NGHIÊN CỨU DIỄN BIẾN LÒNG DẪN SÔNG HỒNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CÔNG TRÌNH CHỈNH TRỊ ỔN ĐỊNH KHU VỰC CỬA VÀO SÔNG ĐÁY - Pdf 53

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI

PHẠM XUÂN ĐỨC

NGHIÊN CỨU DIỄN BIẾN LÒNG DẪN SÔNG HỒNG
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CÔNG TRÌNH CHỈNH TRỊ
ỔN ĐỊNH KHU VỰC CỬA VÀO SÔNG ĐÁY

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội - 2012


2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI

PHẠM XUÂN ĐỨC

NGHIÊN CỨU DIỄN BIẾN LÒNG DẪN SÔNG HỒNG
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CÔNG TRÌNH CHỈNH TRỊ
ỔN ĐỊNH KHU VỰC CỬA VÀO SÔNG ĐÁY

Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy

đình và bạn bè để tác giả có thể hoàn thành luận văn.
Do thời gian và trình độ có hạn nên luận văn không thể tránh được những
thiếu sót nên tác giả rất mong nhận được ý kiến chia sẻ, đóng góp của các thầy cô,
bạn bè đồng nghiệp để luận văn đáp ứng được những mục tiêu đề ra.
Hà Nội, tháng 03 năm 2012
Tác giả luận văn

Phạm Xuân Đức
.

---------------------------------------------------------------------------------------------Học viên: Phạm Xuân Đức
CH18C21


MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU ........................................................................................6
DANH MỤC HÌNH VẼ ..............................................................................................6
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI .......................................................................1
II. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI ................................................................................2
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................................................................2
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ CHỈNH TRỊ ĐOẠN SÔNG CÓ CỬA SÔNG
NHÁNH
3
1.1. TỔNG QUAN VỀ LÝ LUẬN .........................................................................3
1.2. CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TẾ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC...4
1.2.1. Ngoài nước ...............................................................................................4
1.2.2. Trong nước ...............................................................................................6
1.3. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐOẠN SÔNG HỒNG QUA CỬA

2.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG .................................................................................53
CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH MIKE 21 FM, XÂY DỰNG MÔ HÌNH
MÔ PHỎNG THỦY LỰC ĐOẠN SÔNG HỒNG KHU VỰC CỬA ĐÁY ............54
3.1. LỰA CHỌN VÀ GIỚI THIỆU MÔ HÌNH ...................................................54
3.2. ỨNG DỤNG MÔ HÌNH MIKE 21FM-ST XÂY DỰNG MÔ HÌNH MÔ
PHỎNG ĐOẠN SÔNG HỒNG – CỬA ĐÁY .....................................................55
3.2.1. Mô hình thủy lực 1 chiều mạng sông Hồng........................................56
3.2.2.

Điều kiện biên mô hình đoạn sông Hồng khu vực cửa Đáy ...............62

3.2.3.

Thiết lập mô hình tính toán Mike 21FM-ST cho đoạn sông Hồng khu

vực cửa Đáy ......................................................................................................64
3.2.4.

Kiểm định và thiết lập thông số mô hình ............................................66

3.2.5.

Nghiên cứu hiện trạng đoạn sông Hồng khu vực cửa Đáy với cấp lưu

lượng tạo lòng ...................................................................................................68
3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG .................................................................................71
CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHỈNH TRỊ CHO ĐOẠN SÔNG HỒNGCỬA ĐÁY.................................................................................................................72
4.1 XÁC LẬP TUYẾN CHỈNH TRỊ CHO ĐOẠN SÔNG HỒNG – CỬA ĐÁY
...............................................................................................................................72
4.1.1. Những yêu cầu cơ bản ............................................................................72

---------------------------------------------------------------------------------------------Học viên: Phạm Xuân Đức
CH18C21


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2. 1: Đặc trưng lưu lượng lũ (đơn vị: m3/s)
23
Bảng 2. 2: Thành phần lượng lũ 8 ngày lớn nhất (%) các sông nhánh so với Sơn
Tây
25
Bảng 2. 3: Lưu lượng đỉnh lũ ứng với các tần suất khi có hồ Hoà Bình,Thác Bà, 28
Bảng 2. 4: Kết quả tính toán tần suất mực nước ngày giai đoạn 1999-2008 tại các
trạm thuỷ văn không ảnh hưởng triều ĐBBB
30
Bảng 2. 5: Biến đổi các MN đặc trưng qua các giai đoạn
31
Bảng 2. 6: Mực nước ứng với các cấp Q qua 4 thời kỳ tại Sơn Tây
32
Bảng 2. 7: Mực nước H (cm) ứng với các cấp lưu lượng qua 4 thời kỳ tại Hà Nội 33
Bảng 2. 8: Mực nước H (cm) ứng với các cấp lưu lượng
35
Bảng 2. 9: Diễn biến lòng sông đoạn sông Hồng khu vực cửa Đáy từ năm 1976 –
2003
44
Bảng 3. 1: Chỉ tiêu S/σ của các trận lũ tính toán
58
Bảng 3. 2: Tần suất phòng chống lũ cho Hà Nội và đồng bằng sông Hồng
62
Bảng 3. 3: Kết quả tính Q và H sông Hồng đoạn Hà Nội theo Quy trình vận hành
các hồ

Hình 2. 2: Quan hệ Q~H trạm Sơn Tây
33
Hình 2. 3: Quan hệ Q~H trạm Hà Nội
34
Hình 2. 4: Bản đồ xói lở bồi tụ lòng dẫn khu vực Sơn Tây - Đan Phượng giai đoạn
1965 - 1987
39
Hình 2. 5: Bản đồ xói lở - bồi tụ lòng dẫn khu vực Sơn Tây – Đan Phượng
41
Hình 2. 6: Sơ đồ các mặt cắt khảo sát đoạn sông Hồng, cửa Đáy.
43
Hình 2. 7: Diễn biến đáy lòng sông đoạn sông Hồng từ cửa Đáy tới Trung Hà 43
Hình 2. 8: Diễn biến mặt cắt ngang sông Hồng 6,7,8 và 9
48

---------------------------------------------------------------------------------------------Học viên: Phạm Xuân Đức
CH18C21


Hình 3. 1: Sơ đồ tính toán thủy lực mạng sông
59
Hình 3. 2: Quá trình thực đo và tính toán theo phương pháp diễn toán lũ sóng động
học
60
Hình 3. 3: Quá trình thực đo và tính toán theo phương pháp diễn toán lũ sóng động
học
61
Hình 3. 4: Lưới và địa hình tính toán đoạn sông Hồng từ Sơn Tây đến Chèm
66
Hình 3. 5: Đường quá trình lưu lượng lũ trên sông Hồng khu vực cửa vào sông Đáy

Hình 4. 4: Hướng dòng chảy trên sông Hồng khu vực cửa Đáy
Hình 4. 5: Hệ thống công trình chỉnh trị đoạn sông Hồng khu vực cửa Đáy
Hình 4. 6: Mặt bằng, mặt cắt dọc kè mỏ hàn.
Hình 4. 7: Kết cấu mặt cắt ngang kè mỏ hàn.
Hình 4. 8: Kết cấu kè gia cố bờ dạng mái nghiêng được
Hình 4. 9: Mặt bằng đoạn kè mái nghiêng
Hình 4. 10: Vị trí đặt công trình chỉnh trị trên mô hình
Hình 4. 11: Mặt cắt 1
Hình 4. 12: Vận tốc dòng chảy tại mặt cắt 1
Hình 4. 13: Mặt cắt 2
Hình 4. 14: Vận tốc dòng chảy tại mặt cắt 2
Hình 4. 15: Mặt cắt 3
Hình 4. 16: Vận tốc dòng chảy tại mặt cắt 3
Hình 4. 17: Mặt cắt 4
Hình 4. 18: Vận tốc dòng chảy tại mặt cắt 4

79
82
84
85
88
91
92
96
96
102
103
103
103
103

104
104
105
105
106
108
109
109
109
109
109
109
110
110
110
110
110
110
112
114

---------------------------------------------------------------------------------------------Học viên: Phạm Xuân Đức
CH18C21


1

MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Dự án cải tạo làm sống lại sông Đáy do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông

nghiên cứu và giải quyết một vấn đề thực tế trên các cơ sở khoa học và tiếp cận với
các giải pháp công nghệ phù hợp.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu quy luật diễn biến lòng dẫn sông Hồng khu vực cửa lấy nước
vào sông Đáy mới được tái lập.
- Đề xuất giải pháp chỉnh trị lòng dẫn sông Hồng chống bồi lấp cửa lấy nước
vào sông Đáy tại Vân Cốc - Phúc Thọ - Hà Nội.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Do điều kiện thời gian không cho phép và các điều kiện nghiên cứu cần thiết
khác về lĩnh vực chỉnh trị sông học viên chỉ tập trung vào nghiên cứu những cơ sở
khoa học chính và đề xuất những giải pháp thật cơ bản để ổn định lòng dẫn. Phương
pháp nghiên cụ thể là:
- Phương pháp xử lý và thống kê thuỷ văn.
- Phương pháp mô hình toán: Sử dụng mô hình hình thái Mike 21FM-ST tính
toán cho đoạn sông nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích hệ thống: Tính toán sạt lở được xem xét trên quan
điểm phân tích hệ thống, sự tương tác giữa dòng chảy, điều kiện địa chất lòng dẫn,
hình thành lòng sông và tác động của con người.v...v.. gây nên diễn biến lòng dẫn.

---------------------------------------------------------------------------------------------Học viên: Phạm Xuân Đức
CH18C21


3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHỈNH TRỊ ĐOẠN SÔNG
CÓ CỬA SÔNG NHÁNH
1.1. TỔNG QUAN VỀ LÝ LUẬN
Chỉnh trị cửa sông nhằm “điều chỉnh” các quy luật của tự nhiên để phục vụ
lợi ích của con người luôn luôn là một vấn đề phức tạp và là thách thức đối với các


1.2. CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TẾ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.2.1. Ngoài nước
1.2.1.1. Về vấn đề chỉnh trị sông, ổn định cửa vào phân lưu
- Về vấn đề chỉnh trị sông phân lưu : Là vấn đề thuộc lĩnh vực kỹ thuật chỉnh
trị sông có liên quan đến giải pháp chặn dòng, cắt dòng, chuyển dòng hoặc làm sống
lại một con sông đã "chết" do bị chặn dòng và có liên quan đến giải pháp ổn định
cửa phân lưu, nghiên cứu các tài liệu của các nước trên thế giới cho thấy:
Tại Mỹ: Các nhà khoa học Hoa Kỳ đã khuyến cáo chính phủ cần có chính
sách để khôi phục trạng thái tự nhiên của các dòng sông đã bị chặn. Thực tế, việc
phục hồi các dòng chảy đã trở thành một thành phần quan trọng của chính sách
công cộng vì các con sông. Việc khôi phục dòng sông phụ thuộc vào sự thay đổi
quy luật hoạt động của các đập để chúng gần với chế độ dòng chảy tự nhiên hơn.
Trong các năm 1950-1960, người Mỹ đã mắc một sai lầm khi chuyển một phần lưu
lượng của một dòng nhánh sông Colorado thông qua việc xây dựng đập Glen
Canyon để lấy nước cấp cho một thành phố thuộc bang Colorado làm cho điều kiện
tự nhiên và môi trường của nhánh sông này bị mất cân bằng. Mức độ ảnh hưởng
nghiêm trọng đến nỗi sau 20 năm người ta đã phải điều chỉnh, khôi phục lại dòng
sông cũ, trả lại chế độ dòng chảy ban đầu.
Tại Liên xô (cũ): Việc chỉnh trị, khai thác, mở thêm hoặc bịt đi một số nhánh
sông của Amuadaria và Sưdaria ở miền Trung Á–Liên Xô trước đây cũng đã phải
trả giá, ở rất nhiều khu vực trước đây màu mỡ nay đã trở thành sa mạc. Khu vực
thượng lưu Sưdaria trước đây có rất nhiều các khu dân cư sầm uất, các bến cảng sôi
động, các khu nghỉ mát nổi tiếng nhưng đến nay khi dòng chảy không còn, những
hoạt động kinh tế và dân sinh cũng mất theo.
- Vấn đề về ổn định sông khu vực cửa vào phân lưu:
Việc đặt cửa để lấy nước trên các dòng sông theo kiểu lấy nước tự chảy (kiểu
trọng lực) như cống lấy nước hay kiểu lấy nước không tự chảy (kiểu động lực) như
trạm bơm đều đòi hỏi phải có sự nghiên cứu thấu đáo. Nếu không, sau này khi vận
hành công trình sẽ gặp khó khăn, bị lãng phí tốn kém và không hiệu quả. Vị trí cửa

- Nghiên cứu trên mô hình vật lý kết hợp với các thiết bị đo đạc, phân tích số
liệu thí nghiệm cũng hiện đại hơn.
- Phương pháp đánh dấu bùn cát.
1.2.1.3. Về vấn đề tuyến đê hợp lý
Tuyến đê hợp lý thường được xác định sau khi có tuyến chỉnh trị sông ổn
định.

---------------------------------------------------------------------------------------------Học viên: Phạm Xuân Đức
CH18C21


6

Tham khảo tài liệu các nước như Pháp, Hà Lan, Liên Xô (cũ), Trung Quốc,
Hàn Quốc...về tuyến đê phải đảm bảo vùng thoát lũ và tình hình dân sinh - kinh tế
khu vực sông chạy qua để định tuyến đê, các tác giả phân tích:
- Trường đê bố trí xa sông: do đê bảo vệ khu dân cư đông đúc, đê cần phải
đủ xa để bảo đảm "vùng thoát lũ" của sông như Hình 1.1 thể hiện
Đê

Lòng sông

Vùng thoát lũ
Đê

Hình 1. 1 : Đê bố trí xa sông
Đê xa sông, xói bờ thường xảy ra tại các đỉnh cong, bên trong vùng thoát lũ,
mà không uy hiếp đến đê. Hệ thống này tương xứng với sự cân bằng của sông, giảm
thiệt hại do sạt lở bờ. Trường hợp nay thích hợp với các vùng hai bờ sông là đất
canh tác nông nghiệp, thiệt hại cũng chỉ ảnh hưởng đến nông nghiệp.

Nguyên nhân là do đoạn sông đặt trạm bị xói lở mạnh trên một đoạn dài trong đó có
khu vực đặt trạm bơm. Nếu đoạn sông có biến động bồi thì của lấy nước trên đoạn
sông đó sẽ bị bồi lấp làm khó khăn hoặc không thể lấy được nước. Dạng bồi lắng
cửa lấy nước do diễn biến sông sẽ cực kỳ nan giải khi khắc phục. Nhiều trường hợp
phải đóng cửa lấy nước vĩnh viễn hoặc định kỳ. Đầu tư cho việc khắc phục dạng bồi
lắng này là vô cùng to lớn. Trường hợp trạm bơm Phong Vân là ví dụ. Do diễn biến
đoạn sông vùng ngã ba Thao Đà bãi Phong Vân luôn biến động đã di chuyển tới lấp
kín cửa lấy nước trong một thời gian rất dài. Trạm bơm Phong Vân đã phải treo
máy. Còn rất nhiều các trường hợp khác, bồi lắng do diễn biến sông đã ảnh hưởng
rất lớn tới hoạt động của các cửa lấy nước.
1.2.2.2.Tổng quan về phân lưu sông Đáy
Vị trí của sông Đáy trong Hệ thống sông Hồng - Thái Bình xem Hình 1.3.
Trước năm 1934, sông Đáy là phân lưu tự nhiên của sông Hồng. Đó là một
trong những nhánh thoát lũ chính của sông Hồng trước đây. Giai đoạn từ 1934 đến
1937 người Pháp xây dựng đập Đáy ngăn dòng sông tự nhiên này. Từ đó đập Đáy
chỉ được mở khi lũ sông Hồng lớn để phân lũ vào sông Đáy nhằm hạ thấp mực
nước sông Hồng cứu nguy cho Thủ đô Hà Nội và vùng hạ lưu sông Hồng. Với mục
đích như trên từ khi có đập Đáy, sông Đáy không còn mang tính chất của một sông
phân lưu tự nhiên nữa. Sông Đáy không còn lượng nước thường xuyên dồi dào nhập
vào từ sông Hồng. Nguồn nước chính của sông Đáy chỉ là nước nội tại tập trung
trên lưu vực nhỏ của các nhánh sông Tích, sông Bùi, sông Nhuệ, sông Hoàng Long.
Vì vậy lượng nước mùa kiệt của sông Đáy rất thiếu không đủ cung cấp cho các yêu

---------------------------------------------------------------------------------------------Học viên: Phạm Xuân Đức
CH18C21


8

cầu dùng nước, nhất là cho sản xuất nông nghiệp của các tỉnh Hà Nội, Hà Nam,

mùa lũ. Do đó cuộc sống của người dân trong vùng rất khó khăn, kinh tế xã hội
chậm phát triển.
Trước khi có các hồ Hòa Bình, Sơn La, Tuyên Quang phân lũ vào sông Đáy
đảm bảo an toàn cho Hà Nội là điều bắt buộc. Sau khi có các hồ điều tiết, nhiệm vụ
cắt lũ của sông Đáy cần được điều chỉnh lại. Từ năm 2004 Bộ NN&PTNT đã thực
hiện dự án cải tạo lại cửa vào sông Đáy và lòng sông Đáy. Mục tiêu của dự án là
cung cấp thêm một lượng dòng chảy vào sông Đáy vào mùa kiệt, làm sống lại các
đoạn sông Đáy và vẫn duy trì chức năng phân lũ của sông Đáy và công trình phân
lũ đập Đáy. Hạng mục chính của dự án là: Cống lấy nước Cẩm Đình (mới) của sông
Đáy. Ngoài ra có các hạng mục là: Kênh dẫn thượng lưu từ sông Hồng tới cống.
Kênh dẫn cống Cẩm Đình (mới) tới Hiệp Thuận (bên cạnh Đập Đáy) và cải tạo các
mặt cắt ngang lòng sông Đáy cho mục đích cấp nước mùa kiệt và thoát lũ khi phân
lũ. Như vậy sông Đáy và công trình đầu mối cống Cẩm Đình và đập Đáy sẽ có hai
nhiệm vụ chính là: cung cấp thêm nước vào mùa kiệt cho sông Đáy và nhiệm vụ
nguyên gốc của nó là phân lũ.
1.3. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐOẠN SÔNG HỒNG QUA CỬA
ĐÁY
Đối với sông Đáy nói riêng và hệ thống sông Hồng - Thái Bình nói chung có
rất nhiều đề tài nghiên cứu và dự án của các cơ quan như Viện Khoa học Thuỷ lợi
Việt Nam, Trường Đại học Thuỷ lợi, Viện Quy hoạch Thuỷ lợi, Cục Quản lý đê

---------------------------------------------------------------------------------------------Học viên: Phạm Xuân Đức
CH18C21


10

điều và PCLB, Viện Khi tượng Thuỷ văn...
Những công trình của các cơ quan:
Viện khi tượng thuỷ văn (2001): Trong đề tài "Đánh giá khả năng phân chậm

thiết kế với lưu lượng tối đa là 2500 m3/s.

---------------------------------------------------------------------------------------------Học viên: Phạm Xuân Đức
CH18C21


12

- Xây dựng cống đầu mối phân lũ mới thay thế Đập Đáy (bên cạnh cống lấy
nước mùa kiệt) chiều rộng B=88m, Zđ=9,0m. Cống mới có thể phân lũ từ sông
Hồng vào sông Đáy với Qmax = 2500m3/s.
- Cải tạo kênh dẫn đi theo tuyến Cẩm Đình - Hiệp Thuận với chiều rộng
150m, đáy đầu kênh ở cao trình +2,0m và cuối kênh +1,0m. Hai tuyến đê dọc theo
hai kênh dẫn có khoảng cách khoảng 500m.
- Hệ thống sông Đáy sau khi cải tạo sẽ được sử dụng đưa nước thường xuyên
từ sông Hồng vào sông Đáy với lưu lượng mùa kiệt tăng từ 36 lên 106m3/s, lưu
lượng thường xuyên mùa lũ là 800 m3/s.
- Cải tạo và kênh hoá sông Đáy từ Đập Đáy đến Ba Thá với bề rộng 150m,
Zđ tại hạ lưu Đập Đáy +1,0m; Ba Thá -2,5m. Xây dựng tuyến đê mới có khoảng
cách giữa hai đê là 500m. Lên đê bảo vệ không cho ngập vùng Chương Mỹ, Mỹ
Đức và Kim Bảng.
Trường Đại học Thuỷ lợi (2009): Trong đề tài độc lập cấp nhà nước "Nghiên
cứu CSKH cho việc xoá các khu chậm lũ sông Hồng, sông Đáy và sông Hoàng
Long" [2], tháng 12/2009 có những kết luận:
- Sau khi có thêm hồ chứa Sơn La, với lũ chu kỳ 500 năm có thể xoá bỏ các
khu chậm lũ sông Hồng, sông Đáy và không cần phân lũ vào sông Đáy. Nhưng nếu
không phân lũ vào sông Đáy thì thời gian duy trì mực nước cao ở Hà Nội kéo dài
trong nhiều ngày có thể sẩy ra sự cố vỡ đê, nên vẫn cần phải phân lũ vào sông Đáy
chỉ không đưa nước vào các khu chậm lũ Chương Mỹ và Mỹ Đức.
- Giải pháp đưa nước vào sông Đáy kết hợp với phương án tạo dòng chảy

Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam (2010): Trong đề tài NCTX "Nghiên cứu
biến động lòng dẫn sông Hồng và đề xuất các giải pháp ổn định khu vực cửa vào
sông Đáy mới được tái lập" [21] sẽ hoàn thành trong năm 2010 với mục tiêu:
Nghiên cứu quy luật biến động lòng dẫn và đề xuất phương pháp chỉnh trị
sông - ổn định lòng dẫn sông Hồng khu vực cửa lấy nước vào sông Đáy.
Do kết quả của đề tài bước đầu được đánh giá tốt nhưng ở cấp đề tài NCTX
nhiều nội dung nghiên cứu vẫn chưa tiến hành được, VKHTL đã đề xuất nghiên cứu
nâng cao hơn trong đề tài cấp Bộ.
1.4. VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU
1.4.1. Vấn đề đặt ra
Từ những công trình nghiên cứu trên thấy rằng: đối với vấn đề hệ thống
sông Hồng nói chung và sông Hồng khu vực cửa vào sông Đáy trong bối cảnh khi
chưa có các hồ chứa thượng du và ngày nay đã có các liên hồ thượng du thì điều

---------------------------------------------------------------------------------------------Học viên: Phạm Xuân Đức
CH18C21


14

kiện biên tại cửa vào sông Đáy đã khác nhau nhiều. Trong chiến lược phòng chống
lũ Đồng bằng sông Hồng có 5 giải pháp liên hoàn là:
1) Phòng hộ đê toàn hệ thống.
2) Cắt lũ bằng các hồ chứa thượng nguồn.
3) Phân lũ qua các công trình phân lũ sông Đáy.
4) Chậm lũ: có 4 khu chậm lũ trên toàn hệ thống.
5) Tăng khả năng thoát lũ của lòng dẫn.
Trong 5 giải pháp, giải pháp cắt lũ được chú ý đầu tư nhiều nhất bằng việc
xây dựng các hồ chứa thượng nguồn như hồ Thác Bà (1971), hồ Hoà Bình (1988),
hồ Tuyên Quang (2007), hồ Sơn La (2012)…Nếu như tần suất phòng chống lũ

- Đã có nhiều công trình nhiều nghiên cứu về sông Hồng và sông Đáy trong
nhiều năm qua, nhưng do yêu cầu mới đối với việc lấy nước vào sông Đáy trong các
bối cảnh khác nhau, nên việc xác định điều kiện biên theo các kịch bản mùa lũ và
mùa kiệt khác nhau nhiều;
- Về khu vực sông Hồng qua cửa Đáy, chưa có để tài, dự án nào nghiên cứu
giải pháp chỉnh trị sông Hồng, chống bồi lấp của Đáy, ổn định khu vực cửa vào
sông Đáy mới được tái lập;
- Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về giải pháp chỉnh trị lòng dẫn
sông Hồng khu vực cửa Đáy, chưa đi sâu phân tích về quy luật diễn biến lòng sông
Hồng, giải pháp chỉnh trị sông Hồng tạo thuận lợi cho việc lấy nước vào sông Đáy;
Để giải quyết các vấn đề về sông Đáy, phải giải quyết hai vấn đề chính là sự
ổn định lòng dẫn sông Hồng qua cửa vào sông Đáy và ổn định lòng dẫn sông Đáy.
Trong khuôn khổ luân văn sẽ tập trung đến vấn đề ổn định cửa vào sông Đáy, vị trí
này nằm trên sông Hồng và không đề cập đến vấn đề ổn định lòng dẫn sông Đáy.
Nội dung luận văn sẽ bao gồm:
- Nghiên cứu chế độ thuỷ động lực và diễn biến đoạn sông Hồng qua cửa
Đáy;
- Ứng dụng mô hình 21 FM-ST, xây dựng mô hình thuỷ lực mô phỏng diễn
biến đoạn sông Hồng khu vực của đáy;
- Đề xuất giải pháp chỉnh trị chủ yếu cho đoạn sông Hồng khu vực cửa Đáy
và một phần về giải pháp chống bồi lắng kênh dẫn vào cửa lấy nước Cẩm Đình.

---------------------------------------------------------------------------------------------Học viên: Phạm Xuân Đức
CH18C21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status