Trả lại đơn khởi kiện: ............................................................................ 45
2.2.6. Dự tính tiền tạm ứng án phí và thông báo cho người khởi kiện ........... 50
2.2.7. Vào sổ thụ lý vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài ................................. 50
Chƣơng 3.THỰC TIỄN THỰC HIỆN VIỆC HỞI IỆN THỤ L VỤ
ÁN D N SỰ C
ẾU TỐ NƢỚC NGOÀI TẠI CÁC TÒA ÁN TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH VÀ KIẾN NGHỊ.................................... 53
3.1. Thực tiễn thực hiện việc khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự có yếu tố nước
ngoài tại các Tòa án trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh......................................... 53
3.1.1. Một số kết quả đạt trong thực tiễn khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự có yếu
tố nước ngoài tại tỉnh Quảng Ninh .................................................................. 53
3.1.2. Một số khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các quy định về khởi
kiện, thụ lý vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài tại tỉnh Quảng Ninh ............. 62
3.2. Một số kiến nghị về khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài
từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh ..................................................................... 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Trong xu thế hội nhập và giao lưu dân sự quốc tế, việc các cá nhân, tổ
chức Việt Nam có quan hệ dân sự với các cá nhân, tổ chức của nước ngoài
đang dần là những quan hệ ngày càng phổ biến và phát triển đa dạng. Cùng
với giao lưu dân sự quốc tế cũng đồng thời xuất hiện các tranh chấp giữa các
cá nhân, pháp nhân là người nước ngoài với số lượng ngày càng gia tăng, với
tính chất và mức độ ngày càng phức tạp. Trong quá trình giải quyết tranh
chấp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mỗi bên trong các quan
định mới cần được tìm hiểu thấu đáo cũng như hướng dẫn để triển khai áp
dụng trên thực tế. Việc nghiên cứu chuyên sâu lý luận về khởi kiện và thụ lý
vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài giúp cho cán bộ tư pháp có nhận thức sâu
sắc hơn về các quy định hiện hành, những quy định mới cần được triển khai
thực hiện cũng như những khiếm khuyết, hạn chế của pháp luật vẫn còn tồn
tại. Ngoài ra, việc nghiên cứu thực tiễn tố tụng tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh về
khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài sẽ giúp học viên có một
góc nhìn sâu sắc hơn về thực trạng thực hiện việc khởi kiện và thụ lý vụ án
dân sự có yếu tố nước ngoài, từ đó đề xuất giải pháp có giá trị tham khảo cho
việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về khởi kiện
và thụ lý vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài tại các Toà án trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh nói riêng và ngành Tòa án nói chung.
Những nội dung và trình bày trên đây là cơ sở khoa học và thực tiễn để
tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự có yếu tố nước
ngoài và thực tiễn thực hiện tại các Tòa án trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học pháp lý từ trước đến nay, ở nước ta chế định khởi kiện
và thụ lý vụ án dân sự không phải là vấn đề mới, đã có nhiều công trình
nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về chế định này như đề tài nghiên cứu
cấp trường về: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện một số chế
định cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của trường Đại học luật
Hà Nội năm 2002, cũng như có những đề tài khóa luận tốt nghiệp như đề tài:
“Thụ lý vụ án dân sự trong tố tụng dân sự” của sinh viên Trần Thị Bích Thủy
trường Đại học luật Hà Nội năm 2011; Luận văn thạc sĩ Luật học: “Khởi kiện
vụ án dân sự” của học viên Trần Thị Lượt trường Đại học luật Hà Nội năm
2014; Luận văn thạc sĩ Luật học: “Khởi kiện vụ án dân sự và thực tiễn thực
hiện tại tỉnh Điện Biên” của học viên Bùi Thị Quế Anh trường Đại học luật
3
vụ án dân sự và hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, không đề cập đến
thương mại và lao động.
4
4. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện các quy định pháp
luật Việt Nam về khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài tại các
Tòa án trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Góp phần vào việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về khởi kiên, thụ lý vụ
án dân sự có yếu tố nước ngoài
Để đạt mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu
chính sau:
- Trình bày một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về khởi kiện, thụ
lý vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài, chỉ ra điểm khác biệt giữa tòa án cấp
huyện với tòa án cấp tỉnh về việc khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự có yếu tố
nước ngoài;
- Chỉ ra những bất cập, vướng mắc, hạn chế trong việc áp dụng quy định
pháp luật Việt Nam hiện hành về khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự có yếu tố
nước ngoài tại Tòa án;
- Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng về khởi kiện, thụ lý vụ
án dân sự có yếu tố nước ngoài.
5. Các phƣơng pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác – Lênin và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước ta về phát triển kinh tế, xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Để làm sáng tỏ nội dung đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng tổng hợp
các phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu
6
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ L LUẬN VỀ HỞI IỆN THỤ L VỤ ÁN D N
SỰ C
ẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
1.1.
hái niệm đặc điểm và ý nghĩa của khởi kiện thụ lý vụ án dân sự
có yếu tố nƣớc ngoài
1.1.1. Khái niệm khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài
1.1.1.1. Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài
Khởi kiện VADS có yếu tố nước ngoài trước hết cần hiểu khởi kiện
VADS là việc thực hiện quyền dân sự của các chủ thể yêu cầu Tòa án bảo vệ
quyền dân sự cho mình, cho Nhà nước hoặc cho người khác và là cơ sở để
Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết. Việc xem xét, thụ lý yêu cầu khởi kiện của
cá nhân, cơ quan, tổ chức chính là sự bảo đảm cho đương sự thực hiện được
quyền khởi kiện của mình. Khi yêu cầu khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ
chức đáp ứng đầy đủ các điều kiện về nội dung, hình thức khởi kiện, về tạm
ứng án phí thì Tòa án thụ lý và vụ án dân sự được hình thành.
Ngay từ thời Cổ luật La Mã đã ghi nhận quyền khởi kiện của công dân
La Mã, theo đó, người có quyền lợi bị xâm phạm có quyền khởi kiện đến Tòa
án yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình. Người bị vi phạm có thực hiện quyền
khởi kiện hay không, điều này pháp luật không bắt buộc mà phụ thuộc vào ý
chí của người đó. Trong xã hội ngày nay, khởi kiện là một trong những nhóm
quyền tố tụng thuộc quyền con người. Ở Việt Nam, trên cơ sở quy định của
Hiến pháp, các văn bản khác đã cụ thể hoá và ghi nhận quyền khởi kiện của
đương sự. Cụ thể là quyền khởi kiện được ghi nhận trong các văn bản pháp
luật nội dung và pháp luật tố tụng. Trước khi BLTTDS năm 2004 ra đời, theo
mà Tòa án của nước đó đã hạn chế quyền tố tụng dân sự đối với công dân, cơ
quan, tổ chức Việt Nam, chi nhánh, văn phòng đại diện tại nước ngoài của cơ
quan, tổ chức Việt Nam (khoản 3 Điều 465 BLTTDS năm 2015). Nghĩa là
ngay cả quyền khởi kiện có thể sẽ bị hạn chế nếu Tòa án của người nước
ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt
Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài đã hạn chế quyền tố tụng dân sự đối
với công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam, chi nhánh, văn phòng đại diện tại
nước ngoài của cơ quan, tổ chức Việt Nam.
Như vậy, khởi kiện VADS là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các
chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự yêu cầu Tòa án có
thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác, bảo
8
vệ lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước trong trường hợp lợi ích đó đang bị
xâm phạm hay có tranh chấp với chủ thể khác.
Đối với khái niệm khởi kiện VADS có yếu tố nước ngoài có sự phân
biệt với khái niệm khởi kiện VADS. Ở các nước, quan điểm về “yếu tố nước
ngoài” rất khác nhau. Trong pháp luật và khoa học tư pháp quốc tế các nước
châu Âu, khái niệm “yếu tố nước ngoài” trong VADS có thể là những sự kiện
có thể xảy ra ở nước ngoài, hoặc cũng có thể nơi cư trú nước ngoài, nơi
thường trú hoặc nơi đặt trụ sở kinh doanh của các bên ở nước ngoài. Ở Việt
Nam, trong khoa học pháp lý nói chung và tư pháp quốc tế nói riêng, việc xác
định “yếu tố nước ngoài” là vấn đề quan trọng và ở chừng mực nhất định đã
được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật. Căn cứ vào khoản 2 Điều
464 BLTTDS năm 2015 thì khởi kiện VADS có yếu tố nước ngoài là: hành vi
tố tụng đầu tiên của
n n
n
ế ụ
n n sự đ
ệ
n ợ
ợ
ủ
n
n
. Như vậy, có ba dấu hiệu xác định “yếu tố nước ngoài” trong
quan hệ dân sự là: chủ thể, sự kiện pháp lý phát sinh ở nước ngoài và đối
tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.
1.1.1.2. Khái niệm ụ ý ụ n n sự
ế ố nướ ng
Thụ lý vụ án nói chung và thụ lý vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài nói
riêng không phải là một quyền của chủ thể pháp luật, mà nó là một hoạt động
tố tụng giai đoạn đầu trong thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án. Khái
niệm thụ lý vụ án dân sự hình thành từ rất lâu trong lịch sử lập pháp và có mối
quan hệ biện chứng với quyền khởi kiện của chủ thể pháp luật. Nghĩa là chỉ
khi quyền khởi kiện của chủ thể pháp luật được thực thi thì mới có hoạt động
thụ lý đơn khởi kiện của các cơ quan tiến hành tố tụng. Và ngược lại, chỉ khi
hoạt động thụ lý được thực hiện thì quyền khởi kiện của chủ thể pháp luật
9
mới được thực hiện và quyền lợi hợp pháp của chủ thể mới có khả năng được
đảm bảo.
Trong lịch sử pháp luật Việt Nam thì khái niệm “thụ lý” lần đầu được
ghi nhận tại Luật Gia Long như sau: “Các quan khi nhận đơn thưa kiện phải
làm rõ vụ việc, nhanh chóng thụ lý. Nếu quan bỏ qua sẽ bị trừng phạt căn cứ
ế
đn ủ
ố ụng
1.1.2. Đặc điểm của khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài
Khởi kiện, thụ lý VADS có đặc điểm chung chung được xem là công
cụ hữu hiệu nhất trong toàn bộ các phương thức khác nhau mà xã hội và Nhà
nước dùng để giải quyết các tranh chấp và mâu thuẫn lợi ích đồng thời là hoạt
10
động tố tụng đầu tiên bảo vệ quyền dân sự của chủ thể có quyền hay lợi ích
hợp pháp bị xâm phạm và các chủ thể được pháp luật trao quyền và đây là
tiền đề cho các hoạt động tố tụng tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án
dân sự.
Ngoài ra khởi kiện, thụ lý VADS có yếu tố nước ngoài còn mang
những đặc điểm riêng sau:
- Đ số các VADS có yếu tố nước ngoài thu c th m quy n gi i quyết của
Tòa án c p tỉnh.
Ở Việt Nam, hệ thống Tòa án được tổ chức theo nguyên tắc lãnh thổ
gồm: TAND tối cao, TAND cấp cao, TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương (gọi tắt là Tòa án cấp tỉnh), TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh và tương đương (gọi tắt là Tòa án cấp huyện). Không phải tất cả các Tòa
án đều có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài mà
thẩm quyền này được phân cấp chủ yếu cho Tòa án cấp tỉnh trở lên và cũng
tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm của các vụ việc có yếu tố nước ngoài trong
từng lĩnh vực.
Khi giải quyết các VADS có yếu tố nước ngoài, Tòa án có thể phải
thực hiện ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước
Như vậy, đặc điểm cơ bản của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là
các vụ án có đương sự là người nước ngoài hoặc nếu các đương sự đều là
người Việt Nam thì căn cứ để xác lập thay đổi, chấm dứt quan hệ xảy ra tại
nước ngoài hoặc đối tượng của quan hệ dân sự ở nước ngoài thì trong quá
trình thụ lý, giải quyết đòi hỏi nếu không thực hiện việc ủy thác tư pháp đối
với một số hành vi tố tụng riêng lẻ như tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên
quan đến tương trợ tư pháp về dân sự (công văn, công hàm, thông báo thụ lý,
giấy triệu tập đến Tòa án …), triệu tập người làm chứng, người giám định, thu
thập, cung cấp chứng cứ, các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về dân sự thì
không thể giải quyết được vụ việc.
Đương sự là người nước ngoài gồm hai nhóm chủ thể sau:
+ Nhóm chủ thể là cá nhân là người nước ngoài bao gồm người không
quốc tịch và người có quốc tịch nước ngoài;
+ Nhóm chủ thể là cơ quan, tổ chức nước ngoài và các tổ chức quốc tế
bao gồm các cơ quan, tổ chức không phải là các cơ quan, tổ chức Việt Nam,
được thành lập theo pháp luật nước ngoài và cả các cơ quan, tổ chức quốc tế
được thành lập theo pháp luật quốc tế. Đây là nhóm chủ thể bao gồm tất cả
chủ thể ngoài cá nhân và được thành lập hợp pháp theo pháp luật nước ngoài
và pháp luật quốc tế hiện đại. Bởi thực tế có rất nhiều tổ chức quốc tế tồn tại,
12
hoạt động và được thành lập một cách bất hợp pháp so với pháp luật nước
ngoài và pháp luật quốc tế, ví dụ: các tổ chức khủng bố, buôn lậu vũ khí, ma
túy …
Hoạt động tương trợ tư pháp giữa các quốc gia được thực hiện chủ yếu
thông qua hình thức ủy thác tư pháp. Đây cũng là hình thức được thừa nhận
rộng rãi trong thông lệ quốc tế cũng như trong các hiệp định tương trợ tư pháp
song phương. Ủy thác tư pháp là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, trước khi tiến hành thụ lý để tránh các trường
hợp xung đột thẩm quyền của Tòa án giữa các quốc gia liên quan, các quốc
gia cũng có thể kí kết với nhau những điều ước quốc tế để xác định thẩm
quyền của Tòa án mỗi quốc gia. Do đó ngoài việc Thẩm phán phải nắm vững
luật nội dung cũng như pháp luật tố tụng thì còn cần phải nắm vững và vận
dụng đúng đắn các nguyên tắc giải quyết xung đột về các quan hệ cụ thể, có
kiến thức về tư pháp quốc tế từ đó mới xác định đúng tính chất của vụ việc,
pháp luật áp dụng và đưa ra được quyết định đúng đắn.
1.1.3. Ý nghĩa của khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài
Khởi kiện, thụ lý VADS nói chung là phương thức để các chủ thể có
thể kịp thời ngăn chặn hậu quả của hành vi vi phạm, đồng thời cùng với việc
nộp đơn khởi kiện người khởi kiện còn có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng
ngay biện pháp khẩn cấp tạm thời. Từ đó xác định trách nhiệm giải quyết
VADS của Tòa án trong việc can thiệp kịp thời để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các chủ thể, thiệt hại sớm được khắc phục, ngăn chặn và chấm
dứt hành vi trái pháp luật và sớm khôi phục lại mối quan hệ thiện chí, cởi mở,
giao hòa giữa các bên trong đời sống dân sự. Qua đó thể hiện quan điểm,
đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc đảm bảo quyền cơ bản của con
người, đồng thời góp phần quan trọng trong việc tuân thủ pháp luật trong
TTDS.
Khởi kiện VADS là hành vi đầu tiên của công dân, cơ quan, tổ chức
Việt Nam, tổ chức ngước ngoài tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân
sự, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, tạo tiền đề
cho các hoạt động tố tụng tiếp theo tại Tòa án còn thụ lý VADS chính là cơ sở
pháp lý để Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng, giải quyết vụ án.
Bên cạnh ý nghĩa trên, khởi kiện, thụ lý VADS có yếu tố nước ngoài
còn mang ý nghĩa riêng nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia và của công dân mình
trong giới hạn của luật pháp quốc tế (theo quy định của Công ước
Vienna về quan hệ ngoại giao 1961). Trong bối cảnh toàn cầu hóa nhanh hiện
85 ngày 25 5 1950 thành TAND huyện, TAND tỉnh, TAND liên khu, từ Điều
15 đến Điều 18 Sắc lệnh này quy định về thủ tục tố tụng nhưng không có điều
luật nào quy định cụ thể về thủ tục khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự nói chung
cũng như khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài nói riêng. Sau
15
đó, có thêm các TAND vùng tạm bị chiếm đóng là Tòa án có thẩm quyền
rộng để xét xử kịp thời bọn tội phạm theo Sắc lệnh số 157 SL ngày
17 11 1950 của Chủ tịch nước.
Như vậy, trong giai đoạn này, các Tòa án binh (Tòa án quân sự) được
chú trọng thành lập, nên các quy định tố tụng về khởi kiện, thụ lý vụ án dân
sự có yếu tố nước ngoài chưa được quy định.
1.2.2. Giai đoạn từ 1956 – 1975
Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật tố tụng như Thông tư số
1607 HCTP ngày 24 8 1956 của Bộ tư pháp, Thông tư số 141 HCTP ngày
05 02 1957 và Thông tư số 69 TC ngày 31 15 1958 của Bộ Tư pháp và
TANDTC sửa đổi thẩm quyền của các TAND … nhưng các văn bản pháp luật
tố tụng này chủ yếu chỉ quy định về nguyên tắc giải quyết vụ án dân sự mà
chưa quy định cụ thể về khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài.
Sau khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật tổ chức TAND
năm 1960 ra đời đã có một khối lượng đáng kể các văn bản hướng dẫn thủ tục
giải quyết các tranh chấp về dân sự, đặc biệt là thủ tục giải quyết ly hôn.
Trong giai đoạn này đáng chú ý nhất phải kể đến Thông tư số 39 NCPL ngày
21 01 1972 của TANDTC hướng dẫn việc thụ lý, di lý, xếp và tạm xếp những
việc kiện về hôn nhân và gia đình, tranh chấp về dân sự.
Thông tư số 09 TATC ngày 28 6 1974 của TANDTC hướng dẫn các vụ
ly hôn ở vùng biên giới Việt – Trung quy định Tòa án cấp huyện có thẩm
quyền thụ lý, giải quyết. Đối với những vụ án phức tạp phải vận dụng nhiều
1.2.4. Giai đoạn từ 1989 – 2003
Giai đoạn này Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật TTDS
như: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29 11 1989, Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16 3 1994, Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các tranh chấp lao động ngày 11 4 1996. Đây là những văn bản
pháp luật quan trọng có ý nghĩa rất lớn về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
có nhân tố nước ngoài (giai đoạn này sử dụng thuật ngữ “có nhân tố nước
ngoài”) trong thời kỳ này. Đặc biệt là vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự
có nhân tố nước ngoài cũng đã được quy định trong các văn bản pháp luật
này, tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các vụ án dân sự có nhân tố nước
ngoài.
Các văn bản pháp luật TTDS được ban hành trong thời gian này mặc
dù đã quy định về thủ tục khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự có nhân tố nước
ngoài. Tuy nhiên các quy định còn mang tính chất chung chung, thiếu cụ thể,
17
chưa quy định rõ thời hạn Tòa án phải xem xét giải quyết đơn nên chưa đề
cao được trách nhiệm của Tòa án. Mặt khác, về bản chất, tranh chấp kinh tế
và lao động đều bắt nguồn từ tranh chấp dân sự nhưng thủ tục giải quyết được
quy định bởi 03 Pháp lệnh khác nhau, việc phân biệt thủ tục giải quyết đôi khi
gặp phải không ít khó khăn và nhầm lẫn.
Nhìn chung đây là giai đoạn tương đối phát triển của TTDS nói chung
và quy định về khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài nói riêng
với việc ban hành các Pháp lệnh nêu trên. Đây cũng là giai đoạn mà Nhà nước
ta ký được nhiều Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và hôn nhân và gia
đình (09 Hiệp định tương trợ tư pháp và 01 Nghị định thư bổ sung Hiệp định
tương trợ tư pháp với các nước).
1.2.5. Giai đoạn từ 2004 – 2014
của đương sự ở nước ngoài thì có thể yêu cầu Tòa án Việt Nam hoặc cơ quan
có thẩm quyền tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, tuyên bố đương sự
mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật
nước ngoài hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên; Sửa đổi, bổ sung các quy định về quyền, nghĩa vụ tố tụng, năng
lực pháp luật TTDS và năng lực hành vi TTDS của người nước ngoài, cơ
quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ
quan, tổ chức nước ngoài và tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức
quốc tế tại Việt Nam, Nhà nước nước ngoài; Sửa đổi quy định về thẩm quyền
chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố
nước ngoài theo hướng quy định đầy đủ, cụ thể hơn, đảm bảo đáp ứng được
yêu cầu hội nhập của đất nước, phù hợp với cam kết của Việt Nam và thông
lệ quốc tế; Quy định mới, đặc thù về thủ tục thông báo việc thụ lý, ngày mở
phiên họp, phiên tòa …
Như vậy, qua nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển các quy định
của pháp luật về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài trong
tố tụng dân sự, chúng ta có thể thấy các quy định về khởi kiện vụ án dân sự
không phải là những quy định mới mà có sự kế thừa và phát triển lâu dài theo
triến trình lịch sử xây dựng pháp luật Việt Nam. Các quy định về khởi kiện và
thụ lý vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài ngày càng cụ thể, đầy đủ, góp phần
vào việc giải quyết nhanh chóng, đúng đắn các tranh chấp, bảo đảm sự ổn
định xã hội và đoàn kết trong nhân dân.
19
ẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Chương 1 Luận văn đã phân tích, luận giải được một số vấn đề lý luận
về khởi kiện, thụ lý VADS có yếu tố nước ngoài như khái niệm, đặc điểm, ý
nghĩa của khởi kiện VADS có yếu tố nước ngoài, khái niệm, đặc điểm, ý